NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao

Một Thuở Kaki

 

Phan Nhật Nam Dựa Lưng Nỗi Chết

(Đào Vũ Anh Hùng



Phan Nhật Nam

Lần cuối cùng, tôi gặp Phan Nhật Nam, vào một sáng Chủ nhật, đâu khoảng hơn tháng trước ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản. Nam đang đứng nói chuyện với nhà văn Vũ Bằng và nhà văn Mặc Thu trên lề đường trước nhà ông Chu Tử và vợ chồng Đằng Giao, 104 đường Công Lý. Thấy Nam trẻ trung tươi sáng trong bộ quân phục Nhảy Dù vải kaki vàng thẳng cứng nếp hồ với đầy đủ lon lá, huy chương và sợi giây Bảo Quốc rực rỡ, tôi thoáng ngạc nhiên vì lần gặp gỡ trước Nam đã nói với tôi rằng vừa giải ngũ. Tôi hỏi đùa:
- Bạn tôi quân cách rềnh ràng đi lãnh thưởng?
Tôi có ý trêu Nam về số tiền một triệu ông Chu Tử đề nghị báo Sóng Thần tặng Nam về tác phẩm "Tù Binh Và Hoà Bình" để bỉ thử giải Văn học Nghệ thuật bần tiện của Thiệu. Nam cười lớn:
- Cái giải thưởng của bố già cậu sài mẹ nó hết rồi, có cụ Vũ Bằng biết đấy!
Rồi Nam tự giải thích khi thấy tôi hóm hỉnh nhìn Nam với bộ quân phục:
- Cậu Nam giải ngũ nhưng cậu Nam vẫn là lính Nhảy Dù hợp lệ! Nhưng mà giải ngũ rồi chán quá mi ơi. Buồn cóc biết làm gì và thèm mặc lại quân phục?
Xong Nam dịu giọng nói như than thở:
- Có lẽ tao lại phải làm đơn xin tái ngũ. Giải ngũ mà tao có cảm tưởng xấu hổ như một thằng đào ngũ!
Tôi có chuyện cần, vội gặp ông Chu Tử nên không nán lại góp chuyện với ba người và tìm hiểu chuyện Nam giải ngũ là đùa hay thật. Tôi chào và leo lên gác. Lúc trở xuống thì Nam đã không còn đấy nữa, và đó là lần cuối cùng tôi gặp Phan Nhật Nam, cho đến ngày di tản và cho đến bây giờ.
Gặp Nguyên Vũ ở Fort Chaffee, gặp Lê Văn Mễ và một số bạn trong và ngoài binh chủng Nhẩy Dù thân biết Phan Nhật Nam, tôi đều hỏi thăm và rõ chắc Nam cùng vợ con kẹt lại. Tôi rất buồn và lo lắng cho Nam cùng các bạn văn không di tản được. Nhưng tôi nghĩ nhớ và lo lắng cho số phận Phan Nhật Nam nhiều nhất. Là bởi, lần ra Hà Nội quan sát vụ trao trả tù binh, Nam đã ngông nghênh ôm theo cả một lô sách "Mùa Hè Đỏ Lửa" ký tặng các văn nghệ sĩ miền Bắc. Đó là tác phẩm để đời của nhà văn chiến trường số Một của miền Nam viết về cuộc chiến khốc liệt mùa hè 72, đầy rẫy lời thống mạ chủ nghĩa và tập đoàn lãnh đạo miền Bắc, phơi bầy thực chất phi lý bi thảm của cuộc nội chiến và toàn vẹn bộ mặt bất lương đốn mạt của "anh Hồ cộng sản" - thứ "nhân tài chết tiệt của dân tộc" - mà Nam đem đến tận nơi, dí vào mắt chúng. Tôi thật phục Nam. Tôi vẫn muốn có dịp hỏi thăm Nam về chuyến theo phái đoàn Ủy ban Liên hiệp Quân sự ra Hà Nội và khi trở về, Nam đã viết cuốn "Tù Binh và Hoà Bình" mà tôi chưa được đọc.
Đối với tôi, Nam đã chiếm giữ một cảm tình đặc biệt. Tôi yêu cái văn chương bốc lửa của Nam, thích cái con người ngang tàng ngạo nghễ của Nam. Kỷ niệm tôi có với Phan Nhật Nam không nhiều nhưng đủ để tôi và Nam coi nhau như bạn thiết. Tôi đọc tác phẩm đầu tay của Nam, cuốn "Dấu Binh Lửa" nhân một kỳ nghỉ dưỡng sức trên Đà Lạt và đã say mê cuốn hút, cảm phục văn tài, vô cùng thú vị với những dòng thể hiện sống động mạnh mẽ, hiên ngang, đậm sũng tình người, chứa chan lòng yêu quê hương đất nước... Phan Nhật Nam, ngôi sao mới hiện nhưng đã chói lọi trong giới quân nhân cầm bút. Nam hiện thực đời mình, phổ diễn tâm tình, cảm nghĩ của một người vững chắc lập trường quốc gia nhân bản, hiện thực tấn thảm kịch đầy bi phẫn đau thương của cả một thế hệ trong đó có Nam vừa thủ diễn vừa là chứng giả. Nam đã nói lên được tiếng lòng thầm kín cùng khát vọng chung của những người cầm súng. Nam là gạch nối giữa những người lính chiến và dân thành thị. Nhờ có tác phẩm của Phan Nhật Nam, dân thành phố ngụp lặn trong bình yên hưởng thụ mới giật mình biết đến và biết rõ mức độ thảm khốc của chiến tranh, cùng sự hy sinh quá lớn của người lính. Điều rõ rệt nhất là Nam đã nói lên được cho nhân loại hiểu về cái chính nghĩa của cuộc đấu tranh để tự tồn. Rằng những người lính Việt Nam Cộng Hoà cầm súng và chiến đấu không phải vì bản năng hiếu sát hay yêu thích chiến tranh, mà là chiến đấu để tồn tại. Cho chủ nghĩa Quốc gia tồn tại và nền Tự do Dân chủ của miền Nam tồn tại.
Trong các thiên bút ký chiến trường, Phan Nhật Nam đã tả được độ cao cùng tột của chiến tranh tàn khốc, hiện thực được cả một trời đất mênh mang thống hận trong lòng người dân Việt trước cảnh tương tàn đẫm máu, đã vẽ ra một thiện thân sừng sững của người lính Nhảy Dù chiến đấu hào hùng và chết rất hào hùng. Những đời trai trẻ quên bỏ hạnh phúc, tình yêu, tương lai, sự nghiệp cùng những vui riêng để bước vào chốn cùng hung cực hiểm, đầy rẫy gian lao khổ nhọc và bị vô ơn bạc đãi nhưng vẫn lầm lì chịu đựng và dũng cảm xông pha trận mạc, trực diện kẻ thù, đổ mồ hôi, xương máu lao thẳng vào đạn lửa, phóng mình vào nỗi chết cho giải đất miền Nam được tồn tại và người dân miền Nam được sống còn.
Phan Nhật Nam là một nhà văn có chân tài. Ngôn ngữ xử dụng trong văn chương Phan Nhật Nam là thứ ngôn ngữ hừng hực như lửa, mạnh mẽ như gió bão, vững chắc như thành đồng, tha thiết, nồng nàn, chứa chan nhân tính...
Tôi gặp Nam lần đầu do Thế Phong đưa lại chơi nhà Nam ở đường Trần Nhật Duật, Tân Định. Nhưng biết nhiều về Nam thì qua bạn cùng khoá với Nam là Võ Ý. Tôi nhớ lần đó Nam nói khoái tôi vì bài bút ký "Dakseang Gối Mỏi Lưng Đồi" tôi viết trên tuần báo Đời và ký tặng tôi cuốn "Mùa Hè Đỏ Lửa" với vỏn vẹn mấy chữ Tặng ông, bạn tôi làm Thế Phong cười ngất:
- Nó là nhà văn đang lên, sách bán có tiền nên hà tiện chữ nghĩa cho bạn bè!
Sau này tôi mới nói cho Nam biết cái thằng bay chiếc C&C cho tướng Hậu nửa đêm vào Tân Khai trong trận bão Mannie, giữa mưa đạn phòng không Việt Cộng mà Nam nằm dưới đất nhìn thấy khi theo chiến đoàn trung tá Cần vào giải vây An Lộc rồi viết trong "Mùa Hè Đỏ Lửa" chính là tôi, Nam có vẻ thống khoái vì sự ngẫu nhiên ấy, cười khà khà và phán một câu:
- Thấy chiếc máy bay, tao thương quá. Những thằng Không Quân chân hổng giữa trời, chết mà không biết thằng khốn nạn nào "chơi" mình thì "lỗ" quá! Thực tình tao "rét" mày ạ, chết dưới đất vững hơn... Ai ngờ lại là mày bay cho ông Hậu! Hà hà!... Mày rơi đêm đó là tao lại có tí đề tài "viết cho một người nằm xuống"!
Trong những ngày bôn ba chiến trận, thỉnh thoảng tôi có gặp Nam vác máy hình theo quân Dù đi làm phóng sự. Nhưng thường là những lúc tôi về Saigon cùng Nam và một vài bạn văn nghệ ghé La Pagode bù khú. Đó là những lần tôi có dịp thán phục khoa đấu láo của Nam. Cái giọng oang oang nửa Huế, nửa Quảng Nam, pha tí Bắc Kỳ, một khi mở máy là nói liên miên đủ thứ đề tài... Có thể nói khoa tán phét của Nam vô địch! Nam có khả năng nói thao thao hàng giờ không ngưng nghỉ và thật lôi cuốn, có duyên, ba hoa châm biếm bất cần thiên hạ.
Tôi nhớ nhất một lần đang đấu vung vít với chúng tôi, Nam bất chợt để ý thấy một cô gái ngồi uống nước một mình ở bàn bên cạnh. Cô gái mặc đồ đầm, có nét đẹp kiêu kỳ sang trọng của một thứ kiều nữ con nhà giàu học trường đầm, châm hút điếu Salem. Thế là Nam kêu lên:
- Tại hạ xin có ý kiến: Người đẹp mà hút Salem là không đúng sách vở!
Thế là Nam bỏ mặc câu chuyện dở dang với chúng tôi, kéo ghế qua bàn cô gái. Tôi không nhớ Nam hút thuốc gì nhưng cũng là một thứ thuốc lá đầu lọc và Nam bô bô quảng cáo cho hiệu thuốc của mình với những lời dẫn chứng theo sách vở, theo kinh nghiệm, theo thống kê, theo lời "Khổng Tử xổm tọa chi viết", theo lời khuyên của bác sĩ này, nhà sản xuất nọ và Nam đem luôn chính trị, kinh tế, quân sự và cả truyện chưởng Kim Dung vào bài hát nói! Nam nói một cách trơn tru hữu lý. Trong cái hoạt kê quấy nhộn ấy, tôi thấy khẩu tài của Nam vượt xa miệng lưỡi dẻo kẹo của những anh giang hồ bán thuốc Sơn Đông. Những tay mãi võ láu cá vặt đó, hay những lời tuyên truyền của mấy cậu mợ cộng sản nhà quê không thể duyên dáng bay bướm trí thức như Nam được. Cô gái cuối cùng phải bỏ nét mặt lạnh lùng kênh kiệu, bật cười phì và nhận điếu thuốc Nam mời. Bài tán láo của Nam dài gần nửa tiếng đồng hồ và hai tay ăn tục nói phét có hạng trong mấy chúng tôi hôm đó là Thế Phong và Dương Hùng Cường cũng phải chào thua Nam.
