NAM UC Tuan Bao NAM UC Tuan Bao

Khoa Học &Đời Sống

 

Quyết tâm đầu năm

 

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Chắc cũng chưa quá trễ để nêu ra những điều muốn thực hiện trong năm sắp tới. Vì bây giờ mới là giữa tháng Giêng dương lịch và còn hơn một tháng nữa mới Tết Nguyên Đán Việt Nam, năm của Chúa Sơn Lâm, Ông Ba Mươi, Ông Hổ.
Quyết tâm là sự cố gắng thực hiện cho bằng được một điều gì dù là có gặp khó khăn trở ngại. Sự cố gắng này diễn ra hàng ngày trong sinh hoạt thường lệ của con người, vì cổ nhân đã nói “ Sống cho có sống mà không cố gắng là sống vô vị”.
Tuy nhiên, vào mỗi dịp đầu năm, thì nhiều người vẫn có thói quen tính sổ, ôn lạị chuyện vui buồn, thành công, thất bại trong năm cũ rồi đưa ra những ước vọng sẽ thực hiện vào năm sắp tới. Đó là “Quyết Tâm Đầu Năm- New Year Resolutions”.
Theo một số nghiên cứu, tập tục này đã xuất hiện từ nhiều ngàn năm về trước ở triều đại Babylon. Ước muốn của dân chúng lúc đó rất ư giản dị là họ sẽ hoàn trả dụng cụ canh nông như cầy cuốc mà họ đã mượn của hàng xóm hoặc trang chủ. Đối với nông dân, các dụng cụ canh tác rất quý, mượn phải trả.
Rồi tới đế chế La Mã, quyết tâm đầu năm là tìm kiếm sự tha thứ từ đối phương cho các lỗi lầm đã gây ra trong khi bành trướng.
Việt Nam mình có phong tục chúc mừng Tết Nguyên Đán. Người lớn chúc nhau được khang an thịnh vượng; trẻ em được ông bà cha mẹ mừng tuổi, mau ăn, chóng lớn. Con cháu cảm ơn, chúc thọ ông bà cha mẹ và cũng hứa sang năm sẽ ngoan hơn, học hành chăm chỉ hơn.
Về lãnh vực tôn giáo, lời hứa không ăn thịt, uống rượu trong Mùa Chay của Cơ Đốc Giáo hoặc suy gẫm lại những lầm lẫn đã phạm trong năm trước rồi tha thứ và xin tha thứ của Do Thái Giáo trong dịp đầu năm cũng có những tác dụng tương tự để tự sửa mình.
Ngày nay, lời tự hứa hoặc cam kết sẽ làm của dân chúng thường rất thực tế. Quá mập phì ư? Thì quyết tâm năm tới sẽ giảm cân. Bỏ thuốc lá để khỏi ho hen, tránh ung thư phổi. Tiêu pha phung phí thì sẽ cố gắng giảm chi, tiết kiệm trả hết nợ cũ…
Thực hiện được “quyết tâm đầu năm” cũng mang lại niềm vui tâm lý cho bản thân. Những điều muốn làm là những thách thức để mình cố gắng vượt qua.Ta phải vận dụng trí óc, tìm kiếm phương thức thực hiện. Đó là những động lực thúc đẩy ta, khiến ta cương quyết hơn để kết luận “cố gắng là mẹ thành công”, chẳng khó khăn nào mà không vượt qua được.
Về phương diện xã hội, có những lúc mình cảm thấy thấp kém về vai vế, về tính tình, về hình dáng so với người khác thì mình quyết tâm thay đổi. Để bằng người. Thực hiện được quyết tâm thì niềm tự tin cũng cao hơn.
Tuy nhiên, dù có nhiều người muốn quyết tâm, nhưng các thăm dò cho hay, tỷ lệ thành công không cao lắm: chỉ 20-30% mà thôi. Lý do bỏ cuộc là không có kế hoạch cụ thể, thực tế và không kiên tâm. Lập một danh sách thì dễ nhưng thực hiện mới khó.
Muốn Quyết Tâm được kết quả như ý muốn cũng công cần lưu ý mấy điều:
1- Trước hết là cần thoải mái, cân nhắc viết ra những khó khăn, thành công trong năm vừa qua. Nghiền ngẫm đọc đi đọc lại rồi lựa xem vấn đề nào là quan trọng nhất, không thay đổi không được và phải thực hiện với bất cứ giá nào.
2- Nêu rõ lý do thất bại của từng vấn đề trong quá khứ, rút ưu khuyết điểm. Thất bại vì mình hoặc vì ngoại cảnh, vì không có phương tiện, thì giờ, vì nhiều cạnh tranh…
3- Đặt thứ tự ưu tiên vấn đề nào cấp bách thì làm trước.
4- Ghi rõ chi tiết các vấn đề một cách chính xác, rõ ràng
5- Nếu thấy cần, hoàn tất từng vấn đề chứ chẳng nên ôm đồm nhiều việc một lúc.
6- Chương trình thực hiện quyết tâm rõ ràng. Làm như thế nào, ở đâu, có cần sự tiếp tay của người khác. Nêu ra những phương thức thực tế, có thể thực hiện được.
7- Đặt thời gian thực hiện. Ghi kết quả của từng giai đoạn.
8- Chia xẻ với người thân về ý muốn của mình và nhờ hỗ trợ tinh thần.
9- Cần phải tự kỷ luật, tuân theo phương thức hành động đã nêu ra và làm việc có nguyên tắc
Lấy một vài thí dụ:
Để giảm mập, phải ghi rõ là làm cách nào để giảm cân thì phải suy nghĩ không ngoan, ăn uống đúng cách, vận động nhiều hơn với mục tiêu là giảm 1,2,3.. kí trong 2 tuần lễ. Chứ không phải chỉ khơi khơi nói là sẽ giảm mập.
Để kiếm nhiều tiền thì cũng có nhiều phương thức khác nhau nhưng điểm quan hệ là phải cố gắng, làm việc hết sức mình một cách có tổ chức và tính toán chi tiêu đúng với nhu cầu. Chứ không phải chỉ nêu ra ước muốn rồi “há miệng chờ sung”.
Muốn bỏ thuốc lá ư? Thì hãy nghĩ tới hậu quả hen suyễn như gà mắc dây thung mỗi khi hít khói thuốc vào phỗi, hoặc nghĩ tới Hội Ung Thư Hoa Kỳ cho hay 90% tử vong ở nam giới, 80% ở nữ giới vì ung thư phổi là do cả mấy ngàn hóa chất trong thuốc lá gây ra. Muốn tránh các hiểm nguy trên, cần phải ngưng hút thuốc lá. Có nhiều phương thức, dược phẩm do các cơ quan y tế công tư sẵn sàng tiếp tay. Chỉ cần cương quyết là “giã từ khói thuốc” được ngay.
Rồi lại còn quyết tâm dành nhiều thì giờ cho vợ chồng, con cái; giảm căng thẳng trong đời sống, học thêm vi tính, làm việc thiện nguyện…Kể ra thì có nhiều quyết tâm muốn làm.
Nhưng có lẽ “Quyết Tâm cho Mỗi Buổi Sáng của Năm Mới, do nhà giáo dục và lãnh đạo tôn giáo Hoa Kỳ, Giám Mục John H. Vincent (1832-1920) viết ra, là khá thực tế, có thể thực hiện được. Xin lược dịch gửi quý thân hữu.
“Hôm nay tôi sẽ cố gắng giản dị, chân thật và trong sáng, xua đuổi mọi tư tưởng bất mãn, lo âu, chán nản, đen tối, vụ lợi; nuôi dưỡng sự hào hứng, cao thượng, bác ái và thói quen im lặng thần thánh; áp dụng cần kiệm chi tiêu, dè dặt trong đối thoại, siêng năng với nhiệm vụ được giao phó, trung thành với sự thực và đặt trọn niềm tin nơi Thượng Đế”.
Ước muốn chỉ có vậy mà quá ư xúc tích, làm được thì cuộc đời nhẹ nhàng biết là bao.!
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D. Texas-Hoa Kỳ

