Hồi Ký Chiến Trường: Đêm nay mẹ không về
Đỗ Văn Phúc
Tiểu đoàn vừa hấp(1) xong ở Trung Tâm Huấn Luyện Huỳnh Văn Lương thì có lệnh hành quân ngay. Lần này thì tăng cường, phối hợp với một Thiết Đoàn của Kỵ Binh Cơ Giới thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ (Big Red One). Từ Trung Tâm Huấn Luyện ở Bình Dương, đơn vị được đoàn xe vận tải GMC đưa thẳng đến quận Trị Tâm (Dầu Tiếng) và đổ quân ở làng Bến Tranh ở gần khu đồn điền Michelin. Tại đây một đoàn xe cơ giới bọc thép hàng chục chiếc đã chờ sẵn.
Chúng tôi chia nhau, mỗi Đại đội theo một Chi đoàn. Vì là chỉ huy Trung đội trực, Chuẩn Úy Phương đắt lính tìm đến đoàn xe đầu tiên và sắp xếp cho mội tiểu đội leo lên một chiếc M-113. Loại M-113 là xe chạy xích có bọc thép dày dùng chuyên chở quân, có thể chạy trên bộ và lội dưới nuớc. Nhưng vì tình hình chiến trường, tất cả quân nhân đều ngồi trên nóc xe thay vì trên hai dãy ghế trong lòng xe như đã được thiết kế. Trên sàn xe trống rỗng là hai lớp bao cát đầy. Người lái xe cũng ngồi trên mui xe, hai tay cầm hai cần lái đã được nối dài bằng hai thanh gỗ tròn. Lý do đơn giản là nếu xe chạm phải mìn chống chiến xa, thì sẽ giảm sự thiệt hại nhân mạng.

Xe chạy qua làng 13 Bis, nơi mà năm 1965, một Trung Đoàn của Sư Đoàn 5 Bộ Binh bị đánh tan tác do sự lơ là, chủ quan khinh địch của các vị chỉ huy. Trận cường tập ở đồn điền Michelin được coi là một trong những trận đẫm máu nhất, và là cái cớ để Hoa Kỳ đưa quân vào miền Nam trực tiếp chiến đấu. Mới tháng 2 đầu năm nay (1969), bọn Việt Cộng táo bạo đột nhập căn cứ của Lữ đoàn 3, Sư Đoàn 25 Bộ Binh Mỹ lúc nửa đêm, và đã bị đánh bật ra sau khi để lại hơn hai trăm xác chết.
Khi xe chạy ngang qua làng 13 Bis, nhìn cảnh vật tiêu điều có vẻ như còn mang dấu vết kinh hoàng của trận đánh năm xưa, Phúc chợt rùng mình nghĩ đến oan hồn hàng trăm chiến hữu đã hy sinh. Dù mới ra trường, chưa một lần cận chiến, nhưng qua nhiều phim về chiến tranh, anh cũng hình dung được sự tàn khốc của trận đánh. Những nhát mã tấu vung lên, chém xuống phập ngọt xớt vào các thân người, với tiếng thét đầy thú tinh rợn người của bầy qủy dữ và hành động anh dũng cuối cùng của những chiến binh bị vây kín giữa trùng điệp quân thù. Ngày nay, Sư Đoàn 5 đã lấy lại phong độ với những cấp chỉ huy trẻ tuổi, có kiến thức, bản lĩnh và gan dạ. Họ đang chủ động trên chiến trường và quyết tâm trả mối hận năm xưa.
Khi đến làng 13, gần suối Cầu Trắc, đơn vị được lệnh dừng quân bố trí và lục soát. Ấp này có lèo tèo chừng vài chục nóc nhà mái tranh vách đất nghèo nàn. Không bóng dáng một người đàn ông. Trong khi các xe thiết giáp và bộ binh chia nhau trấn giữ ở bìa làng và lục soát tìm nơi ẩn náu của du kích, cán bộ Việt Cộng nằm vùng; các quân nhân Địa Phương Quân của Chi Khu Trị Tâm được lệnh tập trung dân lại để hoạt động dân vận.
Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Vũ Huy Thiều luôn gọi máy căn dặn các đại đội rất cẩn thận. Vì trong vùng mà ảnh hưởng địch rất sâu đậm hàng chục năm qua, gia đình nào cũng có ít nhất một vài người trong hàng ngũ địch. Trong làng không có đàn ông con trai, mà đàn bà thì cứ mỗi năm một mang bầu. Những đứa trẻ lớn lên đã được cấy lòng căm thù đối với chính quyền miền Nam rất sâu sắc. Vì thế, không thể tin một ai từ đứa bé 5 tuổi cho đến bà già đã 80. Hễ ai cầm nổi trái lựu đạn hay có khả năng bóp cò đều là một chiến binh của địch.