Đó là một vài trong những kỷ niệm tôi có với Phan Nhật Nam. Tôi yêu và phục Nam không chỉ có văn tài và và khoa đấu hót. Nam thông minh, hiếu động, tính tình thẳng trực, ngang tàng khí phách, đôi khi hành động như một thứ "cao bồi văn nghệ" nhưng không nhố nhăng lố bịch. Cái ngông nghênh tự phụ của Nam, đối với tôi không có gì quá đáng. Tâm hồn Nam sâu sắc, nhiều tình cảm và rất tốt với bạn bè. Nam bị kẹt lại vì ngày 30-4 dắt vợ con vào nhà tướng Kỳ nhưng không thấy ông tướng râu kẽm, bèn chạy qua DAO. Trước cảnh chen lấn cùng ám ảnh một đảo Guam không hơn gì các trại đón dân tị nạn miền Trung, Nam chán nản đưa vợ con trở về. Cộng sản tiếp thu Saigon, Nam như con chuột mắc nạn trong bẫy xập, cuống cuồng sợ hãi vì tin cộng sản sẽ lùng giết. Phan Nhật Nam, đại úy Nhảy Dù, nhà văn chống cộng lẫy lừng tên tuổi, thành viên đối nghịch to mồm nhất trong Ủy ban Liên hợp Quân sự? phải là thành phần Ngụy số một "có nợ máu với nhân dân!" Nam hơn ai hết, hiểu rõ bản chất đê tiện của cộng sản, biết rõ những gì đang chờ đợi mình và Nam tìm chỗ ẩn thân. Nam bỏ Saigon về Long Khánh làm rẫy trước khi cộng sản có chương trình lùa dân đi kinh tế mới. Nhưng Nam biết trước sau gì cũng không thể lẩn trốn được cái mạng lưới công an tinh vi cộng sản một khi chúng cố tình lùng kiếm và vì Phan Nhật Nam quá nổi.
Ngày 22-6-75, Nam ra trình diện học tập và bị giam tại trại Long Giao. Chính tại đây, Nam đã viết trong bản tự khai, "Trong đời tôi, tôi chỉ có một điều ân hận là có ông bố hành nghề cộng sản!"
Bố Nam theo kháng chiến từ năm Nam 7 tuổi, hiện là một nhân vật cao cấp trong Chính trị bộ Hà Nội, tên Phan Văn Trình. Mẹ Nam là bà Ngô Thị Phương Dung, chết năm Nam 18, học trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Nam sinh ngày 10-9-43 tại Huế nhưng lớn lên tại Quảng Nam. Sinh viên Sĩ quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khoá 18, ra trường năm 1963, tình nguyện đi binh chủng Nhảy Dù. Năm 1968 ra khỏi binh chủng và thời gian sau Hiệp Định Paris, Phan Nhật Nam là thành viên VNCH trong Ủy ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cho đến ngày miền Nam rơi vào tay cộng sản.
Những năm tại ngũ, Phan Nhật Nam từng tham dự hầu hết các chiến trường sôi bỏng ở quốc nội (1963-1973). Từ những địa danh nổi tiếng như Khe Sanh, Cồn Tiên, đến những làng nhỏ ở Cửa Việt, Diễm Hà Trung, Diễm Hà Nam, cho đến những hóc hiểm hoang vu ở cuối thung lũng sông Kim Sơn; từ Tây vực quận Hoài Ân, Bình Định, tới làng Mã Tây, v.v... nơi nào Nam cũng tới và đã tham chiến, chỉ trừ chiến dịch Hạ Lào. Quãng đời binh nghiệp bôn ba đã cho Phan Nhật Nam quá nhiều chất liệu phong phú để dựng thành tác phẩm. Khởi nghiệp viết văn từ 1969 và đã nổi tiếng với tác phẩm đầu tay "Dấu Binh Lửa". Sau này văn tài Phan Nhật Nam chói sáng hơn với tập bút ký chiến trường "Mùa Hè Đỏ Lửa" nói đến cuộc chiến khốc liệt cùng tinh thần chiến đấu hào hùng tuyệt vời của người lính Việt Nam Cộng Hoà trong những trận đánh rúng động thế giới ở Quảng Trị, An Lộc... vào mùa hè binh biến 1972.
Ngoài những bài phóng sự, những truyện ngắn đăng rải rác trên các nhật báo, tuần báo, đặc san Saigon, Phan Nhật Nam chỉ trong 5 năm từ ngày khởi nghiệp, đã có một số lượng tác phẩm đáng kể xuất bản và tạo được tên tuổi, chỗ đứng riêng biệt trong làng văn: Dấu Binh Lửa (Đại Ngã, 1969, Hiện Đại tái bản 1974) - Dọc Đường Số Một (Đại Ngã, 1970) - Mùa Hè Đỏ Lửa (Sáng Tạo, 1972, tái bản 2 lần, 1973, 1974) - Ải Trần Gian (Đại Ngã, 1970) - Dựa Lưng Nỗi Chết (Hiện Đại, 1973) - Tù Binh và Hoà Bình (Hiện Đại, 1974).
Những tác phẩm Phan Nhật Nam dự định xuất bản nhưng không thực hiện được vì biến cố 30-4-75 gồm: "Những Ngày Hè Cuối Cùng - Đá Nát Vàng Phai - và Mặt Trận Quảng Trị" (còn có tên Trên Giòng Đá Đổ Mồ Hôi).
Chưa hết, Phan Nhật Nam hiện đang ở trong trại tù cộng sản nhưng vẫn còn cầm bút. Hơn cả Phùng Quán với "Giấy bút tôi ai cướp giật đi, tôi vẫn dùng dao viết văn lên đá... " Phùng Quán khi viết những câu thơ phẫn hận ấy, trên vai vẫn còn mang quân hàm của chế độ, không ở trong tù, vẫn còn phương tiện để mà viết và còn có được cơ hội phổ biến là tờ Nhân Văn Giai Phẩm.
Phan Nhật Nam bị đưa ra Bắc từ 22-6-76, qua những trại tù kinh khiếp nằm sâu trong rừng núi thượng du Bắc Việt nước độc giết người: Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang, Hoàng Liên Sơn và cuối cùng là trại tù số 5 Thanh Hoá thuộc hệ thống Trại Đầm Đùn, hay trại tù Lý Bá Sơ khủng khiếp bậc nhất trong hệ thống tù cộng sản. Nhưng Phan Nhật Nam vẫn viết. Viết trong những điều kiện trăm phần khốn cực hơn Phùng Quán. Viết lén lút phập phồng dưới nắng lửa, mưa dầm, trong tối tăm đói lạnh, vây quanh bởi những cặp mắt nham hiểm rình mò cú vọ của một bầy lang sói. Suốt năm năm tù tội đọa đầy, Nam đã dựng khung hai tác phẩm trường thiên "Đá Nát Vàng Phai" và "Luyện Ngục Rực Lửa" cùng những trang nhật ký gửi vợ con yêu dấu. Hai tập dàn bài Nam giấu cất đã bị khám phá và tịch thu. Nam bị chúng đánh đập, cùm xiềng, giam vào hầm đá biệt lập tối tăm lạnh buốt, chịu đựng đói khát cực khổ suốt ba mươi lăm ngày đêm thảm nhục và cuối cùng Nam đã sống còn như một nhiệm mầu. Nam còn hơi thở nghĩa là còn nghị lực, còn vững vàng ý chí để phấn đấu, để tin yêu và hy vọng, không quên mình là một Hướng đạo sinh "Vui Vẻ Trong Mọi Khó Khăn", không quên mình là lính Nhảy Dù "Cố Gắng", không quên mình là một chiến sĩ có thêm nặng trên vai thiên chức Nhà Văn! Nam thể hiện nỗi thảm thương khổ nạn của kiếp tù đầy nhục nhã của chính mình và chung của hàng trăm ngàn bạn bè chiến hữu đồng cảnh ngộ vào những trang nhật ký đầm đìa máu lệ gửi cho vợ con, như một tiếng kêu thương bi thiết gửi cho người thế giới bên ngoài.
Những trang nhật ký này, coi như tác phẩm mới nhất của nhà văn Phan Nhật Nam viết trong lao tù cộng sản và tôi đang có trong tay. Do một người bạn cùng khoá với tôi và là bạn chung của tôi và Nam gửi cho, khoảng trung tuần tháng 10-1980, với lời nhắn "Nam nhờ tôi trao cho bạn, để làm cách nào vận động cứu Nam, nếu không nó chết." Bạn tôi là Đại úy hoa tiêu Không lực, rất thân với Phan Nhật Nam, ra trình diện cùng ngày, chung chuyến tầu ra Bắc và đôi ba lần cách khoảng bị giam chung với Nam cùng một trại tù. May mắn cho Nam là Chử Quân Anh trước ngày được cộng sản phóng thích nhờ bao công lao tốn phí vận động của người vợ có quốc tịch Pháp, đã vì bạn, mưu mô lén giấu giúp Nam đem ra được tập nhật ký và mang qua Pháp an toàn. Quân Anh cho tôi biết Nam bị liệt vào thành phần tù chính trị ngoan cố và chúng đã dành sẵn cho Nam bản án tử hình. Nếu không, nhẹ nhất cũng khổ sai chung thân vì Phan Nhật Nam ương ngạnh vô phương cải tạo. Quân Anh còn cho tôi biết thêm rằng tình trạng sức khoẻ của Nam hiện tại rất là thê thảm. Cái thân hình vốn gầy gò mảnh khảnh của Nam "bây giờ tiều tụy suy nhược, ông không thể nhận ra đâu..." Lao động quá sức và ăn đói, bệnh tật không thuốc men đã khiến Nam chân run không đứng vững. Đầu váng, mắt hoa, lúc nào cũng nghe tiếng ve u u trong óc. Phổi hư, răng mục nguyên hàm, tóc rụng từng mảng vì nhiều thứ bệnh tù: bệnh thiếu dinh dưỡng, bệnh ghẻ ngứa, bệnh tê thấp, bệnh đau dạ dày, bệnh trĩ nội xuất huyết hậu môn ngày hàng lít máu... Thế mà vẫn phải khổ dịch lao tác mỗi ngày. Phá rừng, xẻ núi, còng lưng đập đá, oằn người bấu những ngón chân bật máu đẩy từng xe đá hay kéo vần khối gỗ nặng trên cả sức người khoẻ mạnh vượt hai cây số đường đèo trơn trượt... Thế mà vẫn phải chỉ một buổi sáng cúi xuống, nhấc lên, khuân 670 tảng bùn nước nặng trung bình 10 kg hay 6 tấn 7 cho một thân tù ốm yếu? Thế mà trời Đông hàn vẫn phải trần truồng ngâm mình dưới dòng sông giá buốt đẩy từng bè củi, lội ngược con nước về trại cách xa 4 giờ đường bộ trong trong cái lạnh cắt da của 7 độ centigrade!
Tôi mềm nhũn cả lòng. Những dòng chữ nhỏ kín đầy hai mặt những trang giấy xé ra từ quyển vở học trò tồi tàn phẩm chất sản xuất từ cái gọi là xã hội chủ nghĩa miền Bắc đúng là nét chữ cứng cỏi thân quen của Phan Nhật Nam. Cái văn chương ngôn ngữ kết đọng thành khối đau thương thống hận vô cùng đó đúng là thứ văn chương ngôn ngữ chỉ một Phan Nhật Nam có được.