 

 

 

Sau nhiều năm im lặng, tòa Bạch ốc phổ biến Phúc Trình về Khí Hậu

Trần Hồng Văn lược dịch

Sau nhiều năm im lặng, do lệnh của tòa án hôm thứ Năm ngày 29 tháng 5 năm 2008 vừa qua, tòa Bạch Ốc mới cho phổ biến một bản tài liệu được gọi là “mối đe doạ cho quốc gia” do con người tạo nên tình trạng hâm nóng trái đất.
Bản phúc trình dày 270 trang này là một tổng hợp các cuộc nghiên cứu trên nước Mỹ cũng như tại khắp nơi trên thế giới và là một vấn đề nhức nhối cho chính quyền của tổng thống Bush. Nhà khí hậu học người Gia Nã Đại Andrew Weaver nói bản phúc trình này là một tin xấu cho nước Mỹ. Nhà sinh vật học Thomas Lovejoy, một khoa học gia duyệt lại bản phúc trình trước khi cho phổ biến đã nói: “Đây là một bức tranh nói lên tất cả mọi sự thay đổi trong hệ thống môi sinh trên toàn quốc và nó có ảnh hưởng trực tiếp cho mọi người”.
Bản phúc trình đã đề cập tới những vấn đề sau đây:
- Tử vong của con người gia tăng do ảnh hưởng của độ nóng cũng như mức ô nhiễm trong không khí.
- Càng ngày càng thiếu nguồn nước cho dân chúng trong các đô thị và ngành nông nghiệp. Từ California cho tới New York, nạn thiếu nước là mối lo ngại lớn lao.
- Thiếu hụt hàng tỉ dollars để xây dựng thêm các nhà máy điện. Ví dụ tại Seattle vào cuối thế kỷ này, mức tiêu thụ năng lượng sẽ tăng lên 146 %.
- Số tử vong và thiệt hại về vật chất sẽ tăng gấp bội do nạn cháy rừng, bão tố và các thiên tai khác. Trong 3 thập kỷ qua, mùa cháy rừng tại miền Tây đã tăng lên 78 ngày.
- Lan truyền bệnh tật do côn trùng hay các vi trùng lây lan qua thực phẩm và nước cũng như dịch bệnh gây thiệt hại cho ngân sách quốc gia khoảng 1.5 tỉ mỗi năm.
Bản phúc trình nói thêm: “ Cuối cùng, sự thay đổi về khí hậu sẽ ảnh hưởng tới hệ thống bảo vệ sức khỏe của nước Mỹ, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới người nghèo, người lớn tuổi, người tàn tật và những người không có bảo hiểm”.
Theo phán quyết của tòa án vào năm 1990 thì cứ mỗi 4 năm, chính quyền phải công bố một bản phúc trình về sự thay đổi về khí hậu trên toàn cầu. Nhưng kể từ năm 2000, chính quyền đã im lặng, do đó, một nhóm nhà bảo vệ môi sinh đã xin tòa án một phán quyết buộc chính quyền Bush phải công bố phúc trình này vào cuối tháng 5 vừa qua.