Phúc đi ra bìa làng, xem xét các trung đội phòng thủ và dặn dò. Khi đến Trung đội 3 của Chuẩn Úy Phương, gần một căn nhà tương đối khá, thì một cô gái chừng 17, 18, cao ráo, trắng trẻo và tròn trịa tìm đến lân la trò chuyện.
- Giờ này dân làng đang tập họp trên kia. Sao cô không lên đó?
- Em ở nhà coi mấy con trâu, sợ nó chạy sổng ra rừng.
- Nhà có trâu là khá lắm, có đóng thuế cho du kích không?
- Vùng này yên, có du kích gì đâu anh.
- Vậy chớ mấy anh đàn ông con trai đi đâu hết vậy?
- Mấy ảnh xuống Sàigòn làm việc hết chọi.
Vừa đi vừa trò chuyện thì đã đến nơi binh sĩ Trung 3 đang lục soát bên trong bên ngoài một căn nhà tương đối khang trang. Những người lính dùng cây nhọn, xăm xăm dưới gầm giường trong hai phòng ngủ nhỏ xíu được che ngăn với phòng khách bằng một tấm màn bông. Sau khi không tìm thấy gì khả nghi, những người lính quay ra đi về phía vườn nơi có một chuồng trâu lớn. Cô gái bổng tỏ ra luống cuống. Đôi mắt cô cứ nhìn len lén về phía chuồng, sắc thái bồn chồn thấy rõ.
Cô gái đột nhiên lên tiếng:
- Thiếu Úy nói anh em vào nhà uống chút nước. Để em ra vườn hái mấy trái đu đủ cắt cho các anh ăn.
- Thôi đừng bày vẽ.
- Thiệt mà, em mời mà.
Trung sĩ Trí theo dõi từ lâu, bỗng nháy mắt ra hiệu cho Phúc.
- Ông coi chừng con nhỏ này. Tui thấy nó khả nghi lắm. Đu đủ đâu không thấy mà toàn trái lựu đạn đó ông!
- Ừ, thấy nó cứ đeo theo tôi. Chắc có gì trong vườn nó.
- Ông để nó tui lo cho.
- Anh làm gì thì làm. Nó còn nhỏ, đừng mạnh tay tội nghiệp. Hù nó chút chút cho nó khai thôi.
- Ông Thầy yên trí, mười lăm phút là phun ra thôi.
- Anh mà đánh đập nó là tôi cho anh đi luôn đó.
Phúc bảo cô gái đi theo Trung Sĩ Trí. Cô gái có vẻ sợ hãi, chùn chân lại. Phúc hỏi khẽ:
- Hỏi thiệt nhen. Có hầm hố gì quanh đây không? Có du kích núp đâu gần đây không?
- Hổng có đâu Thiếu Úy. Nhà em làm ăn đàng hoàng mà.
- Tôi mà giao cô cho ông Trung Sĩ này thì mệt cô lắm. Cô chịu hổng nổi đâu!
- Em lạy Thiếu Úy. Đừng! Đừng! Em hổng dám giấu gì hết chọi.
- Có hầm giấu du kích ở vườn hay chuồng trâu này không?
- Không! Không đâu mà ông Thiếu Úy!
Cô gái nói, nhưng đôi mắt không hề rời cái chuồng trâu. Cô dõi theo từng cử động của các anh lính đang xăm hầm, có lúc mặt cô thấy tái nhợt đi. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi giao cô gái cho Trung Sĩ Nhất Trí và ở lại cùng đám lính.
Trong cái chuồng đang có ba con trâu, vì sợ, đứng tụm lại với nhau ở một góc. Phân trâu và rơm rạ tạo thành một lớp dày dễ đến cả tấc. Mấy anh lính ngần ngại bước vào trong chuồng. Họ chăm chỉ, cẩn mật xục xạo từng thước vuông bên trong bên ngoài. Chỗ nào có dấu vết đào xới khả nghi đều bị chiếu cố tận tình. Chừng mười lăm phút sau, không thấy gì, Phúc đang tính cho binh sĩ chuyển qua nơi khác thì thấy Trung Sĩ Trí dẫn cô gái trở lại. Lần này, vẻ tươi mát đã biến mất mà chỉ còn một cô gái rũ rượi. Mái tóc và chiếc áo ướt sũng nước. Khuôn mặt ràn rụa nước mắt. Tay cô cầm chiếc bừa có dãy răng bén nhọn, hai chân đi xiêu vẹo giữa hai anh lính kẹp hai bên.
Trung Sĩ Trí tỏ ra khoái chí la lên:
- Chạy đâu cho thoát! Nó khai rồi ông ơi.
- Anh làm gì nó vậy?
- Chút chút thôi mà!