Định mệnh nào đã đưa Nam vào con đường khổ nạn đắng cay nhường ấy? Định mệnh nào cay nghiệt đã khiến cha con Nam đối đầu chủ nghĩa, để rồi ngày trùng phùng trong nghịch cảnh, Nam chỉ biết u oán nhìn cha thinh lặng qua chấn song tù, nước mắt khổ đau tủi hận chan chứa tuôn rơi?... Ba mươi năm đi làm cách mạng để đổi lấy một ngày "chiến thắng" trở về thấy cảnh gia đình ly tán. Để thấy đứa con trai tù tội. Để chứng kiến cái chết u uất của đứa con gái. Em gái Nam có chồng học tập, tuyệt vọng hủy đời xuân sắc trước cặp mắt ngỡ ngàng đau đớn của người cha cộng sản.
Còn Nam, Phan Nhật Nam đã như một anh hùng ngã ngựa, hiên ngang bước vào lò luyện ngục với nụ cười khinh mạn. Hiên ngang nhận chịu những ngón đòn thù đê tiện và cực cùng độc ác. Để chứng tỏ đởm lược của một chiến sĩ Nhảy Dù, chứng tỏ hào khí của người lính quốc gia, chứng tỏ phong thái bất khuất của một nhà văn hữu hạng miền Nam, Nam đã chối bỏ những lời dụ hoặc để làm tờ khai tự thú theo ý muốn cộng sản, chối bỏ đặc ân từ ảnh hưởng chức vụ người cha và bởi thế, vợ Nam mới bị ngăn cấm liên lạc với chồng. Những lá thư gửi vào trại tù, vợ Nam phải dùng tên khác, gửi cho người khác nhờ chuyển đến Nam lén lút. Và bởi thế, bố Nam không thể làm gì cưỡng chống mệnh lệnh đảng can thiệp cho Nam. Trong suốt 5 năm tù tội, Nam chỉ được vợ con thăm nuôi một lần duy nhất, nhưng không phải là một cuộc thăm tù chính thức. Vợ Nam phải chạy vàng hối lộ cho bọn công an bộ đội để có giấy tờ mạo danh, dắt hai con thơ lặn lội đường trường ra Bắc thăm chồng.
Đó là lần gặp gỡ ngắn ngủi, cực cùng chua xót và cảm động vào tháng 5-1979 mà Nam đã viết trong trang đầu nhật ký. Những dòng máu lệ đầm đìa thương tủi ấy, tôi đọc mà rúng động. Tôi nhìn thấy cảnh tủi mừng đau đớn của cuộc trùng phùng thực hư ảo mộng giữa cha con chồng vợ trên bờ đê lộng gió. Tôi thấy những giọt nước mắt thảm sầu thánh thót rơi trên những gương mặt khổ đau thống hận. Nghe, và cảm nhận được tất cả nỗi u oán uất nghẹn không thốt thành lời trên những đôi môi khô héo, trong những tia nhìn trĩu nặng tủi hờn. Thật tội thương Nam. Thật hết sức đáng yêu và vô vàn cảm phục. Quân Anh nói với tôi nhiều chuyện về Nam và khẳng định một điều rằng trong tù Nam sống không hèn. Tôi biết Phan Nhật Nam vững vàng bản ngã, đầy ắp tình người, tình yêu thương đồng loại. Cao cả biết bao nhiêu khi nghe Nam nói đến cái chết của đứa bé gái con "em Lợi". Nói đến những người tù nữ, đến những đứa trẻ tuổi măng thơ sinh ra và lớn lên trong đói khổ trại tù, lây lất, bơ vơ... "Những đứa bé da nhăn như người già vì thiếu dinh dưỡng"!
Đọc những dòng diễn tả trong nhật ký, tôi nhận ra Nam vẫn nguyên tròn bản chất. Một Phan Nhật Nam vui tếu ngang tàng. Một Phan Nhật Nam người hùng Mũ Đỏ. Một Phan Nhật Nam trọng danh dự và nhất ngôn. Cái tinh thần Hướng đạo Nam hằng ôm giữ, cái châm ngôn "Vui Vẻ" kim chỉ nam cho đời sống, Nam đã tận tụy thi hành ngay cả trong những giây phút Nam đang "Dựa Lưng Nỗi Chết"! Tôi đã mỉm cười trong nước mắt ngậm ngùi... Thân xác Nam rũ liệt nhưng tinh thần Nam còn vững thẳng với bao gắng gượng, dưỡng nuôi nghị lực để sống còn cho hy vọng mãnh liệt có một ngày về mà Nam gọi đó là sự "Phục Sinh Mầu Nhiệm", bằng vào niềm tin nơi Thiên Chúa, bằng vào tình yêu vợ thương con quá mạnh. Tôi bồi hồi cảm động khi thấy Nam viết say sưa về cái mộng ra tù cầm bút viết văn trở lại, kiêu hãnh, nồng nàn khoe với vợ con về tập bản thảo của hai cuốn trường thiên viết trong tù ngục? Lại còn cái ước ao có được chiếc khẩu cầm để thổi te te trước giờ lên võng mỗi đêm. Lại còn đỏm đáng chuốt trau nhân dáng, dù cho tàn tạ cũng là nét tàn tạ rất "hùng" của một Sĩ quan Cộng Hoà xuất thân Võ Bị, hỏi xin cái nón rộng vành che nắng lửa trời hè lao động nhưng nhất định không phải là thứ nón tai bèo của mấy chú Vi-Xi!... Thật tội thương Nam, dù trong khổ nạn vẫn cố đem vui sống cho đời, dù trong đầy đọa cũng không đánh rơi nhân phẩm và chịu đồng hoá với bầy ác thú.
Tháng 3-1980, vợ con Nam đã vượt biên bằng đường bộ tới Thái Lan và đến nay khi tôi viết những dòng chữ này (tháng 2-81), ba mẹ con vẫn long đong cơ cực sống trong trại tị nạn Sikew. Phải hiểu một khi quyết định rời bỏ miền đất quê hương chẳng biết dung người ấy, chị Nam đau đớn thế nào và Nam ngẩn ngơ rúng động thế nào khi biết vợ con mình từ nay đã xa cách nghìn trùng, để lại bên trời khổ nhục mình Nam với nỗi cô đơn trầm thống. Phải mất một thời gian dò tìm liên lạc, tôi mới có địa chỉ viết thư xin ý kiến chị Phan Nhật Nam về việc phổ biến tập nhật ký. Bởi vì dầu sao những trang nhật ký này Nam viết riêng cho vợ con và là báu vật thiêng liêng chỉ riêng vợ con Nam có quyền tư hữu. Hơn thế nữa, việc công bố nhật ký làm sao tôi dám tự chuyên vì ảnh hưởng rất lớn tới nỗi an nguy của Nam. Tôi nghĩ tới trường hợp nhà văn Doãn Quốc Sĩ cùng những lời hy vọng của Nam đã viết và ủy thác Chử Quân Anh trao tập nhật ký cho tôi, việc trước tiên tôi có thể làm được là liên lạc với anh Trần Tam Tiệp, tổng thư ký Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại nhờ vận động với Văn Bút Quốc Tế cùng các cơ quan quyền lực quốc tế can thiệp cho Nam được tự do.
Anh Trần Tam Tiệp đã sốt sắng lo liệu. Phan Nhật Nam có tên trong danh sách tù nhân văn nghệ sĩ được hội Văn Bút Quốc tế trực tiếp can thiệp. Hơn thế nữa, Phan Nhật Nam còn được ghi tên dự một giải văn chương quốc tế với tác phẩm là tập nhật ký này. Ủy ban Ân Xá Quốc Tế cũng lấy tên và địa chỉ trại tù để gửi quà tặng cho Nam. Tôi báo tin và chị Nam viết trả lời, "Nếu anh thấy việc công bố nhật ký của Nam nhất thiết phải làm thì anh cứ tùy tiện. Cũng như anh, tôi hơi lo không biết việc ấy có lợi hay hại cho Nam song đành vậy. Tôi rất mừng khi biết Pen Club gửi quà tặng cho Nam. Những món quà của Pen Club có một giá trị tinh thần đáng kể. Nam sẽ phấn khởi và hy vọng hơn khi biết có sự chú ý của bên ngoài đối với mình. Nghị lực cũng giống như vốn liếng, để không ăn dần cũng suy mòn hao hụt đi, rất cần sự tiếp sức... "
Tôi chỉ chụp một trang nhật ký của Nam gửi cho chị đọc. Chị đau đớn viết cho tôi, "Những ngày trong trại tị nạn này cũng là những ngày tôi cảm thấy gần gũi Nam nhất trong suốt mấy năm nay. Có cái hạn chế của thực phẩm để cảm thông một phần nào cái đói. Có se da vì chăn Hồng Thập Tự phát quá ngắn không chùm kín đầu để cảm được cái lạnh của người đốn cây xẻ đá giữa buốt giá của mùa Đông miền Bắc... Tôi biết Nam là người yêu đời sống rất mãnh liệt, thế mà Nam đã ai oán kêu lên Thà rằng ta chết cho xong! thì đủ biết Nam bi phẫn tuyệt vọng đến nhường nào. Lòng tôi tan nát..."
Tôi không thể chờ đợi lâu hơn để hoàn tất việc chuyển dịch tập nhật ký sang Anh Ngữ phổ biến đồng loạt cùng bản văn Việt Ngữ. Công việc này quả thực quá khả năng tôi vì văn chương ngôn ngữ Phan Nhật Nam vô cùng khó dịch, dù tôi có bỏ ra hàng ngàn giờ và dốc toàn vốn liếng cũng không thể chuyển ra ngoại ngữ trung thực và trọn vẹn mức độ bi thương thảm thiết chứa trong từng lời, từng chữ mà Nam đã viết bằng máu lệ đời mình. Tôi không thể để lâu hơn. Vì Nam đang quằn quại mỏi mòn ngóng đợi từng ngày, từng giờ. Vì những điều Quân Anh kể về tình trạng sức khoẻ của Nam và lời nhắn "làm thế nào vận động cứu Nam, không nó chết" ám ảnh tôi lo lắng bồn chồn.
Tôi xin gửi đến các báo chí Việt ngữ trên toàn thế giới, kính nhờ quý vị phổ biến rộng rãi trong mọi giới đồng bào tị nạn. Xin gửi đến các hội đoàn quốc gia tranh đấu chống cộng sản và tranh đấu cho nhân quyền. Gửi chung những bằng hữu thân biết Phan Nhật Nam, các nhà văn, nhà báo, các chiến hữu của Nam? với lời khẩn thiết kính xin quý vị tiếp tay phổ biến tài liệu này và vận dụng mọi phương tiện tranh đấu buộc cộng sản trả tự do cho nhà văn Phan Nhật Nam. Tiếng kêu thương của Phan Nhật Nam cũng là tiếng kêu thương đứt ruột của hàng trăm ngàn người Việt Nam của chế độ Tự do đang bị cộng sản giết dần mòn trong các trại tù cải tạo.
Tập nhật ký này nếu được các vị dịch giả thừa khả năng ngoại ngữ dịch ra Anh văn và Pháp văn, phổ biến cho nhân loại toàn cầu biết đến cái thảm trạng kinh hoàng của hệ thống lao tù cộng sản, phải là một công trình văn hoá lớn lao, không riêng gì Phan Nhật Nam cùng vợ con mang ơn quý vị, mà tất cả những người chống cộng trên thế giới đều biết ơn.
Đào Vũ Anh Hùng