Tóm Lược
1- Nhập đề:
Khí hậu đang thay đổi và sự thay đổi này có ảnh hưởng tới cả thế giới quanh ta. Để đối phó với những sự thay đổi này cũng như chuẩn bị cho những gì sẽ xẩy ra trong tương lai, những nhà lãnh đạo cần những dữ kiện về sự thay đổi khí hậu trên toàn cầu và hậu quả của nó trên đất nước này cũng như trên toàn thế giới nơi ta sinh sống.
Hội đồng khoa học quốc gia phối hợp, cân nhắc và diễn dịch những công trình nghiên cứu của Chương Trình Nghiên Cứu Thay Đối về Khí Hậu (U.S. Climate Change Science Program, CCSP) cũng như rút tỉa và tổng hợp những công trình nghiên cứu khoa học khác, bao gồm những phúc trình của Hội Đồng Liên Quốc Gia về Thay Đổi Khí Hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change, IPCC). Hội đồng sẽ phân tích những thay đổi hiện nay do thiên nhiên cũng như con người gây nên và sẽ phác hoạ một sự thay đổi trong tương lai, cũng như phân tích những hậu quả của sự thay đổi này trên môi sinh, nông nghiệp, nguồn nước, hệ thống xã hội, việc sản xuất năng lượng, vận tải và sức khỏe của con người. Ngoài phúc trình về sự thay đổi khí hậu ra, hội đồng cũng nói về những sự thay đổi khác như các nguồn nước, tình trạng các đại dương, bầu khí quyển, sản xuất của đất đai và các hệ thống sinh thái, tất cả có ảnh hưởng tới trái đất và con người.
2- Các nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu:
Càng ngày sự hiểu biết về khí hậu thay đổi càng nhiều khiến cho các nhà khoa học có những kết luận càng chính xác về các nguyên nhân cũng như những hậu quả. Ví dụ kết luận mới đây của IPCC cho biết nhiệt độ trung bình của trái đất đã gia tăng và phần lớn do việc sản xuất các chất tạo nên tình trạng “nhà kiếng”, và chính là do con người đã tạo nên ảnh hưởng cho sự thay đổi khí hậu trên trái đất. Vài loại hơi được phóng thích vào bầu khí quyển đã giữ năng lượng mặt trời lại (Chính ra phải được phóng trở lại không gian), hậu quả là làm trái đất bị hâm nóng. Những chất hơi tạo nên tình trạng “nhà kiếng” bao gồm hơi nước, carbon dioxide, methane, ozone, nitrous oxide, vài loại hơi chứa chất fluorine và chlorine, trong đó chất carbon dioxide giữ vai trò hàng đầu. Ví dụ trong thế kỷ thứ 18, độ đậm đặc của chất này trong bầu khí quyển là 280 ppm (phần triệu) đã lên tới mức 383 ppm vào năm 2007. Việc đốt các nhiên liệu hoá thạch (như than đá) cũng như việc khai thác đất đai là nguyên do chính cho sự gia tăng này. Nói chung thì những chất hơi trong bầu khí quyển tạo nên tình trạng “nhà kiếng” gia tăng đáng kể trong thế kỷ vừa qua.
Cộng vào với chỉ số nhiệt độ trung bình, tác động của con người cũng ảnh hưởng sâu xa vào sự khắc nghiệt của thời tiết. Có nhiều chứng cớ về sự khắc nghiệt này như là sự thay đổi về số ngày băng giá hàng năm, số ngày nóng và lạnh, số đêm nóng và lạnh. Có nhiều chứng cớ con người làm trái đất nóng dần lên tạo nên những điều kiện khắc nghiệt về mùa hè tại vài vùng, làm tan các tảng băng đá vùng bắc cực, mực nước biển dâng cao, thay đổi về gió cũng như mưa trên đại lục.
Theo như phúc trình của CCSP, việc gia tăng các chất hơi trong hiện tượng “nhà kiếng” do con người tạo ra đã làm gia tăng nhiệt độ trên mặt nước các đại dương khiến các trận bão có cường độ lớn thành hình. Có một mối liên kết chặt chẽ giữa nhiệt độ của nước trên mặt biển Đại Tây Dương và những hoạt động của bão tố tại vùng này khi quan sát vế cường độ, và nhịp độ các trận bão trong suốt 50 năm qua.
3- Những chiều hướng và dự đoán trong sự thay đổi:
Phần này sẽ nói về những chiều hướng đã ghi nhận được và những dự đoán về sự thay đổi bên ngoài cũng như những thành phần của môi sinh.
3.a- Nhiệt độ:
Hệ thống khí hậu trên trái đất đang nóng dần, đó là những chứng cớ quan sát được, như việc gia tăng nhiệt độ trung bình của không khí và nước biển, kết quả là băng đá tại bắc cực đang tan dần. Theo như tính toán của IPCC, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng trong 100 năm vừa qua là 1.33 độ F. trong khi nhịp độ gia tăng trong 50 năm qua gấp đôi so với 100 năm qua. Thêm vào đó, cũng với phúc trình của IPCC, nhiệt độ trung bình vùng Bắc Bán Cầu trong 50 năm sau của thế kỷ thứ 20 nóng hơn bất cứ 50 năm nào trong suốt 500 năm qua và cũng là giai đoạn nóng nhất tại Bắc Bán Cầu trong 1,300 năm qua.
Giống như nhiệt độ trung bình trên thế giới, nhiệt độ tại nước Mỹ cũng tăng trong thế kỷ thứ 20 và vào thế kỷ thứ 21. Thập niên vừa qua là thập niên nóng nhất trong hơn một thế kỷ qua. Nhiệt độ trung bình trên nước Mỹ gia tăng gần 0.6 độ F. cho mỗi thập niên trong vài chục năm gần đây.
Số luồng hơi nóng tăng lên kể từ năm 1950, nên nhớ là các luồng hơi nóng có liên hệ với nạn hạn hán. Trong khoảng năm 1930 được coi là khắc nghiệt và được ghi nhận trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong vài thập niên vừa qua có rất ít ngày lạnh bất thường và cũng trong 10 năm qua, luồng hơi lạnh ít hơn bất cứ khoảng thời gian 10 năm nào, kể từ năm 1895.
IPCC kết luận là việc phóng ra các chất hơi tạo cho hiện tượng “nhà kiếng” với tốc độ như hiện nay hay nhiều hơn nữa sẽ gây ra việc nhiệt độ gia tăng nhiều hơn nữa và có rất nhiều thay đổi ghê gớm trong thế kỷ thứ 21. Trong khoảng 20 năm tới, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên khoảng 0.3 tới 0.4 độ F. cho mỗi thập niên. Những sự thay đổi trong tương lai do thiên nhiên tạo ra như nhiều ngọn núi lửa sẽ hoạt động hơn cũng cộng thêm vào việc làm nhiệt độ trái đất gia tăng. Vào giữa thế kỷ thứ 21, nhiệt độ trái đất tăng lên từ 2 tới 3 độ F. và cho đến cuối thế kỷ sẽ tăng lên 7.2 độ F.
3.b Mưa, hạn hán:
Theo những dữ kiện ghi nhận được, tổng số lượng nước mưa trên toàn nước Mỹ tăng lên 6% kể từ năm 1901 đến 2005. Vùng chịu mưa nhiều nhất là miền Bắc Trung Tây và miền Nam Hoa Kỳ. Những trận mưa lớn tăng lên đáng kể nhất là trong ba thập kỷ cuối thế kỷ thứ 20 tại những vùng phía Đông, đồng thời những trận hạn hán trầm trọng xẩy ra tại vùng Tây Nam kể từ năm 1999 tới 2007. Những vùng Đông Nam cũng chịu những trận hạn hán đáng kể.
Thủy lượng tại các vùng miền Đông Hoa Kỳ gia tăng 25% trong 60 năm qua, tuy vậy tại vùng Rocky Mountain thì giảm đi khoảng 2% cho mỗi thập niên trong thế kỷ qua. Với dự đoán trong thế kỷ thứ 21 thì vào mùa Đông, lượng nước mưa sẽ gia tăng tại các vùng miền Bắc và giảm tại các vùng miền Tây Nam; Vào mùa hè lượng nước mưa sẽ giảm tại các vùng Tây Bắc và tăng tại vùng Alaska. Tổng quát thì lượng nước mưa sẽ tăng tại các vùng miền Bắc vào mùa đông và giảm đi tại các vùng miền Tây và miền Nam vào mùa hè. Trong thế kỷ thứ 21, Bắc Mỹ mưa sẽ ít nhưng lớn hơn. Bão tố nhiều hơn, kèm theo những trận sóng thần dọc theo các bờ biển.
3.c Băng đá và tuyết:
Những nhận xét chứng minh rõ là băng đá vùng Bắc Cực đã giảm 2.7% mỗi thập niên trong khoảng từ năm 1978 tới 2005. Sự giảm thiểu này rõ ràng nhất là vào mùa hè (giảm 7.4 % mỗi thập niên). Diện tích băng đá vùng Bắc Cực giảm khoảng 23% so sánh với nhận xét vào năm 2005. Thêm vào đó, chỉ trong khoảng thời gian từ năm 1987 tới 1997 chiều dầy trung bình của các tảng băng đá này giảm đi 3 feet (theo tài liệu của Sở Nghiên Cứu Khí Hậu vùng Bắc Cực và IPCC). Việc giảm chiều dầy và thu gọn diện tích các tảng băng làm cho lượng nước gia tăng và gió tạo nên các làn sóng mạnh và tạo nên hiện tượng soi mòn dọc theo bờ biển vùng Alaska.
Khoảng thời gian từ tháng Mười Một tới tháng Giêng kể từ năm 1915 tới 2004, tuyết bao phủ vùng Bắc Mỹ gia tăng, tuy vậy thời gian tuyết phủ vào mùa Xuân tại các vùng núi miền Tây Hoa kỳ giảm đi đáng kể trong hậu bán thế kỷ 20, theo phúc trình của IPCC thì nguyên nhân hiện tượng này là do ảnh hưởng của trái đất bị hâm nóng. Tại Alaska, những nơi bị băng đá che phủ đang tan dần với tỉ lệ 1.6 inches mỗi năm kể từ năm 1992.
Theo như các ghi nhận và phân tích trong suốt 150 năm qua tại Bắc bán cầu, thời gian các sông ngòi và hồ bị đông đá chậm hơn ( trung bình 5.8 ngày mỗi thế kỷ) và thời gian băng đá tan ra xẩy ra nhanh hơn ( trung bình 6.5 ngày mỗi năm). Thêm vào hiện tượng thay đổi về băng đá và tuyết, các tảng băng đang nhanh chóng mất dần khối lượng tại vùng Tây Bắc Mỹ và Alaska. Việc mất này xẩy ra rất nhanh chóng tại Alaska sau nửa thập niên 1990.
Khi mà nhiệt độ ngày càng gia tăng, tuyết phủ mặt đất ngày càng giảm, theo như IPCC thì vào cuối thế kỷ này, vào mùa hè tại các biển vùng Bắc cực sẽ không còn các tảng băng nữa, tuy vậy nhiều dự đoán cho là chỉ cho tới năm 2040 thì tình trạng này sẽ xẩy ra. Băng đá và những khối băng trên mặt đất sẽ mất dần khối lượng và sẽ tan nhanh vào mùa hè để lượng nước mưa sẽ nhiều hơn vào mùa đông. Hiện tượng này làm mực nước tại các đại dương tăng cao. (Trong một phúc trình công bố ngày 28 tháng 6, 2008 của Mark Serreze, khoa học gia tại Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Tuyết và Băng Đá và là giáo sư tại Đại Học Colorado thì vào mùa hè năm nay, 2008, các tảng băng tại Bắc Cực sẽ tan ra hết. Đây là một biến cố xẩy ra lần đầu tiên trong lịch sử của trái đất. Ông tuyên bố là hiện nay chiều dầy các tảng băng này còn rất mỏng và xác xuất độ chính xác sự tiên đoán này là 50% - Ghi chú của người dịch)
3.d Mực nước tại các đại dương:
Kể từ năm 0 tới năm 1900 sau tây lịch, mực nước tại các đại dương thay đổi rất ít, qua đến thế kỷ thứ 20, mực nước tại đây đã dâng cao đáng kể và hiện nay mỗi ngày càng dâng cao với một tốc độ đáng ngại. Mực nước tại các đại dương trên toàn thế giới mỗi năm dâng cao 0.12 inches kể từ năm 1993 tới năm 2003, trong khi con số này là 0.067 inches mỗi năm trong suốt thế kỷ thứ 20. Có hai nguyên do làm gia tăng mực nước là: khí hậu toàn cầu gia tăng và các nguồn nước tại đại lục chẩy ra biển, kể cả việc các tảng băng ở cực địa cầu và băng đá che phủ mặt đất bị tan ra.
Các dữ kiện thu thập được cho thấy mực nước tại phần lớn vùng ven biển Đại Tây Dương và Vịnh Mễ Tây Cơ thuộc hải phận Hoa Kỳ đang gia tăng từ 0.8 tới 1.2 inches mỗi thập niên. Tốc độ này thay đổi tại bờ biển vùng Louisiana (do đất bị chìm) cho tới vài vùng tại Alaska (do đất trồi).
Theo như dự đoán của IPCC, với nhiệt độ trên mặt nước biển như hiện nay, mực nước sẽ dâng cao từ 7 tới 23 inches vào cuối thế kỷ này (2090-2099). Do mực nước biển dâng cao cường độ các trận bão sẽ khốc liệt hơn, nhiều vùng bị tàn phá do các trận bão và sóng thần, và các vùng ven biển cũng bị soi mòn nhiều hơn.
3.e Bão tố vùng Đại Tây Dương:
Cơ quan CCSP đưa ra nhận xét là số lượng bão tố hàng năm trong vùng Bắc Đại Tây Dương đã gia tăng trong vòng 100 năm qua đi đôi với nhiệt độ tại mặt nước biển cũng gia tăng. Thêm vào đó, có nhiều bằng chứng cho thấy là trong hai thập niên vừa qua, độ cao các đợt sóng cũng tăng kết hợp với những trận bão thường xuyên và khốc liệt hơn. Cũng theo CCSP, tốc độ của gió và mưa trong các trận bão tăng mạnh hơn khi con người gây ra tình trạng hâm nóng trái đất.
3.f Khí hậu thay đổi thình lình:
Một sự thay đổi thình lình về nhiệt độ chỉ xẩy ra khi hệ thống khí hậu vượt qua một giới hạn, khi đó nó châm ngòi cho một trạng thái mới với những hậu quả to lớn. Ví dụ hơn 100,000 năm qua đã có việc nóng thình lình (tới 29 độ F. tại vùng Băng Đảo, Greenland) và những đợt lạnh lập đi lập lại tại vùng Bắc Đại Tây Dương. Hiện tượng “nhà kiếng” cũng như những tác động khác của con người vào hệ thống môi sinh trên địa cầu có thể làm khí hậu thay đổi thình lình. Một sự thay đổi có thể xẩy ra là làm giảm lưu lượng dòng nước sâu tại vùng Bắc Đại Tây dương, hậu quả là làm thay đổi khí hậu vùng Bắc Mỹ và Âu Châu. Một sự thay đổi thình lình khác là việc tan rã nhanh chóng các tảng băng đá tại vùng Băng Đảo (Greenland) và Tây Bắc Cực, khi đó mực nước biển sẽ dâng cao vài feet. Chỉ cần nhiệt độ tăng lên từ 3.4 tới 8.3 độ F. thì toàn thể các khối băng đá tại vùng Băng Đảo tan ra hết, mực nước biển sẽ dâng cao 20 feet.