Phúc tránh đường cho cô gái đi vào trong chuồng. Cô ngần ngừ vài giây rồi vừa khóc vừa cào lớp phân trâu ở khoảng góc chuồng. Vừa vặn lòi ra một cái nắp hầm có khoen móc bên trên.
Một anh lính gạt cô qua một bên rồi rút trái lựu đạn cài bên hông, rút chốt.
Cô gái la lên:
- Đừng ném, đừng ném để em kêu họ lên. Anh Bảy ơi, lộ rồi, anh lên đi không thì họ ném trái nổ đó.
Không có tiếng trả lời. Phúc đẩy cô gái gần miệng hầm ra lệnh.
- Mở nắp ra.
- Em mở, em mở. Đừng ném trái. Anh Bẩy ơi, em lạy anh, anh lên đi.
- Có mấy người dưới đó? Hả?
Cô gái chỉ càng khóc to hơn mà không nói gì. Nhưng khi người lính vừa hé nắp hầm lên thì có tiếng nói từ bên dưới la to:
- Tui lên đây. Đừng bắn.
- Đưa súng lên trước, trở báng lên trời. Coi chừng, một hành động nhỏ là tao thả lựu đạn xuống.
Phúc và những người lính khác lùi ra sau, đề phòng ở dưới có thể ném lựu đạn lên. Giây sau thì thấy một cái báng AK-47 nhô lên, rồi bàn tay sần sùi nắm phần gỗ che nòng, rồi xuất hiện một khuôn mặt trắng bạch của một người trẻ chừng 25 tuổi. Anh ta leo lên và đưa tay chịu trói. Phúc để ý thấy anh ta nhìn len lén cô gái ngầm trách cứ. Nhưng cô né cái nhìn của anh mà rơm rớm nước mắt. Phúc nghĩ bụng: «Chắc vợ chồng bồ bịch gì đây»
- Còn ai không?
- Dạ, còn anh Tư nữa.
Người có tên Tư leo lên cùng với một cây AK-47 khác. Cả hai tên đều đeo bên hông chiếc máy thu thanh nhỏ 4 băng có bọc vải ni lông.
- Ai nữa?
- Người tên Tư liếc qua nhìn cô gái như trao một ám hiệu:
- Hết rồi. Chỉ có hai đứa tui.
- Ném lựu đạn xuống. Phúc ra lệnh.
Hạ sĩ Sang ném trái lựu đạn đã mở chốt cầm sẵn trong tay. Một tiếng nổ dữ dội vang lên. Chờ cho khói tan, Sang leo xuống hầm trong khi hai binh sĩ cầm súng thủ thế bên miệng hầm. Bổng từ phía bià làng có một tràng đạn vang lên dòn tan. Trung Sĩ Trí chạy ra và trở lại sau chừng vài phút.
- Tụi nó bắn được hai thằng từ bụi cây chạy ra rừng.
- Phải hai thằng này nằm chung hầm với anh không?
Tên Tư cúi gầm mặt xuống không nói gì. Phúc thuận chân đạp cho tên Tư một cái vào bụng. Té ra cái hầm có địa đạo thông ra bụi cây gần bìa rừng. Hai đứa chắc phải quan trọng lắm nên không để bị bắt mà cố chạy trốn.
- Hai thằng đó cấp gì, chức gì? ĐM mày câm hả?
- Dạ, bác Sáu Bí Thư và bác Năm Xã Ủy.
- A! Trúng mánh rồi. Trung sĩ Trí kêu ông Phương vào đây giùm tui.
Phúc chụp ống liên hợp máy C-25 báo cáo ngay về cho Trung Úy Lộc. Xong đem cô gái và hai tên tù binh ra chỗ Tiểu đoàn bộ. Nơi đây đã có các sĩ quan ban 2 Chi Khu đang làm việc thanh lọc. Trung Úy Lộc cũng vừa tới.
- Tiếc quá, hai thằng cao cấp kia chết thẳng cẳng rồi. Lấy được hai K-54.
Nhìn qua hai tên tù binh đang ngồi ủ rủ. Cô gái cũng ngồi cách đó mấy bước, khuôn mặt mếu máo và tránh nhìn hai tên Việt Cộng. Phúc động lòng lục túi lấy ra mấy tờ giấy bạc 100 đồng dúi cho cô gái.
- Cô cầm theo mà chi dùng. Chút nữa Ban Hai Chi Khu hỏi cung, cứ thành thật trả lời vài bữa họ tha về. Không sao đâu mà lo.
- Em có đứa con nhỏ, Thiếu Úy ơi. Cô oà lên khóc.
- Con của ai?
- Dạ, cha nó không có ở đây. Đi làm ăn xa.
Phúc nghĩ thầm: «Lại làm ăn xa. Chắc chồng nó là một trong hai thằng tù này.»