--------------------

(Phan Nhật Nam







Một.
Cách đây 50 năm, tại Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, Gia Định những buổi chiều mưa dầm Tháng 6 miền Nam, anh xoay trở quay quắt giữa những thây chết của những người lính thuộc đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, Tiểu Đoàn 52 Biệt Động, Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh... Những người chết của chiến trận Đồng Xoài, Bình Dương nổ ra từ những ngày đầu Tháng 6. Đối với một gã lính vừa qua tuổi 20 năm ấy, sự mất mát của hàng trăm chiến hữu chỉ được đưa về sau nhiều ngày kể từ khi tử trận quả là một sự đau thương quá lớn. Thân thể người chết căng cứng, xanh đen, tím thẫm, dòi bọ lúc nhúc bò theo những vết thương sũng máu. Khoảng đất nghĩa trang đặc sánh bởi máu, thịt, con người chảy vữa, sền sệt. Trong đó có máu, thịt của bạn anh, Thiếu Úy Trần Trí Dũng, gã học sinh đã cho bạn cùng lớp và toàn Trường Phan Châu Trinh Đà Nẵng niềm hãnh diện. Vô địch bóng bàn học sinh, thủ quân đội bóng rổ, cũng là trung phong hàng đầu của đội tuyển bóng tròn trường trung học đá hay nhất miền Trung. Nhưng giờ đây, tất cả dạng hình tươi trẻ sống động của Dũng với lúm đồng tiền trên má không còn nữa.
Kéo fermeture bao đựng xác - Bạn anh, người bạn ấu thơ của Đà Nẵng hơn mươi năm trước bấy giờ chỉ là một thây xác sùi sụp nước nhờn tím thẫm hôi hám. Có chăng được phần an ủi: xác Dũng còn nguyên dạng hình chưa bị vữa nát. Buổi đá banh năm xưa ở Sân Vận Động Chi Lăng làm sao tưởng ra tình cảnh nầy Dũng ơi?!
Xóm nhà dân trước nghĩa trang phải di tản vì mùi hôi thối bốc kín đặc khoảng không. Tiếng kêu khóc của thân nhân tử sĩ âm âm oán thán, xót xa, xé cắt. Có bà cụ vật vã thều thào bên chiếc poncho gói xác người vừa lật mặt.
- Nam ơi! Nam ơi! Sao cháu bỏ bà.
Anh ngồi xuống bên cạnh bà cụ.
- Bà ơi, con cũng tên Nam, cha mẹ con không còn, con gọi bà bằng bà thay anh Nam.
Trở về hậu cứ đơn vị nơi phi trường Biên Hoà, sân cờ tiểu đoàn trắng màu khăn tang, con trẻ chạy thất thanh quanh những người mẹ đang nằm lăn trước bậc thang các văn phòng đại đội.
- Thiếu úy ơi! Thiếu úy ơi!
Hóa ra anh là sĩ quan còn sót lại của một tiểu đoàn Nhảy Dù mà từ tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, 4 đại đội trưởng đồng tử nạn. Không biết Đại Úy Phát, đại đội trưởng Đại Đội 74 và đám quân binh thất lạc nay đang ở đâu. Thế nên, những tưởng Tháng 6 năm 1965 đã quá sức chịu đựng của con người - Cho dẫu là người lính có khẩu hiệu Nhẩy Dù Cố Gắng!
Hai.
Từ trên trực thăng ở Quảng Trị đổ về Huế trong ngày Mồng Bốn Tết Âm Lịch anh đã thấy ra một Thành Phố Huế chết lặng. Người Huế chết khi ẩn núp sau những gốc cây bị pháo, hỏa tiễn cộng sản bắn lật ngược, cạnh hàng rào chè cháy xém; trên lề đường với mỗi viên gạch đồng bị vỡ vụn, nơi sân nhà trước chiếc bàn thờ xiêu đổ. Người chết đang qùy lạy ông bà, với áo mới thấm máu, xé rách, con trẻ còn cầm trong tay bao đỏ tiền lì xì đầu năm. Tuy nhiên cảnh chết của Huế không chỉ xẩy ra trong khu Thành Nội, trên đường Mai Thúc Loan, Đinh Bộ Lĩnh, khu sân bay Tây Lộc, ở những cửa thành Thượng Tứ, Đông Ba. Chết ở Huế trùm khắp mọi chốn, tại mỗi phân đất tại vùng Bãi Dâu, bên cạnh Sông Hương, nơi sân Trường Gia Hội, Chùa Áo Vàng. Và sau ngày quân Cộng Hoà chiếm lại Kỳ Đài, đám cán binh cộng sản gồm du kích, nội thành, và bộ đội miền Bắc bị đánh bật ra khỏi khu cố thủ Gia Hội, trên đường rút lui mang theo những tù nhân vốn chỉ là con trẻ vị thành niên, người già, phụ nữ... những đối tượng làm con tin cho lần tháo chạy. Thế nên cuối cùng, thì cảnh chết, sự chết đã hiện thực, vượt khỏi sự tưởng tượng của bất cứ ai còn có Nhân Tính - Bởi người Huế đã liên tiếp bị thảm sát do những kẻ cùng chung khu phố, chung xóm nhà cư ngụ. Không sót một người. Không trật một người. Người Huế bị giết do một Sự Ác được ngụy danh là “giải phóng”, để thỏa mãn mặc cảm vô dụng, hèn kém của những kẻ gọi là “trí thức cách mạng”, điển hình đặc chất Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Kỵ... Người Huế chết chật hết những bụi lùm ở Khe Đá Mài vùng núi Ngũ Tây; sùm sụp bước chân của đoàn người tìm kiếm trong những ngày Hè cùng năm năm 1968. Hơi thây chết bốc lên theo nắng đầu Hè miền Trung ong óng như hờn oan. Nhưng hỡi ôi! Chết ở Huế cũng chưa đủ cho cuộc đau thương của người Việt. Người Việt miền Trung chiếm đầu bảng oán hận. Không phải đợi dài lâu.


Ba.
Anh đang ở trên cây số 9 kể từ Quảng Trị đến vùng thôn Mai Đẳng, xã Hải Lăng. Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng. Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra trước sự tàn khốc trước mặt. Trời ơi! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác của con người mất hết khả năng kiểm soát. Kiểm soát làm sao được nhịp đập của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập xuống - Máu chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân căng đến độ chót… Cũng không phải như thế - Anh không biết, hoàn toàn không biết được gì của xác thân. Anh không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống. Chung quanh anh trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí - Chết. Phải, chỉ có Sự Chết bao trùm vây cứng. Chỉ có nỗi chết đang tầng tầng phủ chặt kín không gian. Cho dù rằng, Tháng 4, 5, 1972 ở An Lộc với những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh hoàng, người cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa con vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót - Bên cạnh người chết vẫn còn người đang sống - Ở An Lộc, anh thấy được loại người cuối đáy đau thương đó. An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và gọn như nhát dao ngọt. Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị thì đã ngập hẳn vào trong!
Nhưng ở đây, thôn Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm của Quảng Trị thì khác hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một chặng, dài hun hút mênh mông, sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa… Anh đi theo chiếc xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa - nhựa thịt người! Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất - phải gọi xe ủi người mới đúng - vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi… Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi của Sự Chết. Nếu cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động, vì thế giới chứng kiến, thấy ra được những “xác người,” chồng chồng lớp lớp. Chín cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng… Chết trân tất cả mọi cái chết. Không còn được “người chết” trên đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương thê thảm đọa đày.
Anh ra khỏi 9 cây số đường kinh hoàng đến La Vang Thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính toà, nơi Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ. Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, anh đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã thiêu hủy hết loài người. Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang. Anh ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một. Anh muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ: Anh vừa phạm tội. Tội được sống.