3.g Chất Ozone trong bầu khí quyển:
Chất ozone tại vùng cao trong bầu khí quyển giữ một vai trò quan trọng cho con người, nó là chiếc lá chắn giúp cho người ta tránh được những tổn hại do tia tử ngoại gây ra. Theo như Tổ Chức Khí Hậu Quốc Tế, tổng số lượng chất ozone tại vùng 60o Nam và 60o Bắc giảm đi đáng kể vì con người đã phóng thích vào bầu khí quyển những chất phá hủy chiếc lá chắn ozone này.
4 . Ảnh hưởng sự thay đổi khí hậu trên những hệ thống môi sinh và con người:
Theo báo cáo của cơ quan CCSP, nhiệt độ gia tăng trên trái đất, gia tăng lượng khí carbon dioxide và sự thay đổi độ mưa đã có hậu quả trên nguồn nước, nền canh nông, các tài nguyên trên đất đai, hệ thống sinh thái, sức khỏe con người và nhiều vấn đề khác nữa trên nước Mỹ. Bản báo cáo cũng kết luận là sự thay đổi nhiệt độ có ảnh hưởng rõ ràng trong vài thập niên tới và lâu hơn nữa.
4.a Hệ thống sinh học, thành phần sinh thái và môi sinh:
Hệ thống sinh thái cung cấp cho xã hội những nguyên vật liệu (như thực phẩm, tơ sợi, sản phẩm y dược) và những dịch vụ (như tái tạo nước và các chất bổ dưỡng trong đất đai, điều hoà khí hậu và thời tiết, loại bỏ các sản phẩm dư thừa, tạo ra các địa điểm giải trí) và cũng là thiết yếu cho sức khỏe của con người. Hệ thống sinh học (như các dạng của đời sống, từ các di thể các loài tới hệ thống sinh thái) là thành phần căn bản cho những dịch vụ mà hệ thống sinh thái mang lại. Thật là quan trọng vì nó góp phần trong việc điều hành của hệ thống sinh thái và khi bị hủy hoại đi thì rất khó hay không thể thay thế hay tái tạo được.
Cơ quan CCSP, IPCC và các tổ chức khác đã ghi nhận tổng quát như sau:
• Có sự thay đổi chắc chắn và rõ ràng trong các hệ thống sinh học và vật lý cũng như rõ ràng là trái đất đang bị hâm nóng.
• Mùa trồng trọt kéo dài và nhất là tại các vùng vĩ tuyến cao tại Bắc Mỹ, thời gian sản xuất dài dần. Trong 19 năm qua, những dữ kiện ghi nhận được của hệ thống vệ tinh cho thấy mùa xuân đến sớm hơn thường lệ từ 10 tới 14 ngày tại những vùng miền Bắc.
• Trong 866 bản nghiên cứu phân tích việc nhiệt độ thay đổi đưa đến những hậu quả cho sinh thái, ghi nhận là khoảng 60% trong số 1,598 loài sinh vật khảo nghiệm, chu trình sinh học hàng năm về sự phân bố hay thời gian đã bị xáo trộn. Sự xáo trộn này tương quan tới sự thay đổi về khí hậu.
• Tính thích ứng trong nhiều hệ thống sinh thái trong thế kỷ này bị mất dần do khí hậu thay đổi và do những rối loạn khác (như lụt lội, hạn hán, cháy rừng, côn trùng, tính acid hoá nước biển) hay những nguyên do làm thay đổi bề mặt trái đất (như việc thay đổi cách sử dụng đất đai, ô nhiễm).
• Tại Bắc Mỹ, việc trái đất bị hâm nóng đưa đến hậu quả là các loài sinh vật di chuyển dần về vùng cực và các vùng cao. Các loài thích hợp cho việc sinh sống tại các vùng đất cao thì không còn nơi nào di trú được nữa.
• Cho tới nửa thế kỷ này, hệ thống sinh thái trên mặt đất hấp thu số lượng khí carbon đạt tới mức tối đa, sau đó sẽ yếu dần hay có phản ứng ngược lại, hậu quả là sẽ ảnh hưởng sang việc thay đổi khí hậu.
• Thay đổi khí hậu và độ mưa sẽ làm giảm số lượng cây xanh che phủ mặt đất, hậu quả là đất đai sẽ bị soi mòn bởi gió và mưa.
• Rất nhiều hậu quả to lớn mang lại do khí hậu thay đổi trên hệ thống sinh thái và động vật hoang dã qua sự thay đổi trong tính tàn khốc và thường xuyên của các trận bão và cháy rừng.
Những ghi nhận từng vùng cũng được các cơ quan CCSP và IPCC phúc trình như sau:
• Nhiệt độ gia tăng nhanh chóng nhận thấy rõ tại Bắc Cực trong vài thập niên qua (và dự trù cả trong thế kỷ sau nữa), hậu quả là làm giảm lượng tuyết và băng đá bao phủ, khiến các loài gấu tuyết và các loài động vật phụ thuộc vào tuyết-băng đá khác không còn nơi cư ngụ.
• Cây cối vùng Alaska phải di chuyển dần vế miền bắc và các vùng cao. Rừng cây sẽ thay thế dần cho vùng hoang vắng phủ băng đá trước đó của Bắc Cực, các loài cây sống được tại nơi băng đá sẽ di chuyển dần lên cực.
• Nơi nào có đủ nước cộng thêm nhiệt độ gia tăng sẽ phát triển rừng. Lượng khí carbon dioxide gia tăng làm tăng phản ứng quang tổng hợp tại các khu rừng và chỉ tăng lượng sản xuất gỗ tại các khu rừng trẻ với đất đai màu mỡ.
• Trong 3 thập niên qua, mùa cháy rừng tại miền Tây Hoa Kỳ kéo dài. Khí hậu thay đổi làm làm gia tăng dịch bệch do côn trùng mang lại, cây cối chết giúp cho nạn cháy rừng bùng phát tại các vùng Tây Nam và Alaska. Hiện tượng này còn tiếp tục.
• Nhiều loài thực vật và động vật sinh sống trong các hệ thống sinh thái khắc nghiệt hầu như đã ở trong giới hạn của mức chịu đựng về nhiệt độ và lượng nước và hầu như chỉ cần một thay đổi nhỏ nữa sẽ có những hậu quả đáng ngại. Khí hậu thay đổi trong vùng khô sẽ làm tổn hại cho hệ thống sông ngòi, hệ thống sinh thái, làm tăng mức sói mòn và tạo điều kiện dễ dàng cho những loài cỏ dại xâm lấn, nó cũng tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc cháy rừng
• Trên những hòn đảo hay hệ thống sinh thái vùng cao như tại đảo Hawaii, khí hậu thay đổi do con người gây ra, thay đổi trong việc khai thác đất đai hay do sự xâm lăng của các loài sinh vật khác khiến nhiều loài bị tuyệt chủng.