- Thế đứa nhỏ ai giữ?
- Dạ, má em. Bả ở đàng kia. Chỗ thanh lọc đó.
- Cô muốn tôi kêu bả lại không? Bả tên gì?
- Dạ, cho em thấy con một chút và nhắn má em vài câu.
Không muốn chứng kiến cảnh tượng thương tâm sắp diễn ra, Phúc giao cho Trung Sĩ Hùng mọi chuyện rồi chạy ra xem xác hai tên Việt Cộng gộc.
Chuẩn Úy Phương đã cho lính lục soát hai tử thi, trên tay anh đang cầm một xấp những giấy tờ lấy từ túi áo của địch. Bên cạnh hai xác chết do nhiều vết đạn là một cái ba lô con cóc bằng vải kaki màu nâu đựng một số tiền chưa đếm được, nhưng cũng phỏng đoán chừng cả trăm ngàn. Thằng mang ba lô chắc là kinh tài về thu thuế trong ấp. Anh Thiếu Úy ban 2 Chi Khu cũng vừa ra tới, ghi ghi chép chép. Anh ta đang muốn nhấc cái ba lô lên thì Phúc giằng lại.
- Anh không đụng tay vào cái gì ở đây được. Chiến lợi phẩm của tui tôi.
- Các anh chỉ lo hành quân bảo vệ thôi. Tụi tôi làm thanh lọc mà!
- Đem lính ra đây mà đánh nhau với chúng nó thì lấy gì cũng được. Anh về đi, tụi tôi lo ở đây. Anh lo trong kia kìa.
Trung Úy Lộc gọi máy cho Phúc gom hết các chiến lợi phẩm đem về giao cho Tiểu đoàn. Khi về đến chỗ Tiểu đoàn đóng quân, Phúc thoáng thấy cô gái đang theo gót hai tù binh bước lên chiếc xe M113 để được giải giao về Chi Khu. Hai tay cô bị trói quặt ra sau. Cô đưa đôi mắt buồn nhìn ngoái lui phía bà mẹ đang bế một đứa bé chừng một tuổi. Cả hai bà cháu đều khóc rống lên.
Đôi mắt Phúc chạm vào đôi mắt cô gái. Cô gái mím môi, biểu lộ chút oán hờn. Lòng Phúc chùng lại. Người lính miền Nam phải đối đầu với một địch thủ vừa quỷ quyệt vừa độc ác trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt; vì sự lựa chọn giữa sống và chết phải có những quyết định trái với bản chất của mình, nhưng tấm lòng của họ vẫn không thể giữ sắt đá vô cảm được. Phúc nhớ đến hình ảnh hàng ngàn người bị giặc chôn sống một cách dã man ở Huế hồi Tết Mậu Thân 1968. Lại nhớ những hình ảnh bọn Việt Cộng giết hàng trăm đàn bà trẻ con ở Dak Sun vì họ bỏ chạy không theo chúng. Chính sách khủng bố của Cộng Sản đã gây bao cảnh tang tóc cho người dân lành Miền Nam.
Thế là chiều nay, bên mâm cơm đạm bạc trong căn nhà có cái chuồng trâu tai ác kia, sẽ có một đứa bé thiếu bàn tay mẹ đút cơm cho và chẳng biết bao nhiêu tháng nữa bé sẽ không dựa được hơi ấm từ lòng mẹ trong những đêm đông lạnh buốt như đêm nay.
Đỗ Văn Phúc
Cuối năm Kỷ Sửu
January 2010.
( ) Tiếng lóng, có nghĩa huấn luyện bổ túc sau một thời gian dài hành quân.
Tưởng Năng Tiến
"Một nhát dao bay ngàn thuở đẹp
Dù sai hay trúng cũng là dư"
VHC
"Từ máy thâu thanh cô nàng hát nhanh, trọn kiếp thương anh lính trẻ xa nhà; tôi là người đi lính miền xa, nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu… nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu."
Sáu Mù hát hai lần trước khi kết thúc bản nhạc và lần nào y cũng nhắm mắt lại thiệt chật. Bảy què khoái chí cười sằng sặc, bỏ đờn xuống bàn:
- Bản này mà mày ca "tới" hơn bản Xuân Này Con Không Về, mà điều mày đừng có nhắm mắt lại ở khúc "nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu…"
- Sao vậy?
- Mày đui, mắt toàn tròng trắng không hà, mày mở ra hay nhắm lại thì cũng "có thấy gì đâu". Mày có nhắm mắt lại mất công và làm tao mắc cười chết mẹ.
- Ờ.