Bốn.
Nhưng cuối cùng. Hóa ra, Khổ Đau/Sự Chết nơi chiến trận Đồng Xoài 1965 chỉ là khúc dạo đầu phần bi thảm với những người lính tử trận. Cuộc tàn sát Mậu Thân, 1968 cũng trong giới hạn của ngàn người dân Thành Phố Huế bị đập đầu, chôn sống. Và cho dẫu ngọn lửa Mùa Hè 1972 gớm ghê khốc liệt bao nhiêu cũng chỉ bùng cháy, tiêu hủy các thị xã An Lộc, Kontum, Quảng Trị. Hóa ra Địa Ngục Miền Nam không chỉ chừng ấy. Hóa ra khổ đau Miền Nam không chỉ với vài ngàn, vài chục ngàn người chết, những thị xã bị tiêu hủy. Tai ương Việt Nam/Thảm Họa Miền Nam thăm thẳm vô bờ với mùa Xuân uất hận không thể nào quên, dẫu hôm nay hơn 40 năm sau 1975. Chúng ta hãy nhìn lại đoạn đường máu thẫm của một Dân tộc bị đọa đày trên quê nhà điêu linh. Đầu Xuân năm 1975, vào buổi Tháng Ba, thêm một lần người Miền Nam tự hỏi: Cộng sản sắp đánh ở đâu? Khi nào sẽ đổ ra thêm một trận máu xương với lực lượng cộng sản miền Bắc nhất quyết thực hiện bước cuối cùng cái gọi là sự nghiệp “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”. Sự nghiệp cách mạng mà 40 năm sau 1975 bày ra tình cảnh nguy nan vô hạn với hiểm họa mất nước về người Hoa, và xã hội Việt Nam chìm ngập xuống vực thẳm băng hoại, suy vong.
Vào Tháng Ba năm 1975, lãnh thổ miền Nam đã bị mất một phần thuộc phía Bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị của quân Khu I; ở Quân Khu II mất phần đất nằm về mặt Bắc và Tây của vùng Trường Sơn; Và quanh Sàigòn một vùng rộng lớn của miền Đông Nam Bộ từ thượng lưu sông Đồng Nai qua Phước Long, Bình Long, Tây Ninh về Long An, Hậu Nghĩa, xuống Kiến Tường, Định Tường thuộc châu thổ sông Cửu Long. Trong tình hình chung như vừa kể, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh Quân Đoàn II đóng ở Pleiku lúc ấy không thể quyết đoán cụ thể về kế hoạch quân cộng sản sẽ đánh ở đâu trong vùng Quân Khu II. Trong khi ấy, cộng sản Hà Nội lập kế hoạch, bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên từ 4 tháng 3 đến 3 tháng 4 năm 1975 mang mật danh là Chiến Dịch 275. Cuộc tiến công xử dụng các đơn vị cấp sư đoàn bộ binh Bắc Việt có chiến xa, đại bác nặng yểm trợ khởi cuộc nổ súng từ ngày ngày 10 Tháng 3 năm 1975 với mục tiêu là Ban Mê Thuộc, thành phố cực Nam của vùng cao nguyên. Bộ chính trị, quân ủy trung ương tại Hà Nội đã điều động thực hiện cuộc tấn công miền Nam với hai lợi điểm mà thật sự là hai ưu thế quyết định. Đấy là sự bất ngờ về tình báo thêm được bảo đảm bằng cái ô chính trị tuyệt đối an toàn tức là biết chắc Mỹ sẽ không bao giờ can thiệp lại vào Việt Nam. Cụ thể Hạm Đội Mỹ quay mặt trước lần hải quân Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, tháng 1, năm 1974.
Trong cuộc họp mật của Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng vào tháng 1 năm 1975 trước khi phát lệnh tấn công miền Nam theo kế hoạch Chiến Dịch 275, Ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà một bên ký kết Hiệp Định Tái Lập Hoà Bình tại Việt Nam đã hân hoan tuyên bố: “Cho kẹo Mỹ cũng không dám trở lại Việt Nam!” Ngày 10 Tháng 3 năm 1975, quân đoàn Tây Nguyên dưới quyền tổng chỉ huy của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đến từ Hà Nội đồng loạt tấn công vào thị xã Ban Mê Thuộc với những sư đoàn 324, 324B, 320, 308, 316 và cả sư đoàn 341 tổng trừ bị của quân đội miền Bắc. Nhưng khi quân dân Ban Mê Thuộc đang trên bờ vực sống-chết thì báo chí thế giới, báo cộng sản ở Hà Nội, báo phản chiến ở Sàigòn đều đồng thanh phát biểu: “Cách mạng giải phóng miền Nam là do mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng và giai cấp phản cách mạng; giữa nhân dân tiến bộ và thành phần ngụy quân, ngụy quyền phản động; giữa lực lượng vũ trang cách mạng và tập đoàn quân phiệt, phát xít công cụ của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ…”


Với sư đoàn F10 làm mũi nhọn được hai sư đoàn 320, 316 tăng cường, và sư đoàn 341 làm tổng trừ bị, lực lượng cộng sản có khoảng 25,000 người được pháo binh, chiến xa nặng yểm trợ phối hợp. Đối lại tại thị xã Ban Mê Thuột phía VNCH chỉ có khoảng 1,200 lính chiến đấu trong tổng số lính hậu cứ của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu khu Đắc-lắc, và Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân. Thế nên từ hai giờ sáng ngày 10 tháng Ba, giờ mở lệnh tấn công mà tướng Dũng ước tính chiến trận Ban Mê Thuột sẽ chấm dứt sau một tuần nhưng chỉ đến 5 giờ 30 chiều cùng ngày, thị xã Ban Mê Thuột hầu như thuộc về phần kiểm soát của quân Bắc Việt cho dù Biệt Động Quân và bộ binh vẫn tiếp tục chiến đấu. Dũng cứ tưởng như là giấc mơ. Và Dũng đã đi từ giấc mơ sang một vùng ảo giác vào những ngày sau khi được báo cáo: Quân đoàn II tháo chạy!
Cuộc di tản dọc Tỉnh Lộ 7 theo lộ trình Pleiku-Phú Bổn xuống Tuy Hoà quá lớn với mối đau thương dài đặt trên hai trăm cây số đường núi với hai trăm ngàn dân thường đi từ hai thành phố Kontum, Pleiku. Phải, chỉ là dân thường những người nghèo không đủ tiền mua vé máy bay vào những tuần, tháng trước. Trời cao nguyên buổi tàn Xuân gây gây rét vào sáng, càng về trưa nắng cao và nóng khô khan, đường bụi mù tung đỏ bám vào thành xe, nòng pháo, khí cụ, tóc và da mặt người, vạn tròng mắt đỏ rực. Những tròng mắt mệt mỏi lo âu, tuyệt vọng. Phía sau lưng, thị xã Pleiku bốc lửa ngọn, khói đen đặc ngật ngật bay lên cao hơn đỉnh núi Hàm Rồng. Lửa lóng lánh ánh sáng kinh dị trong đội người những người lính Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, thành phần hậu vệ đoàn di tản. Trời cao nguyên với thị trấn Pleiku thường chĩu nặng sương mù nay oằn thân vật vã trong màu lửa địa ngục. Lửa từ khối đống kim loại vũ khí, từ những kho quân nhu, quân cụ soi loang loáng chập chờn những đường dốc hun hút lẩn khuất dưới tàng thông. Tất cả đồng nhóm lên màu đỏ chói. Màu đỏ của máu lửa soi chập chờn đoàn người di tản thê thiết. Đoàn di tản qua được một ngày bình an. Bình an sống sót qua đói, khát, nhục nhằn và lo âu. Lính gục trên mũi súng, đàn bà, con trẻ nằm rũ lên hành lý, thành xe, đất cát. Được sống, được ngủ là hạnh phúc quá lớn hở trời? Còn biết kêu vào đâu? Với ai? Nhưng nỗi bình an này không kéo dài được, bởi người cộng sản chỉ trong ngày 16 tháng Ba đã tìm ra đáp số cho câu hỏi: Quân đoàn II đang tính gì sau chấn thương ngày 10 tháng Ba tại điểm bất ngờ Ban Mê Thuột? Qua máy dò tìm làn sóng điện, Bộ Tư Lệnh Mặt trận B3 cộng sản khám phá những phi cơ C47, C130 xuất phát từ phi trường Cù Hanh (Pleiku) đi Nha Trang không có lượt bay về. Sự kiện nầy đã trút mối âu lo của Tướng Dũng về việc lực lượng VNCH có thể điều quân tái chiếm Ban Mê Thuột. Thế nên Dũng ra lệnh cho Sư Đoàn 320 băng rừng truy kích đoàn di tản và Sư Đoàn 968 từ Lào về trên đường bôn tập về hướng Pleiku cũng được lệnh đâm ngang từ ngã ba Thanh An chuyển hướng hành quân dài theo Tỉnh Lộ 7 xuống đồng bằng vùng duyên hải miền Trung.
Ngày 16 tháng Ba, Một Chúa Nhật điêu linh tan nát dọc con đường đỏ sẫm đất núi và máu rây. Đoàn di tản bị chận ở phía Đông Củng Sơn, bị cắt rời ở quận Phú Túc, bị đuổi dập từ tây quận lỵ Phú Bổn. Xe tăng cán ngang lên GMC, xe GMC hất xe đò chở thường dân xuống vực thẳm, cũng hất luôn những xe jeep nhỏ, cán qua những chiếc xe Dodge 4 của Địa Phương Quân chở những người già và trẻ em tan tác. Chiếc Vespa của một gia đình chạy lông lốc, xiêu vẹo trên sườn đồi, đứa con, người vợ rơi tơi tả, người chồng, người cha rơi cuối cùng với chiếc xe vỡ toang trên mỏm đá. Và súng nổ… 105, 155 pháo binh, hỏa tiễn TOW, XM72 của phía Cộng Hoà; 130 ly, 122 ly, B40, B41 của phía cộng sản tất cả cùng hoà vào nhau thành một luồng hỗn âm tan tác làm rung rinh sắc núi mờ nhoà ánh nắng. Mặt trời bị chìm khuất trong khói xám. Có xác bà già ngồi dựa bờ đất bên lề đường, người khô quắt không vết thương. Dấu hiệu sự chết chỉ được nhận biết nơi ổ mắt, mũi, miệng… Đám kiến rừng bò lúc nhúc quay quắt đánh hơi. Ba đứa trẻ mắt lạc thần ngồi nhìn đoạn đường hỗn loạn không cảm giác. Bé trai nhỏ nhất gục đầu trên gối chị ngủ lay lắt.