• Việc xói mòn hay hệ thống sinh thái biến mất có ảnh hưởng tới nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ. Những vùng đồng lầy nằm ven bờ biển biến mất xẩy ra khi hệ thống sinh thái bị xiết giữa việc tiến về đất liền do thiên nhiên và con người gây nên và mực nước biển dâng cao. Cho tới nay, hơn 50% vùng đầm lầy trên nước Mỹ đã biến mất, khoảng 20% diện tích đầm lầy còn lại nằm trong vùng trung Đại Tây Dương sẽ chìm dưới nước vào khoảng giữa năm 2000 tới 2100. Sự xói mòn tại các hải đảo làm tăng chiều cao các đợt sóng đánh vào các vùng vịnh.
• Hàm lượng chất carbon dioxide gia tăng trong bầu khí quyển làm cho nước tại các đại dương acid nhiều hơn. Sự acid hoá này có ảnh hưởng trên những sinh vật sống ở đây và có hậu quả xấu tới phần lớn hệ thống thực phẩm hải sản. Loài san hô tại nhiều vùng nhiệt đới đã bị chết hàng loạt do nhiệt độ trong nước gia tăng cũng như cường độ các trận bão khốc liệt hơn, không kể đến ảnh hưởng trên các công trình xây dựng, du lịch, đánh bắt cá và mức ô nhiễm.
4.b Nông nghiệp và Thực phẩm:
Mùa màng và gia súc tại Hoa Kỳ (ước tính khoảng 200 tỉ vào năm 2002) đã bị ảnh hưởng do thời tiết và khí hậu (như nhiệt độ, độ mưa, hàm lượng chất carbon dioxide và nguồn nước). Những điều ghi nhận dưới đây dựa vào phúc trình của các cơ quan CCSP và IPCC: • Với hàm lượng khí carbon dioxide và nhiệt độ gia tăng, chu trình đời sống của các vụ mùa ngũ cốc và các loại cây có dầu nhanh hơn, nhưng khi khi nhiệt độ tăng, việc thu hoạch trở nên thất bại, đặc biệt là khi sự gia tăng mức biến đổi về khí hậu, độ mưa ít đi hay trở nên thay đổi thường xuyên.
• Mức thu hoạch của ngành trồng hoa quả (như cà chua, hành, và các loại quả) chịu ảnh hưởng nhanh chóng với sự thay đổi nhiệt độ, nhiều hơn so với các loại ngũ cốc hay loại cây cho dầu.
• Nhiệt độ thay đổi làm các loài cỏ dại xâm lăng đất đai trồng trọt nhanh hơn. Gia tăng lượng carbon dioxide giúp cho các loài cỏ dại này mọc nhanh hơn các loài cây trồng. Những nghiên cứu mới đây cho thấy chất glyphosate, một loại thuốc trừ cỏ dại dùng trên nước Mỹ bị mất hiệu quả khi hàm lượng khí carbon dioxide trong không khí gia tăng.
• Bệnh tật trên mùa màng hay gia súc tăng lên vào mùa xuân và trong những mùa đông ít lạnh, hậu quả là làm cho các loại vi trùng và ký sinh trùng sinh sản mạnh hơn và sống sót lâu hơn.
• Nhiệt độ gia tăng kèm theo mùa màng kéo dài gây nên tình trạng sản xuất cỏ cho gia súc sẽ rơi vào cuối mùa thu và đầu mùa xuân do đó việc dự trữ cỏ cho bò vào mùa đông không cần yếu như trước. Tuy vậy việc này còn tùy vào nguồn nước có dồi dào tại mỗi địa phương hay không.
• Thay đổi giống cây trồng đã thực hiện tại các vùng đất chăn nuôi. Thiết lập những giống cây sống quanh năm sẽ làm giảm nhu cầu về nước vào đầu mùa trồng trọt.
• Thay đổi trong việc sản xuất và giống cây trồng có ảnh hưởng trên việc quản trị ngành chăn nuôi. Nhiệt độ cao làm giảm mức sản xuất của gia súc trong mùa hè nhưng sự thiệt thòi này sẽ được đền bù lạ do sự ấm áp trong mùa đông. Đối với gia súc loài nhai lại, cho đến nay người ta không xây những nơi trú ẩn, nhưng lại đối với các loài không nhai lại (heo, gà) thì lại cần nhiều hơn.
• Nghề đánh bắt cá nước ngọt vùng lạnh hình như không bị ảnh hưởng. Trái lại nghề đánh bắt cá nước ngọt vùng nước ấm lại có nhiều lợi lộc.
4.c Nguồn nước:
Cây cối, thú vật, các hệ thống sinh thái thiên nhiên và nhân tạo, việc định cư của con người … tùy thuộc vào mức dự trữ, lưu lượng và phẩm chất của nước. Những đặc tính này lại rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ. Những yếu tố khác ảnh hưởng tới nguồn nước bao gồm mức ô nhiễm nước, việc xây dựng những đập, việc tháo nước tại những vùng đầm lầy, việc làm giảm lưu lượng nước tại sông ngòi. Mặc dù cho tới nay những thay đổi do nhiệt độ gây nên có những tác động còn nhỏ khi so sánh với các tác nhân khác, trong tương lai nhiệt độ thay đổi sẽ có những hậu quả to lớn.
Những điều ghi nhận dưới đây dựa vào phúc trình của các cơ quan CCSP, IPCC và các nguồn tài liệu khác nữa:
• Tại nhiều vùng núi, băng đá tan sớm làm giảm lưu lượng nước về mùa hè và mùa thu. Sự thay đổi liên tục này gây ảnh hưởng trên hệ thống dự trữ nước dưới mặt đất.
• Phẩm chất của nước rất nhạy cảm với nhiệt độ trong nước gia tăng cũng như việc thay đổi lượng nước mưa và những yếu tố liên hệ tới khí hậu khác. Nhiệt độ lên tăng cao có khuynh hướng làm giảm hàm lượng chất khí oxygen trong nước đi, do đó có ảnh hưởng xấu cho các loài sinh vật sống trong nước. Những trận mưa lớn càng nhiều mang cho nguồn nước nhiều chất bẩn, nguồn bệnh tật, độc tố. Tại các vùng ven biển, nước mặn tràn vào các nguồn nước dưới mặt đất làm giảm phẩm chất của nước và người ta phải tốn nhiều hơn nữa để lọc lại.
• Nhiệt độ của nước tại các sông ngòi gia tăng với khí hậu trong không khí gia tăng. Điều này có ảnh hưởng trên hệ thống thủy sinh thái và phẩm chất của nước. Sự thay đổi nhiệt độ này thấy rõ ràng trong mùa nước cạn
• Với các hệ thống sử dụng nước tại các đô thị cũng như những nhà máy kỹ nghệ cần dùng một lượng nước thật lớn, việc các nguồn cung cấp nước bị giảm đi là một mối quan tâm. Dọc theo Bắc Mỹ, mùa hạn hán kéo dài kèm theo mức tăng dân số và sự phát triển kinh tế tạo ra những đòi hỏi cho ngành nông nhiệp, kỹ nghệ, đô thị. Ví dụ tại những vùng có những đòi hỏi nước nhiều tại miền Tây chỉ tuỳ thuộc vào nguồn nước do tuyết tan ra, như hệ thống sông ngòi Columbia và Colorado.
• Trong những thập kỷ tới, nhu cầu về nước càng nhiều. Việc hạn chế sử dụng nước cho mỗi cá nhân phần nào giúp cho việc điều hoà lại những hậu quả do việc gia tăng nhiệt độ trên nguồn nước.
4.d Xã hội và vấn đề định cư của con người:
Hệ thống sinh hoạt của con người bao gồm các lãnh vực như xã hội, kinh tế, các cấu trúc tổ chức và hoạt động. Hệ thống này tùy thuộc vào nhiều yếu tố và những thúc đẩy khác (ví dụ nguồn tài chánh, đô thị hay thôn quê). Khí hậu thay đổi sẽ thúc đẩy những yếu tố tới mức giới hạn vì nó ảnh hưởng trên sự định cư và các ngành kỹ nghệ.
Theo như tài liệu của CCSP, khí hậu thay đổi có ảnh hưởng trên con người như sau: Sức khỏe, nguồn nước và những cơ sở hạ từng tại đô thị, nhu cầu về năng lượng, sinh hoạt tại đô thị (như điều kiện sinh sống và các hoạt động trong cộng đồng tại các đô thị) sự cạnh tranh về kinh tế, những cơ hội và rủi ro, cấu trúc xã hội và chính trị.
Tổng quát thì những nơi nguy hiểm hơn cả là vùng kỹ nghệ, định cư hay cộng đồng tại các vùng ven biển hay những vùng đồng bằng thường hay bị ngập lụt; những nơi nền kinh tế phát triển nhưng có liên hệ với các nguồn dễ bị tác động bởi khí hậu; những vùng thường xẩy ra các biến cố khốc liệt về thời tiết, đặc biệt là những nơi đô thị hoá nhanh chóng và nhất là cộng đồng nghèo tập trung đông đảo tại các vùng nguy hiểm. Theo như IPCC, vùng nguy hiểm nhất trên nước Mỹ là Alaska (tại đây dân sống tuỳ thuộc vào việc săn bắt những loại thú rất nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu), các vùng dọc theo bờ biển và sông ngòi thường xuyên xẩy ra ngập lụt, những nơi khô cằn thiếu nguồn nước và những khu kinh tế nhạy cảm với khí hậu. Trong tương lai, người ta sẽ thấy dân cư và những hoạt động kinh tế tại các vùng chịu tác hại do khí hậu thay đổi sẽ di chuyển tới các nơi khác.
Vài nhận xét căn bản về định cư dân số mà các cơ quan CCSP và IPCC đưa ra như sau:
• Dân số gia tăng tại các vùng như bờ biển sẽ là mối thảm hoạ do hậu quả nhiệt độ thay đổi. Nhu cầu về sở hữu chủ đất đai ven biển ngày càng nhiều sẽ làm tăng những thiệt hại về vật chất.
• Dân số sống ven biển gia tăng kèm theo với sự gia tăng cường độ mưa của các trận bão, tốc độ của gió và cường độ các cơn sóng do mực nước biển dâng cao sẽ là mối thảm hoạ trong tương lai tại các vùng ven biển Đông Nam và vùng vịnh Mễ Tây Cơ. Những trung tâm đô thị cũng chịu nguy hiểm với những tai hoạ khốc liệt như khi bão thổi qua.
• Sự thoái hoá hệ thống sinh thái ven biển, đặc biệt là tại các vùng đầm lầy sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.
• Nhiều nghiên cứu cho thấy là mực nước biển dâng cao sẽ làm diện tích những hải đảo nhỏ dần lại, đặc biệt trên vùng biển Thái Bình Dương. Đây là trường hợp đảo Hawaii và một số hải đảo khác thuộc lãnh thổ Hoa Kỳ.
• Thời tiết và các biến cố khốc liệt khác có ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế từng vùng. Ví dụ ngành du lịch chịu ảnh hưởng do mực nước xuống thấp tại các sông ngòi trong mùa hạn hán, hậu quả của bão tố và việc thay đổi độ dài của mùa du lịch (như mùa trượt tuyết, mùa tắm biển).
• Cháy rừng thường xuyên và trầm trọng hơn trong vài năm gần đây và trong tương lai còn dữ dội hơn nữa, đồng thời người ta lại thích sống nhiều hơn trong những vùng thảm hoạ này thường xẩy ra.
4.e Sức khỏe của con người:
Sự thay đổi nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới sức khỏe con người. Độ nóng kèm theo môi trường nóng bức chung quanh có ảnh hưởng tới cơ thể. Nhiệt độ thay đổi cũng làm cho vi trùng gây bệnh trên thú vật, trong nước và thực phẩm nẩy sinh và lan tràn. Khí hậu ảnh hưởng trên sức khỏe là một đề tài phức tạp vì nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nhân khẩu học; khung cảnh xã hội, kinh tế, văn hoá; môi sinh thiên nhiên và nhân tạo; cấu trúc hạ tầng về nền y tế công cộng; sự hiện hữu và chất lượng các dịch vụ về y tế và xã hội. Cơ quan CCSP kết luận là sự thay đổi nhiệt độ đã làm nổi bật lên tính không tương ứng trong hệ thống bảo vệ sức khỏe tại nước Mỹ.
Những kết luận về nhiệt độ gia tăng ảnh hưởng trên sức khỏe con người được tóm tắt như sau:
• Do ảnh hưởng của sự gia tăng nhiệt độ, tỉ lệ bệnh tật và số tử vong sẽ gia tăng trong những thập niên tới. Nhiệt độ cao có khuynh hướng làm cho những căn bệnh kinh niên trở thành trầm trọng hơn. Mức gia tăng các cơn nóng thường xuyên và khốc liệt hơn sẽ đưa tới việc con người chịu bệnh tật nhiều hơn và số tử vong ngày một nhiều, đặc biệt cho trẻ em, người già, phụ nữ và người nghèo.
• Nhiệt độ cao kèm theo với ô nhiễm trong không khí ảnh hưởng lớn lao tới sức khỏe người dân.
• Tại những vùng lạnh, sự gia tăng nhiệt độ làm số tử vong giảm.
Những kết luận ảnh hưởng trên bệnh tật do thú vật, thực phẩm và nước đem lại như sau:
• Khí hậu thay đổi làm gia tăng rủi ro và lan truyền các bệnh truyền nhiễm, bao gồm bệnh viêm não và siêu vi trùng gây bệnh West Nile.
• Gia tăng sự lan tràn những bệnh truyền nhiễm trong thực phẩm và nước.
• Luật lệ liên bang và tiểu bang và các chương trình y tế khác bảo vệ dân chúng Hoa Kỳ bằng các luật lệ kiểm soát nguồn nước uống. Tuy vậy với những thiếu sót hiện nay và trong tương lai trong việc bảo vệ nguồn nước, tại những cơ sở hạ tầng và hệ thống thoát nước thì khi khí hậu thay đổi mỗi ngày một trầm trọng, sẽ có khuynh hưóng gia tăng sự nguy cơ về mức nhiễm độc.
Những kết luận ảnh hưởng trên phẩm chất của không khí như sau:
• Nhiệt độ nóng dần và thay đổi có ảnh hưởng trên phẩm chất của không khí.
• Khí hậu thay đổi có ảnh hưởng trên mức đậm đặc và sự phân bố các chất ô nhiễm qua nhiều tiến trình như sự thay đổi về tốc độ các phản ứng hoá học, mưa kéo theo các chất ô nhiễm và sự thay đổi khí hậu làm các chất ô nhiễm tích tụ nhiều hơn.
• Khí hậu thay đổi làm gia tăng lượng chất ozone trên gần mặt đất. Chứng cớ rõ ràng cho thấy chất ozone trong bầu không khí đậm đặc hơn khiến cho chức phận của hai lá phổi người ta giảm hoạt động, do đó phổi dễ bị lây nhiễm bệnh tật và góp phần vào việc gây tử vong cho những người đang mắc bệnh về phổi và tim.