Sáu mù ờ rất yếu và mặt thoáng trầm ngâm. Y bị tật nguyền đã mười năm mà vết thương - đôi lúc - tưởng chừng như vẫn chưa kéo da non. Một va chạm nhẹ vẫn có thể gây ra cái cảm giác đau đớn khó chịu. Bảy què đang cười bỗng khựng. Nhìn mặt bạn nó biết liền là mình vừa giễu dở nên vội bàng biện bạch, khỏa lấp:
- Cũng như tao vậy, mày thấy có khi nào tao ca bản "đường còn dài nhưng chân cứng đá mềm" mà hồi tụi mình học ở Vương Mộng Hồng đâu. Còn có một giò mà cứ ắc ê đếm nhịp "một, hai, ba, bốn; một, hai, ba, bốn" hoài coi nó kỳ thấy mẹ!
- Vậy bữa nào rảnh mày dợt cho tao bài Người Nghệ sĩ Mù đi. Bản đó tao hát mà không hay tao làm con mày.
- Bản đó hát làm sao cà? Bảy què băn khoăn đưa tay lướt nhanh trên phím đàn mò nốt.
- Tự nhiên tao cũng quên mất tiêu. Tao nhớ là hồi đó mình hay nghe ở cái quán cà phê gì ngoài Đà Nẵng đó. Lúc mới vô đầu in tuồng có tiếng đờn, rồi tiếng tiền cắc thảy vô lon nghe keng, keng…
- Thôi tao nhớ rồi,. Bản này của Hoàng Thi Thơ, Hùng Cường ca chớ đâu. Rồi Bảy Què lấy giọng vô luôn: "Ai dừng chân nơi đây buông lòng theo câu ca. Tôi ngồi trong bóng tối nghe đời đi ra xa…"
- Nó đó…
- Mà không được đâu…
- Sao vậy?
- Mày chơi bản đó nghe giống như hai thằng mình đi ăn xin vậy. Tụi mình đâu có đi hát dạo kiếm ăn. Mình có trách nhiệm đi hát nhạc mình cho đồng bào thưởng thức mà, phải không?
- Ờ
Lần này Sáu Mù "ờ" mạnh hơn nhiều và nghiêng đầu nở một nụ cười rạng rỡ. Y luôn luôn thấy thích thú, phấn khởi khi nghe Bảy Què nhắc đến chuyện "trách nhiệm" của hai thằng.
Sáu Mù không nói ra được những điều mình biết và mình nghĩ trong lòng rành mạch như Bảy Què. Y khoái nghe bạn nhắc đi nhắc lại "nhiệm vụ" và "ý nghĩa" này nọ. Có bữa cao hứng Bảy Què còn nói lung tung về tác dụng của chiến tranh tâm lý, tác dụng của nhạc trong tâm hồn quần chúng…
Sáu Mù thiết tha được nghe cũng như Bảy Què khát khao được nói. Cả hai không bỏ lỡ cơ hội nào để bồi đắp niềm tin về cái ý nghiã xa xôi, mơ hồ nhưng cao đẹp cho phần đời thân tàn ma dại còn lại của hai thằng. Thường ngày hai thằng ngồi lên ngoài chợ trời. Bảy Què bày đồ nghề trên một cái bàn xếp chỉ lớn bằng bề mặt hai cuốn tập và cái bảng nhỏ cạnh bên: "Vô Mực Ruột Viết Bic và Sửa Hộp Quẹt Zippo Giá Rẻ". Sáu Mù thì không làm được chuyện này. Y vừa ngồi thổi sáo vừa... Cái nghề này kiếm ăn không khá. Sáu Mù sống lây lất được là nhờ sự đắp đổi của bạn. Điều này vẫn thường làm cho y buồn và mang nhiều mặc cảm. Bảy Què cứ phải an ủi hoài hoài:
- Mày kiếm tiền không nhiều được bằng tao nhưng mày có dịp thổi sáo cả ngày. Cái lợi là mình làm cho những người khách qua đường được nghe tới nghe lui bản Lòng Mẹ, Con Thuyền Không Bến…
Lợi làm sao? Bảy Què đã nói cả trăm lần như vậy rồi mà lần nào Sáu Mù cũng ráng hỏi lại.
-… thì ĐM người ta nghe mấy bản nhạc đó thấy đã tai hơn là nghe mấy bản nhạc chướng tai của tụi nó. Từ đó người ta nhớ thời cũ và càng chán cái thời chó đẻ này. Làm được như vậy là kể như tụi mình đang chiến đấu rồi. Cái này kêu bằng chiến tranh tâm lý mà Sáu.