Bao trùm tiếng la khóc khản đặc của người có âm thanh của đạn súng sơn pháo nổ thật gần. Sư Đoàn 320 Điện Biên bắn thẳng xuống đoàn di tản. Lính còn rõ phản ứng trú ẩn, chống cự, người dân chỉ biết đưa mắt nhìn lên nơi đặt súng, nơi có những tiếng nổ khô, ngắn trước khi bị bùng vỡ phá toang. Xác người tung lên theo đất bay bay. Cái chết không đơn giản, mau chóng bởi súng đạn. Chết còn bị nhận chìm từ từ trong lòng chiến xa khi chiếc xe tăng chúc đầu xuống đầu cầu nổi bắc qua sông Ba. Chiếc cầu bắc vội mỏng manh không th nào chứa nổi sức nặng vạn con người, vạn chiếc xe.. Chiếc xe tăng M48 như khối đá ấn mạnh xuống lòng chén nứt vỡ. Trong lòng xe có tiếng người hét nghẹn, trên pháo tháp có đám người ngoi ngóp, người đạp lên đầu, lưng, vai người để được thở được sống thêm vài giây ngắn. Chiếc xe chìm xuống im lặng, kéo theo, mang theo, đè xuống rất nhiều thây xác. Xích sắt điên cuồng đào xoáy giòng sông máu sẫm làm quẫy lên, tung tóe những tay chân người kẹp dính đâu dưới lườn xe.
Cuối cùng đoàn di tản cũng về đến Tuy Hoà vào ngày 25 tháng Ba do Tiểu Đoàn 58 Biệt Động Quân dẫn đầu. Hai trăm ngàn dân theo lính chạy loạn từ Kontum, Pleiku nay còn khoảng sáu chục ngàn người. 200,000 trừ đi 60,000 vậy đã chết bao nhiêu? Không ai có thể tính chính xác được số dân thiệt mạng. Người chỉ biết và đau với trường hợp của từng người thân, của mỗi gia đình, của chính thịt da mình. Trên chiếc trực thăng từ phi trường Đông Tác (Tuy Hoà) về Nha Trang, viên thiếu tá ngồi ôm đứa con nhỏ, gục đầu nín thinh khi đứa bé chợt nhớ và hỏi nhỏ
- Bà nội đâu hở ba?
Trong đêm khuya nơi trại tạm cư ở đèo Rù Rì, nghe những lời than vãn rời rạc lẫn tiếng khóc nấc nghẹn ghìm ghìm. Trên bãi biển Nha Trang từng khối người ngồi chập choạng dưới trăng khuya. Trăng vàng chạch, đỏ nhừ nhừ như máu bầm. Trong lòng người di tản từ cao nguyên đồng bằng trong tháng Ba năm 1975 hầu như ai cũng đọng khối máu uất nghẹn đau thương. Khối máu oan hờn của một dân tộc điêu linh chỉ khác người dân miền Trung chịu sớm nhất. Đau nhất.


Mùa Chúa chịu nạn giải cứu thế gian diễn ra cùng lần bức tử miền Trung. Khởi đầu buổi Đồng Tế tàn cuộc miền Nam. Bắt đầu từ Ngày 10 Tháng Ba ở Ban Mê Thuột, dọc Tỉnh Lộ 7B, con lộ máu dẫn về miền duyên hải. Hóa ra không cần đủ hết tháng Ba, để tiếp theo tháng Tư thấm máu toàn miền Nam sụp vỡ. Thế nên, người hôm nay phải viết lại, phải nói lên - Vì nếu không sẽ có tội - Tội với những người đã chết mà lượng người chết trên Tỉnh Lộ 7B là oan khiên đồng hiến tế khởi đầu lần tận diệt Quê Hương. Của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà.
Phan Nhật Nam
Bốn Mươi Năm Trận Ban Mê Thuột
Lần Khởi Cuộc Mất Quê Hương
(10 Tháng 3, 1975-2015)


Nguồn: Phố Núi Pleiku (phonuipleiku.org)




Các Số Báo Trước:


Định mệnh trớ trêuHai Hùng SG
Tấm thẻ bàiNguyễn Minh Châu
Chuyện người lính trinh sátPhạm Tín An Ninh
Vùng xôi đậuĐiệp Mỹ Linh
Tài liệu: Quân Nhân Hải Quân VNCH lập nhiều chiến công trong Cuộc Chiến Giữa Chính Thể V.N.C.H. và Cộng Sản Việt Nam 1954-1975Điệp Mỹ Minh biên khảo
Cơn nước lũĐiệp Mỹ Linh
Người lính VNCH Nguyễn Văn Răng Huỳnh Anh Tú
Người thương phế binh VNCH và những câu chuyện tình Huỳnh Anh Tú
Những Phi Vụ Tản Thương Chưa Hoàn Tất “The Impossible Rescue Mission”Hồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Căn cứ 40 chiến thuật Sư Đoàn 4 Không QuânHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Sau cuộc biển dâuPhạm Tín An Ninh
“Người ở lại Charlie”Mũ Đỏ Đoàn Phương Hải
Viên đạn đã lên nòngKiều Mỹ Duyên
Tháng Tư nhớ lại những ngày QLVNCH tử chiến tại Xuân LộcHồ Đinh
Nhân Ngày 19-6: Viết về người lính VNCH bất hạnhMường Giang
Tinh thần ngày quân lực VNCH 19-6 Đỗ Hồng
Một số nghi lễ thời VNCHLương an Cảnh.
Một thời yêu biểnTam Giang Hoàng Đình Báu
Chiếc ba lô để lạiNguyễn Văn Sâm
Khu rừng lá buôngPhạm Gia Đại
Trung Tá Nguyễn Văn Long Lê Xuân Nhuận
Vụ án Trần Quang Trân ở trại tù Tiên Lãnh Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh
Tháng Sáu và TôiNgười Lính Già (đxt)
Ngành Hoả Lực KQVNVNAF Xám Một
Buổi điểm danh cuối cùngHuy Phương
Văn Quang và Phạm Hậu, hai ‘linh hồn’ của Đài Quân ĐộiQuốc Dũng & Đằng-Giao
Phóng viên chiến trường: Mỗi cây bút là một sư đoànQuốc Dũng & Đằng-Giao
Đại Úy Quách Vĩnh Trường, người không đầu hàng nghịch cảnhĐằng-Giao/Người Việt
Chết trong tùPhan Việt Thủy
Người Lính VNCH & vành khăn tang Tổ QuốcHoàng Nhật Thơ
Mặt trận Tân Sơn Nhất ngày 29/4/1975Thành-Giang Texas USA
Chuyến ra khơi bi hùngĐiệp Mỹ Linh
Phi vụ cuối cùngCaptain Dương Văn Hoành
Gặp ngày hắc đạoDiều Hâu Nguyên Quân 225
Tạp ghi văn nghệ: Biến cố tháng Tư 1975 trong văn học Việt Nam hải ngoạiNguyễn Mạnh Trinh
Tình Nghĩa Anh emTôn Thất Đàn
Những chuyến bay đêmCaptain Dương Văn Hoành
Buồn đến kiếp nào nguôiKim Thanh
Trình Tổng Thống… tôi quyết định theo tình hình Mũ Xanh Phạm Vũ Bằng
Màu khăn quàng cổTrần Hoài Thư
Lê Thị Ý: Tác giả "Ngày mai đi nhận xác chồng"Đinh Quang Anh Thái
Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưu Trung Tá Lữ Triệu Khanh
Cần tài liệu về quân nhân Hải Quân V.N.C.H.Điệp Mỹ Linh
Một tư liệu lịch sử: 30/4/1975 Biên Hoà đã không thất thủHuỳnh Minh Tú
Nhớ Vũ Cao Hiến với bản Quân trường xưaĐỗ Xuân Tê
Viễn ThámLâm Chương
Kẻ sát nhân Khên-Tông
Một phiên gác đêmPhương Lan
Xuân và người línhNguyễn Mạnh Trinh
Người đàn bà muốn lên đỉnh núiHoàng Nga
Xuân và tình người trên rừng thiêng núi thẳm Vũ Đình Lưu
Người tù binh trở vềTôn Thất Đàn
Một đời cơ khí phi hành (mevos flight engineer) Không Quân VNCHThành Giang
Nhớ Phạm HuấnNguyễn Mạnh Trinh
Chuyện buồn người vợ tùTrần Thanh Minh
Điểm hẹn Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa - Bên nhau đi nốt cuộc đời 2016-2017 Lm. Antôn Lê Ngọc Thanh
Mùa Giáng Sinh đầu tiên trong tùNguyễn Mạnh Tiến
A Special Christmas MemoryPhan Đức Minh
Nỗi buồn Thương Phế Binh VNCH Cánh Dù lộng gió
Câu chuyện đồng nghiệp y khoaPhương Vũ Võ Tam Anh
Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mùNguyễn Mạnh Trinh
Trong nghĩa trang buồnHuy Phương
Bay trên lửa đạnKiều Mỹ Duyên
Về một đại đội cũTrần Hoài Thư
"Ride the thunder" Chân dung những anh hùng trong cuộc chiến Việt NamNguyễn Mạnh Trinh
Tháng Ba Gãy Súng – Một Cao Xuân Huy khácNgô Thế Vinh
Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Hồ Phú Bông
Thương Phế Binh bây giờ ra sao? Năm xích lô
Câu chuyện một thương phế binhBích Nga
Tiền sát viên Không Quân ALO-ASOC-DLOHồng Điểu Jovi miệt dưới
Khí phách của người lính Nghĩa Quânnguoiviettudo
Sư Đoàn 9 Bộ Binh - Sư Đoàn Mũi Tên Thép Nguyễn Phùng
Xâm nhập bất thành của những Anh Hùng Biệt Kích DùPhan Lạc Phúc
Viết cho một người línhĐặng Chí Hùng
Đời sống người tù cải tạoBác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Tàn cơn binh lửaBắc Đẩu Võ Ý
Người Xưa ĐâuVõ Thị Vui
Tôi vào lính!Đặng Kim Hoa
Tình đồng đội Philato
Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa: Chuông gọi hồn ai?Sơn Tùng
Bắt đầu nếm mùi miền Bắc XHCNNguyễn Huy Hùng
Người bạn bên kia sôngNguyễn Phú Thanh Huyền
Cuộc đời cơ cực của người lính VNCH Lê Văn Minh Huỳnh Anh Tú
Kế hoạch Delta của Lực Lượng Đặc Biệt Việt-MỹVương Hồng Anh
Người nội trợ trong đơn vịBích Nga
Những lá thư một thời của người lính Trâu ĐiênNgọc Anh
Một chuyến đổ bộ vào Thanh HoáNguyễn Văn Kha
Áo liền quầnNguyễn Viết Tân.
Cái áo Jacket không quânVNAF Nguyễn Viết Tân
Lôi Hổ và chiến dịch đột kích sang Lào và Cam BốtVương Hồng Anh
Những người lính không có số quânTrung Tá Nguyễn Văn Vinh
Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Long Tân (1966-2016) - Phỏng vấn Ch/h Huỳnh Bá Phụng (Phần 1)Tác giả: Trung Kiên
Kỷ Niệm 50 Năm Chiến Thắng Long Tân (1966-2016) - Phỏng vấn Ch/h Huỳnh Bá Phụng (Phần 2)Tác giả: Trung Kiên
Người bạn học và ông thầy cũPhạm Tín An Ninh
Sinh Nam tử BắcCá Kình Nguyễn Văn Tâm
Nhớ bạn, nhớ rừng, nhớ thời Lôi Hổ Hạ Sĩ Đoàn Văn Mạnh
Những chuyến đi định mệnh của Biệt HảiBiệt Hải Hồng Phúc
Tạp ghi văn nghệ: Đọc Saint Ex, nhớ một thời tuổi trẻNguyễn Mạnh Trinh
Biệt Hải trên vùng biển bão tốPhạm Phong Dinh
May mà có emTường Lam
Cái bóng của vị thầy tuPhạm Tín An Ninh
Mảnh đạn B40 & phép nhiệm mầuNguyễn Trãi
Đêm Không Gian Hội Ngộ 2016x…
An phi không quânHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Buổi điểm danh cuối cùng Tạp ghi Huy Phương
Lời hứa bên sôngĐiệp Mỹ Linh
Nghiã Quânnguoiviettudo
Hồi Ký của vợ người tù “cải tạo”Mai Thy
Giấc Mộng Kinh Hoàng Phan Đức Minh
Nhớ Ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6: Không Quên những người Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Phan Đức Minh
Quốc Hận 30/4: nhớ lại những cái chết anh hùng Lê Ngọc Danh
30 tháng Tư, 41 năm sau Giao Chỉ, San Jose
Trận Khánh Dương, cầm chân quân CSVN từ Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Vợ lính thời chinh chiến...Thôn Nữ Bàu Trai
Chén rượu đêm giao thừaTrần Ngọc Nguyên Vũ
Nguyên Đề Đốc Tư Lệnh Hải Quân V.N.C.H. Trần Văn ChơnĐiệp Mỹ Linh
Hai ngày gác ở Nghĩa Trang Quân ĐộiCao Bá Tuấn
Lễ phủ cờ, có nên hay không? Nếu có, thì phải nghiêm trang, đúng cách!Trực Ngôn
30 tháng Tư, 41 năm sau Giao Chỉ, San Jose
Trận Khánh Dương, cầm chân quân CSVN từ Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Chuyện của một ngôi trườngHà Việt Hùng
Công tác dở dangTrần Thị Bích Nga
Nhớ Tháng Ba Phạm Gia Thụy
Tháng Tư Đen tưởng nhớ Đại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng TĐ 42/SĐ22BBThăng Long
Tháng Ba Chôn SúngMũ Xanh Lê Khắc Phước
Truyện ký: Đệ nhất phu nhânThái Quốc Mưu
Tưởng Niệm Tướng Trần Văn HaiNgười Lính Già
Có nhau suốt đờiĐặng Kim Hoa
Cái chết của cha tôi Trung Tá Nguyễn Văn Long Giao Chỉ, San Jose
Giờ phút hấp hối cuả thành phố Đà Nẵng: Cuối tháng 3-1975Phan Đức Minh
Tiếm mạo Quân phục của Quân Lực VNCHx…
Trận Ban Mê ThuộtBùi Anh Trinh
Sư Đoàn 23 Bộ Binh và cuộc quyết chiến Ban Mê Thuột tháng 3-1975 Phạm Phong Dinh
Tôi đi tùNguyễn Nhơn
Tết trong trại tùVăn Quang
Xuân đoàn tụNguyễn Nhơn
Đầu năm nói chuyện về việc định cư Thương Phế Binh VNCH Văn Quang Sàigòn
Tết và những mảnh đời TPB/VNCH bất hạnh Cánh Dù lộng gió
Chuyện người vợ tù cải tạoDương Thị Năng
Sự ra đi của hai vị Tướng Tư Lệnh Phạm Tín An Ninh
Chiếm lại con đường, Cửa Sập, chiếm kại Kỳ ĐàiTrung Tá Nguyễn Văn Phán
Chiếm lại con đường, Cửa Sập, chiếm kại Kỳ ĐàiTrung Tá Nguyễn Văn Phán
Chuyến hải trình định mệnhLê Bá Thông
Dzuy Lynh, người lính chưa bao giờ giải ngũCát Linh
Thương phế binh VNCH khi cuộc chiến tànThanh Trúc
Trách chi người đem thân giúp nước...Giao Chi San Jose.
Nỗi buồn cuối năm, nỗi buồn cuối đời Tạp ghi Huy Phương
Vị tướng già trong nhà dưỡng lãoHuy Phương
Mùa Noel năm ấyJo.Vĩnh
Đêm hoa đăng bi thảmMĐ Nguyễn Văn Lập
Thương Binh VNCHx…
Tư Lệnh SĐ22BB Lê Đức Đạt tự sát tại chiến hàoVương Hồng Anh
Đại Bàng tháng Tư gãy cánhNguyễn Văn Lập
Đại Đội 3-Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù (LLĐB)Trương Văn Út (Mũ Đỏ Út Bạch Lan)
Tái chiếm đồi gióNguyễn Phúc Sông Hương
Củ khoai Yên BáyNguyễn Đình Phùng - Phạm Hữu Phước
Tấm ảnh hai người línhPhạm Tín An Ninh
Tạp ghi văn nghệ: Phạm Huấn, tháng mười tưởng nhớNguyễn Mạnh Trinh
Đại bàng gẫy cánhPhương Toàn
Nguyễn-Hữu-Cầu, anh là ai?...TLC. Bùi-Trọng-Nghĩa K18/TĐ
Người thương binh Cali
Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến - Đêm Hạ Lào! Đêm sao dài quá!MX Trần-Vệ
Bông hồng kính tặng các chị… “vợ lính”CaptovanK19
Bên bờ vực thẳmHồ Hoàng Hạ
Hành quân biệt kíchVũ Đình Hiếu
Chuyến bay cuối cùngTrần Ngọc Toàn
Những mảnh đời H.O. trên đất MỹNhất Hướng Nguyễn Kim Anh
Nơi người lính đi qua Phan Nhật Nam
Cộng sản nằm vùngPhan Nhật Nam
2015, cố vấn Mỹ tái ngộ Trâu ĐiênPhilato