• Khí hậu thay đổi và việc gia tăng lượng carbon dioxide trong không khí làm gia tăng các chứng allergy cũng như sản xuất những chất ô nhiễm tạo nên chứng bệnh này. Nó kích thích tăng trưởng và làm lan tràn các loại cỏ dại cùng những loài cây có những phấn hoa gây allergy.
Những kết luận ảnh hưởng tạo ra các sự việc trầm trọng như sau:
• Tăng cường mức độ khắc nghiệt của thời tiết (như bão tố, lụt lội) kèm theo các sự việc khác (như nạn cháy rừng do hậu quả hạn hán lâu dài) đưa đến gia tăng mức tử vong, thương tật, bệnh truyền nhiễm, gián đoạn việc săn sóc y tế cho các bệnh kinh niên do tử vong hay những hậu quả xấu do việc xáo trộn trong xã hội và việc di cư.
• Nơi đông dân cư tại các vùng ven biển thấp, như tại vùng vịnh Mễ Tây Cơ sẽ chịu những thảm hoạ, đặc biệt cho cộng đồng nghèo.
• Nạn cháy rừng có ảnh hưởng trực tiếp trên sức khỏe dân chúng. Những hậu quả rõ ràng nhất là các chứng bệnh về mắt và hô hấp do các chất ô nhiễm mà nạn cháy rừng mang lại, cũng như những bệnh tâm thần do việc phải di chuyển chỗ ở, mất tài sản, hay hư hại các sở sở hữu. Nạn cháy rừng làm cho phẩm chất không khí giảm đi và hậu quả các chứng bệnh về phổi hầu như xẩy ra thường xuyên, ngày càng tàn khốc, rộng lớn và lâu dài hơn tại các vùng Đông Nam, vùng miền Tây và giữa các rặng núi miền Tây.
• Tỉ lệ bệnh tật và tử vong có chiều hướng gia tăng đi đôi với mức khốc liệt và độ lâu của biến cố này.
4.f Việc sản xuất, sử dụng và phân bố năng lượng:
Cho đến ngày nay, các cuộc thảo luận trên vấn đề năng lượng và sự thay đổi khí hậu chỉ xoáy vào việc tìm cách nào làm nhẹ ảnh hưởng của con người trên hệ thống khí hậu. Trong những bản phúc trình của IPCC và CCSP, khí hậu thay đổi có ảnh hưởng đến việc sử dụng và sản xuất năng lượng trên nước Mỹ. Khí hậu thay đổi kéo theo những thay đổi sau đây trong việc sử dụng năng lượng:
• Giảm mức tiêu thụ năng lượng tại nhà tư nhân, các toà nhà thương mại hay kỹ nghệ trong việc sưởi ấm hay làm nước nóng.
• Tăng mức tiêu thụ năng lượng tại nhà tư nhân, các toà nhà thương mại hay kỹ nghệ trong việc làm mát.
• Tăng mức tiêu thụ năng lượng tại nhà tư nhân và các tiến trình làm lạnh trong ngành thương mại và kỹ nghệ.
• Tăng mức nhu cầu về điện mọi nơi trên nước Mỹ, ngoại trừ vùng vùng Tây Bắc Thái Bình Dương.
• Tăng mức tiêu dùng năng lượng cho các công việc nhạy cảm với khí hậu, như bơm nước để tưới trong nông nghiệp và sử dụng tại các đô thị.
• Thay đổi mức tiêu thụ năng lượng trong các lãnh vực kinh tế nhạy cảm với khí hậu, như vận chuyển, xây dựng, canh nông và nhiều lãnh vực khác.
Theo như phúc trình của CCSP, khí hậu thay đổi sẽ đưa đến tình trạng tăng lên đáng kể nhu cầu về điện trên nước Mỹ, do đó chính phủ phải xây thêm nhiều nhà máy phát điện và tốn cho ngân sách quốc gia nhiều tỉ dollars nữa. Cũng theo như IPCC và CCSP, khí hậu thay đổi ảnh hưởng trên việc sản xuất, cung cấp và phân phối năng lượng trên nước Mỹ như sau:
• Ảnh hưởng trực tiếp khi thời tiết khắc nghiệt.
• Làm giảm mức cung cấp nước trong những vùng tùy thuộc vào những nguồn nước.
• Quyết định đặt để những cơ sở tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, và
• Những tác động tốt hay xấu trên việc sản xuất các nhà máy chạy bằng sức gió hay năng lượng mặt trời.
Mặc dù hạ tầng cơ sở của hệ thống năng lượng hiện nay được coi là tân tiến nhưng những tác động của sự thay đổi thời tiết cho từng địa phương và các vùng kỹ nghệ thật to lớn, đặc biệt là tại những vùng nhạy cảm với thời tiết thay đổi (như Alaska) hay khí hậu bị xáo trộn (như vùng vịnh Mễ Tây Cơ).
4.g Vận chuyển:
Nhiệt độ toàn cầu gia tăng, mực nước biển dâng cao và thay đổi thời tiết có ảnh hưởng lớn trên lãnh vực vận chuyển trên nước Mỹ, như: hệ thống ngành hoả xa, hệ thống chuyên chở công cộng, hệ thống vận chuyển đường biển, đường hàng không và hệ thống ống dẫn. Mạng lưới vận chuyển tại nước Mỹ là mạch sống cho nền kinh tế quốc gia, cho sự an toàn và phẩm chất của đời sống. Mối liên hệ giữa sự thay đổi về khí hậu và mạng lưới vận chuyển tại Bắc Mỹ được các cơ quan IPCC và CCSP phúc trình như sau:
• Thời tiết ấm hơn hay ít tuyết hơn sẽ làm giảm sự chậm trễ và cải thiện mức đúng giờ cho việc vận chuyển bằng đường bộ hay đường hàng không cũng như làm giảm mức bảo trì đưòng xá vào mùa đông. Tuy vậy những trận bão tuyết khốc liệt sẽ gia tăng mức nguy hiểm cho người du lịch và gây nhiều tổn phí trong việc cào tuyết.
• Sức nóng gia tăng thường xuyên, khốc liệt và kéo dài sẽ làm cong hay làm sai lệch các đường hoả xa và làm cấu trúc các con đường bị hư hại.
• Lụt lội tại vùng ven biển và dọc theo những con sông hay đất trùi có những tác động xấu trên những con đường giao thông, đường hoả xa và các cảng. Nếu một đoạn nhỏ trong mạng lưới giao thông bị hư hại thì cả hệ thống đó bị ảnh hưởng.
• Hạ tầng cơ sở trong hệ thống giao thông các vùng miền Bắc bị ảnh hưởng nhiều. Việc tan băng đá thường trực làm giảm khả năng chịu đựng trên bề mặt của mặt đường, tạo nên tình trạng đất trùi.
• Khí hậu thay đổi làm bão tố, mực nước biển gia tăng kéo theo số lượng và cường độ các trận bão cũng tăng lên khiến cho hệ thống vận chuyển tại các vùng vịnh Mễ Tây Cơ tồi tệ hơn.
• Việc gia tăng các trận mưa lớn làm cho tai nạn giao thông gia tăng.
• Mưa nhiều và thời tiết khắc nghiệt có ảnh hưởng xấu cho ngành hàng không. Nhiệt độ cao có ảnh hưởng các chuyến bay cũng như cần những phi đạo dài hơn.
- Hết -
Trần Hồng Văn
29 tháng 6, 2008.

 


 

 

 

 

Các Số Báo Trước:

                                733 732 731 730
729 728 727 726 725 724 723 722 721 720 719 718 717 716 715 714 713 712 711 710
709 708 707 706 705 704 703 702 701 700 699 698 697 696 695 694 693 692 691 690