Thiệt ra cái kêu bằng "Chiến Tranh Tâm Lý" này không phải là ý kiến của Bảy Què. Y chỉ lập lại những điều mà anh Hai hay nói cho tụi nó nghe thôi. Hai thằng quen anh Hai lâu rồi. Bữa đó, chợ trời bị bố ráp, rượt bắt một trận tơi bời. Bảy Què mất hết đồ nghề, mất luôn cây nạng. Sáu Mù cũng quờ quạng sao đó để mất luôn hết lưng vốn của mình, hai chục cái ống sáo. Sáu Mù cõng bạn chạy mà mệt muốn đứt hơi. May mắn gặp được anh Hai. Anh bỏ hai thằng lên xe chở tuốt về xóm. Từ đó anh Hai trở thành người anh kết nghĩa và ân nhân của hai thằng. Sáng, anh bốc hai thằng bỏ lên xe chở ra chợ. Chiều, anh cho hai thằng về. Lâu lâu còn có bữa anh "vớt" hai thằng về sớm hơn giờ đã định, đưa ra đường Hàm Nghi uống rum Lebon và nhậu củ kiệu với hột vịt bắc thảo.
Anh Hai không bị đui, cũng không bị què. Anh chỉ bị chột mắt thôi. Cái kính đen gắn liền trên gương mặt làm ảnh coi càng thêm dễ nể. Anh Hai không bao giờ nói cho Bảy Què và Sáu Mù nghe về dĩ vãng của mình. Thường ảnh hay trầm ngâm và buồn. Lâu lâu anh Hai mới nhỏ giọng, nghiêm trang nói chuyện với hai thằng với giọng nói rất chân tình và thuyết phục. Từ anh Hai mới ra cái chuyện chiến tranh tâm lý: "Cuộc chiến của mình vẫn đang âm thầm tiếp diễn trên mọi mặt trận. Hai em phải thấy, tụi nó chiếm được thành mà không chiếm được lòng người thì chưa kể là thắng; hiện tại tụi nó không những đã làm mất lòng người mà còn mất luôn cả lòng sĩ tốt của nó nữa. Chung cuộc tụi nó sẽ thua. Vấn đề của anh em mình bây giờ là phải chiến đấu, đóng góp toàn lực trong khả năng riêng của từng thằng để rút ngắn con đường đưa đến chiến thắng càng sớm càng tốt…"
Đã nhất là anh Hai làm cho Sáu Mù và Bảy Què thấy rằng tụi nó không phải là kẻ tàn tật đứng bên lề cuộc đời. Tụi nó vẫn có thừa khả năng, không những chỉ để sinh tồn mà còn để chiến đấu chống lại kẻ thù chung của dân tộc. Từ đó, mỗi buổi chiều trở về nhà thay vì chỉ nằm hát nghêu ngao chơi cho đỡ buồn thì Sáu Mù và Bảy Què tập dượt nhạc ráo riết. Mỗi tuần hai thằng được bà con vỗ tay tán thưởng, chia sẻ với niềm tin chung mãnh liệt của tất cả mọi người: cuộc chiến vẫn cứ đang tiếp diễn.
Lúc anh Hai tới thì Bảy Què và Sáu Mù đang cãi cọ về bản Sàigòn Vĩnh Biệt. Sáu Mù thích chơi bản đó nhưng bị Bảy Què chê:
- Người ta chán nghe hát tới hát lui "Sàigòn ơi anh xin hứa rằng anh trở về" rồi! Nghe láu cá chết mẹ. Có thấy ai về đâu nào?
- Nhưng mà - Sáu Mù nhỏ nhẹ - bà con vẫn cứ mong chớ đâu có chán. Có mình ênh mày không thích rồi mày nghĩ ai cũng như mày đâu có được.
Anh Hai can thiệp:
- Thôi trễ rồi nha hai đứa. Thì cứ để cho thằng Sáu nó ca; bản nào bà con vỗ tay nhiều thì hát tiếp không thì tuần sau bỏ.
Bốc hai thằng lên xe, đạp ra khỏi con hẻm rồi anh Hai mới hỏi:
- Chiều nay tụi mày tính "hành quân" ở đâu đây?
- Cho tụi em xuống trạm xe buýt ở góc Trương Công Định và Nguyễn An Ninh đi.
- Hát ở ngay đó tụi công an phường nó đá cho dập mật à.
- Đâu có, tụi em đón xe lên Tân Cảng mà. Thì cũng làm y chang như mấy lần trước vậy. Đi xe đường dài, khúc nào khách không chen chúc quá đông thì mình làm vài bản. Lần quần chiều nay mà tụi em chơi chừng hai chục bài là coi như tạm đủ để trả nợ núi sông rồi.
- Được - anh Hai tán thành - kế hoạch hành quân vậy là tạm ổn. Nhớ đừng chơi "Giã Từ Vũ Khí" nha. Cái gì mà "trả súng đạn này anh sạch nợ sông núi rồi," nghe rầu quá hà. Sáu Mù bắt liền: "…anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con tim héo em ơi. Xin trả lại đây, trả lại đây…"
- Thôi mà sáu - Bảy Què dấm dẳn - sao mày toàn thích mấy cái bản nhạc yếu xìu không vậy?