Biệt Đội Thiên Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo Tuyết Mai
Biệt Đội Thiên Nga Ngọc Lan
Câu chuyện về một nữ quân nhân, và những lời cám ơn chưa kịp nóiPhạm Tín An Ninh
Sáng 30/4/1975 những đơn vị nào tiến về giải cứu thủ đô Saigon bỏ ngỏ?William Hoang
Hồi ức Sàigòn thời lính tráng Nguyễn Ngọc Chính
Cuộc hội ngộ của 2 người Thương Binh Huỳnh Anh Tú
Anh em tôi Nguoiviettudo
Tháng Tám và những người yêu nướcHành Tư
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhPhan Lạc Tiếp
Người bạn của ba tôiNguyễn Thanh Huyền
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhHành Tư
Ngàn nén hương tưởng niệm vị tướng lãnh duy nhất của QLVNCH hy sinh sau ngày 30 tháng 4 năm 1975x…
Những chiến sĩ nhảy toán - Nha Kỹ Thuật Lê văn Hậu
Giới truyền thông và tôi Mũ Đỏ Trương văn Út
Tiểu Đoàn 11 BĐQ tại căn cứ CharlieTư Kiên
Bạn Vànghoànglonghải
Đôi mắt thời chiếnThái Bảo
Anh hùng kẻ sĩ Nguyễn Ngọc Trụ: "Tôi không thích chế độ Cộng Sản" Tù Cựu (XM520)
Tù cải tạo trốn trại Nguyễn Hữu Chí
Hồi ức của một sĩ quan tùy viênBảo Định Giang
Tạp ghi văn nghệ: Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mùNguyễn Mạnh Trinh
Nghĩ về một đội quân đã gác súngViệt Tâm
Câu chuyện về gia đình cố Đại tá Hồ Ngọc CẩnGiao Chỉ
Chết trận Đồng XoàiGiao Chỉ - San Jose
Thương phế binh VNCH - những mảnh đời bỏ lạiHà Vân
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ MinhBùi Tiết Quý
Đời sống người tù "cải tạo" Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức
Nhớ Vũ Cao HiếnT.Vấn
Ngày buồn nhất đời tôiHuy Vũ
Những trận đánh cuối cùng và chân dung người lính VNCHSơn Tùng
Quãng đời tôi từ chiến tranh đến hoà bìnhLương Phạm
Nhớ nhàBác Sĩ Nguyễn Sơ Đông
Nữ phóng viên chiến trường Điệp Mỹ Linh 40 năm nhìn lạiPhạm Phú Nam
Đắp mộ cho anhKỳ Sơn
Tôi đi thăm chồng "cải tạo"Minh Hòa
Tháng Tư buồn năm ấy!Đỗ Dung
30 tháng 4Hồ Đình Nghiêm
Trận chiến hào hùng và cuối cùng của Thiếu Sinh Quân Vũng TàuNguyễn Lộc Yên
Thiếu tướng Nguyễn Khoa NamViệt Thái
Tướng Lê Văn Hưng, người hùng An LộcViệt Thái
Đi thăm Chồng Trần Văn Giang
Ban Mê Thuột thất thủ như thế nàoNguyễn Định
12 ngày đêm trận chiến Xuân LộcMặc Lâm
Chuẩn Tướng Quân Lực VNCH Lê Nguyên Vỹ, Vị Anh Hùng Tuẫn Tiết Ngày Quốc Hận 30-4-1975 x...
Đại Tá Hồ Ngọc CẩnNguyễn Văn Khậy
Nguyễn Ngọc Hạnh - Triển lãm lần cuối cùngGiao Chỉ SJ
Khi con người muốn làm con bòHoàng Lân
Anh hùng Hồ Ngọc CẩnViệt Thái
Trận đánh cuối cùng của một Đại úy Bộ binh VNCHHòa Ái
Những ngày cuối cùng của Huế và Đà NẵngLê Hùng
Từ chiến trường Khe Sanh đến chiến dịch Tết Mậu ThânPhan Đức Minh
Tấm Thẻ Bàix…
Tâm bút: Cố Hải-Quân Trung Tá Hồ Quang Minh, một sĩ quan can trường, đảm lược của các đơn vị tác chiến H.Q./ V.N.C.H.Điệp Mỹ Linh
Hành trình HOMặc Lâm
Câu chuyện cảm động của một Đại Tá phi công Hoa Kỳ từng bị tù VCWilliam S. Reeder
Cho bác ăn thịt trâuBồ Tùng Ma
Mùa Xuân ở Suối MáuNguyễn Thiếu Nhẫn
Valentine trong di sản chiến tranhGiao chỉ San Jose
Tạp ghi văn nghệ: Thơ cảm khái cuối nămNguyễn Mạnh Trinh
Hành trình làm xin hưởng quyền lợi theo qui chế Quân Đội Đồng Minh của Hội Cựu Chiến Binh ÚcLương An Cảnh
Viết những dòng này…Trần Trung Tá
Một ngày Thủ Đức-Một đời Thủ ĐứcTrúc Giang MN
40 năm cuộc sống người thương phế binh VNCHGia Minh
Xuân về trên đầu súng! Lê Tường
19/1 ngày tưởng niệm Hoàng Sa nhuộm máuLê Thương
Bút ký chiến trường: Người lính dần đi xa... Phan Nhật Nam
19/1 ngày tưởng niệm Hoàng Sa nhuộm máuLê Thương
Bút ký chiến trường: Người lính dần đi xa... Phan Nhật Nam
Hải chiến Hoàng Sa dưới ký ức của một người tham chiếnMặc Lâm
Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại kể về hải chiến Hoàng Sa 1974 x…
Sau 39 năm, nhìn lạiNgô Đình Châu
Thằng nhỏ cầm cái lon…Minh Tạo
Phong Lôi HổĐiệp Mỹ Linh
Trần Công Minh, xạ thủ trực thăng chết trẻ Huy Phương
Giọt máu rơi của người lính chết trẻPhùng Annie Kim
Vĩnh Biệt Nguyễn SơnMũ Đỏ Út Bạch Lan
Biên trấnKiều Mỹ Duyên
Những ngày gãy vụn
Thanksgiving: Tạ ơn Chiến Sĩ Cộng HoàChu Tất Tiến
"Giã từ Sàigòn" Cao-Đắc Tuấn
Chiều dừng quân bên biên giớiKiều Mỹ Duyên
Chiều mưa trên đồi simKiều Mỹ Duyên
Người tù, chiếc lon gô và nhà kỷ luậtĐỗ Văn Phúc
Chuyện tình thời mất nướcLê Dủ Chân
Vui lây với ngày Hội Ngộ Quân Y Hải Quân toàn thế giới năm 2014Trúc Giang, MN
Người lính bảo vệ tự do - Trung tá Lê Văn Ngôn trấn thủ Tống Lê Chân như thế nào?Đổng Duy Hùng
Khóa 10, CSQG những ngày cuối cùngNguyễn Minh Hùng (K10)
Hồi ký: Kỷ niệm hội ngộ Khóa 6/68 SV/TB Thủ Đức, 2014 và những hoài niệm riêngĐiệp-Mỹ-Linh
Vài kỷ niệm với Công Ty Đại DươngChu Tất Tiến
Gương bất khuất trong tù Đỗ Văn Phúc
Đằng sau cuộc chiếnPhạm Tín An Ninh
Ngu như lợnCao Xuân Huy
Vợ LínhNguyễn thị Thêm
Trả lại sự thật cho chiến sử VNCH một chiến công bị quên lãngĐỗ Văn Phúc
Như Hoa Cỏ RụngAn Phu Vang
Tại sao không giữ lời hứa với Mẹ tôiNguyen Bao Tuan
Lịch sử bức tượng “Thương Tiếc” Nguyễn Ngọc Chính
Người lính tiên phongGiang Văn Nhân
Người lính làm thơ mang bút hiệu Trạch GầmĐinh Lâm Thanh
Xin Tri ÂnHùng Biên
Người lính già không bao giờ chếtLê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch-Hãn
Tùy bút: Hai người em Sĩ Quan Thủ ĐứcĐiệp Mỹ Linh
Đồn Dak SeangTrường Sơn Lê-Xuân-Nhị
Ông giáo sư dạy SửVương Mộng Long
Đọc "Sau cơn binh lửa" của Song Vũ Nguyễn Kỳ Phong
Song Vũ, người vẫn chưa thể bước ra khỏi cuộc chiếnĐỗ Trường
Chuyện người lính trinh sátPhạm Tín An Ninh
Một kỷ niệm khó quên đêm 30/4/1975Tiêu Nhơn Lạc (MĐC67)
Phi vụ rọi ếchHồng Điểu Jo. Vĩnh SA
Thượng sĩ Nguyễn Ngọc Ánh: Người chết ở giờ thứ 25Đông Phương
Tạp ghi văn nghệ: Nói chuyện với nhà văn Song VũNguyễn Mạnh Trinh
Song Vũ và bút ký “Sau Cơn Binh Lửa”theo VienDongDaily
Ghi tạc Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng HòaNguyễn Lộc Yên
Hào hoa là lính không quânHoàng Khởi Phong
Tôi không chết đâu (1975) Cao-Đắc Tuấn
Thắp nén hương lòngMi Sa
Tháng Tư Đen, đọc lại “Thép Đen” của Đặng Chí BìnhNhư Hoa
Hương Bồ KếtHạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Mật khu và Chiến Khux…
Vài mẩu chuyện về Tướng Cao Văn Viên Người Lính Kèn (SA)
Hành trình HOMặc Lâm
30 tháng 04 - Đập cổ kính ra tìm lấy bóng... Nguoiduatin
Trận Chiến Đấu Bi Hùng của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu Tháng 4, 1975CTSQ Nguyễn Anh Dũng và CTSQ Lâm A Sáng
15 ngày tử thủ Phan RangPhạm-Ngọc-Sang
Đem quá khứ, gửi tương laiGiao Chỉ San Jose
Bia đá đợi chờ - 39 năm sauGiao Chỉ SJ
30-4: Ngày tháng sau cùng, anh ở đâu?Captovan
Tấm Thẻ Bài Trần Thiện Phi Hùng
Lữ Đoàn 147: Từ một cuộc di tản chiến thuật 1975Mũ Xanh Phạm Văn Tiền
Tưởng niệm vị tướng của mùa hè đỏ lửa: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1929-2007) Nguyễn Kỳ Phong
Thương tiếc Tinh Long 7 PĐ 821 bị bắn rớt trên không phận TSN sáng sớm ngày 29/4/1975!Thái Ngùng
Buổi dạy Việt Văn cuối cùngVương mộng Long
Tìm thấy 21 hài cốt quân nhân VNCH tại Thuận An, HuếHuy Phương
Trận chiến sau cùng của Tiểu Đoàn 9 Thuỷ Quân Lục ChiếnTân An Đoàn Văn Tịnh
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn emPhạm Tín An Ninh
Nợ Đời một nửa, còn một nửa nợ ơn emPhạm Tín An Ninh
Tạp ghi văn nghệ: Nhân ngày giỗ đầu của nhà truyền thông Vũ Quang NinhNguyễn Mạnh Trinh
Không một lời than thởGiao Chỉ, San Jose.
Tháng Ba không đềN.C.M
Tết lính nhìn lạiPhương Toàn
Con gái của người ta Trần Thiện Phi Hùng
Ba của người TaCon Gái của Trần Thiện Phi Hùng
Một chuyện tình không tên, có thật của một cựu phi công thuộc KQ/QL/VNCHPhạm Tín An Ninh
Thời thế, thiện, ác, và... con người Vương Mộng Long- K20
Phóng viên chiến trường Nguyễn CầuGiao Chỉ, San Jose
Nhớ nhàBác sĩ Nguyễn Sơ Đông
Đón xuân nầy nhớ xuân xưaHHS.Delta81BCND
Lễ hạ kỳ ngoài khơi Subic Bay 12 giờ trưa 7 tháng 5-1975Giao Chỉ, San Jose
Chuyện kể trong tù nhân một dịp Tết: Kho vàng của thượng tướng CSVN Chu Văn TấnVõ Đại Tôn
Tưởng nhớ Tướng Bùi Thế LânVăn Quang, Sàigòn
Tâm sự 40 năm với 4 Chiến hữu Người nhái đã hy sinh vì Hoàng Sa Đặng Đình Hiền
Nỗi uất hận của vị tướng thất trậnTopa
Một câu chuyện buồn 74 Nhóm Hành Khất
Kẻ sống sót trong trận Hải chiến Hoàng Sa Nhóm Hành Khất
Bút ký: Một cái Tết khó quênPhan Đức Minh
Lá thư Giáng Sinh không gởiĐinh văn Tiến Hùng
A Special Christmas Memory Phan Đức Minh
Tạp ghi văn nghệ: Đọc Saint Ex, nhớ một thời tuổi trẻNguyễn Mạnh Trinh
Nghệ thuật bỏ đói Huy Phương
Tấm thẻ bàiThanh Vân
Anh Linh Tử Sĩ VNCH còn mãi mãiNguyễn Thị Trúc Mây
Nhớ về người Tư Lệnh cũ Đỗ Văn Phúc
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù trong những ngày cuối cùng tại miền Nam VNMũ Đỏ Nguyễn Văn Đỉnh
Phi vụ tử thầnLý Tống
Ngọn lửa hình như chưa nguội trong trái tim của người lính năm xưa Huy Phương
Trò chuyện với “một người lính viết văn”: Phan Nhật NamHoàng Lan Chi
Tiểu sử ngành Quân Nhạc QLVNCHx…
Người vợ lính ở Thủ ĐứcGiao Chỉ
Một chuyến điĐỗ Phương Khanh
Những con cào cào xanhDương Thịnh
Vượt tuyến Mỹ Chánh Song Chùy 11