Cụt hứng, Sáu Mù tắt đài, chống chế bâng quơ:
- Bị nó làm tao nhớ cha Thượng Sĩ Tâm, chả già rồi mà chả hay ca: "rồi anh sẽ qua thăm nhà em, với miếng cau với miếng trầu ta làm lại từ đầu," nghe thấy đã.
- Tới trạm vừa kịp lúc xe đến. Anh Hai đẩy Bảy Què lên trước rồi dắt Sáu Mù lên sau. Trước khi quay đi anh không quên dặn:
- Chừng bảy giờ tao chờ tụi mày ở đây nha.
Ở ngay trạm chính xe chật ních người. Bảy Què đút gọn cái nạng dưới gầm ghế, ôm sát cây đờn ghi ta để đứng trước ngực, ngồi che một khoảng nhỏ vừa đủ cho Sáu Mù dựa lưng vào thành xe và bó chặt hai đầu gối. Xe ngừng ở trạm Nguyễn Du rồi Pasteur. Người xuống nhiều hơn người lên. Sàn xe bắt đầu có khoảng trống đủ rộng có thể di chuyển dễ dàng. Bảy Què đẩy bạn lết ra giữa đường đi và bắt đầu dạo đờn nhè nhẹ làm cho mọi người chú ý. Theo đúng chương trình hai thằng sẽ mở đầu bằng bản Trên Đầu Súng:
Trên đầu súng quê hương tổ quốc đã vươn mình
Trên lưỡi lê căm hờn, hờn căm như triều sóng
Ôi xôn xao chiêng trống hối thúc đã giục giã khắp chốn rộn ràng
Ôi lửa thiêng dậy bập bùng tay lửa tay vung kiếm
Trên đầu súng xâm lăng xiềng xích với bạo tàn
Trên lưỡi lê nô lệ cùm gông phải đổ nát…
Người nghe không những chỉ chú ý mà còn hơi sửng sốt. Hát dạo trên xe buýt không phải là một hiện tượng xa lạ nhưng nộ lệ, cùm gông… thì quả thực lạ tai và đã tai! Nhắm thấy có bộ được, Bảy Què và Sáu Mù tiếp luôn bản Cờ Bay:
Cờ bay, cờ bay oai hùng trên tổ quốc thân yêu thề chiếm lại nay mai bằng máu.
Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương đang ngóng đợi quân ta tiến về…
Đón nhau về anh đưa em về Gio Linh, Cam Lộ, Đông Hà.
Sạch bóng thù, đồng ta xanh với nắng mới, vang câu hát tự do...
Bản nhạc chấm dứt nhưng không ai vỗ tay. Bảy Què ngước nhìn lên và bắt gặp một hai người đang lấy tay chùi nước mắt. Y xúc động đến bối rối và cũng muốn khóc theo luôn. Y vừa đờn, vừa nói thầm với chính mình nhiều lần "Nhảy Dù Cố Gắng" để ngăn cho nước mắt khỏi chảy. Sáu Mù thì chưa cảm nhận được kịp phản ứng của thính giả, vẫn tiếp tục say mê ngồi hát. Chương trình tiếp nối bằng một bản nhạc đơn ca Trên Bốn Vùng Chiến Thuật:
"…Năm hai mươi mốt tuổi, tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai. Người yêu tôi mới quen mà thôi…"
Năm hai mươi mốt tuổi, Sáu Mù cũng đi vào quân đội. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Và người con gái y mới quen mà thôi ở quận Thường Đức - cách đây đã mười năm - mãi mãi vẫn còn trong tâm tưởng như một chiếc bóng đậm mầu. Lúc đơn vị đang tiến chiếm đồi 1062 thì Sáu Mù bị thương ở mắt. Y được trực thăng đưa thẳng về Tổng Y Viện Cộng Hoà. Giữa cái lúc nằm đau xót, mê man trên máy bay, Sáu Mù vẫn cứ nhớ và tiếc một điều: y đã không có dịp để nói với người ta một câu từ tạ, dù là "tạ từ trong đêm!"
Mắt Sáu Mù được giải phẫu xong đúng bốn giờ đồng hồ thì quân cộng sản kéo vào Saìgòn. Y bị đẩy ra khỏi bệnh viện để dành cho phe thương binh thắng trận. Sáu Mù vĩnh viễn "giã từ ánh sáng" kể từ lúc đó. Cũng từ đó không có thêm một người con gái nào lọt được vào đôi mắt trắng giã của Sáu Mù nữa. Trong cái bóng đêm dài hết một đời của Sáu Mù, thỉnh thoảng vẫn lóe sáng hình ảnh của hai người đàn bà: người mẹ và người con gái tóc thề mà y chưa kịp hỏi tên ở quận Thường Đức.
Những lúc lần dò, lê la ngoài hè phố hay trên xe buýt như thế này, tự thâm tâm Sáu Mù vẫn vừa mong mỏi, vừa lo sợ một điều: bất ngờ gặp lại được mẹ hay cố nhân trong cái phần đời bi thảm và chua xót này.
Khi bản nhạc chấm dứt thì Sáu Mù không còn thể nào ngăn được nước mắt đã lăn nhẹ trên đôi gò má gầy guộc đến trơ xương của mình. Nhiều hành khách khác cũng khóc. Không khí trên xe trầm lắng đến nặng nề. Mọi người đều im lặng, thẫn thờ như họ đang bị thôi miên. Đứa bé bán chuối chiên cẩn trọng gói một trái chuối bự nhất, nhẹ nhàng mang đến đặt vào tay Sáu Mù. Cái cảm giác nong nóng ở tay khiến y biết ngay là có một người nào đó đã động lòng trắc ẩn và dấm dúi cho mình một phần lương thực. Sáu Mù không cảm thấy bị xúc phạm, chỉ càng tủi thân thêm. Mãi đến lúc đó nhiều người mới nhìn thật kỹ Sáu Mù và Bảy Què. Họ chợt nhận ra trước mắt mình là hai người thương binh - dù quân phục đã cũ nát, tả tơi và phù hiệu đơn vị đã bạc màu - chứ không phải là những kẻ ăn xin hát dạo như thường thấy.
Sáu Mù đã cảm nhận được hết cái không khí thương yêu chia sẻ quanh mình. Y xúc động đến run người. May mắn là sự mù lòa giúp cho y đỡ bối rối hơn là Bảy Què trong lúc này. Bảy Què phải cúi gầm mặt xuống, tránh những ánh mắt chứa chan thiện cảm của những người xung quanh. Cảm tình của thính giả làm cho Bảy Què luống cuống. Bần thần một hồi y mới lấy lại được bình tĩnh. Y Vội vàng chuyển nhịp, chơi bản Hội Nghị Diên Hồng:
"Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến?
Hận thù đăng đăng, biên thùy rung chuyển…
Toàn dân Tiên Long, sơn hà nguy biến!
Hận thù đăng đăng nên hòa hay chiến?
QUYẾT CHIẾN! …"
Có tiếng ho đáp bất ngờ của nhiều người trong xe. Bảy Què và Sáu Mù tưởng như có một luồng điện chạy qua tim. Không riêng gì hai thằng mà có lẽ là tất cả mọi hành khách đều xúc động mãnh liệt. Sau đó có đến hơn chục người cùng cất cao giọng hát chung với hai thằng.
Xe ngừng lai ở một vài trạm kế tiếp, không ai xuống! Lác đác chỉ có người lên. Mặc kệ cho những người mới bước lên xe ngơ ngác, Bảy Què, Sáu Mù và nhiều hành khách trên xe cứ hát. Sau khi "chìu" theo mọi người hát đi hát lại bản Hội Nghị Diên Hồng đến lần thứ ba, Bảy Què mới chuyển nhịp qua được bản "Mẹ Việt Nam Ơi "Chúng Con Vẫn Còn Đây:
Nhưng mẹ ơi giờ đây sao mẹ khóc?
Hai vai gầy run rẩy nát tâm can.
Lệ hồng pha Bến Hải nước tràn dâng.
Áo nâu nghèo mẹ khóc để phơi thân.
Một đàn con giờ quên ơn mẹ dưỡng.
Súng đạn cày tan nát luống quê hương…
Mẹ lòng đau thương xót cảnh lầm than,
Xót xa nhiều phương Bắc chiếm phương Nam.
Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng than khóc nữa.
Vì chúng con của mẹ vẫn còn đây…"
Xe đến tận Tân Cảng, trạm cuối. Bản nhạc cuối cùng cũng vừa vặn chấm dứt ở đó. Mọi người lục tục xuống xe. Họ đi qua chỗ hai thằng, không quên nhét vội vào túi tụi nó những đồng tiền lẻ. Có người lục tìm mãi túi mình rồi bối rối nhét đại vào áo Sáu Mù một bịch… thuốc rê! Hai thằng ngồi sượng sùng đón nhận những câu nói "cảm ơn" nho nhỏ và những đồng tiền, những món quà rơi như mưa vào người mình. Riêng Bảy Què thì không dưng mà chợt nhớ đến cái lúc mà y ngượng ngập cúi đầu nhận vòng hoa chiến thắng từ tay của em nữ sinh Trưng vương vào một buổi sáng nào đó đã xa lắc, xa lơ.
Trong đám hành khách, có hai người không móc tiền, cũng không móc thuốc. Họ rút từ trong người ra khẩu K.54 dí vào ót của hai thằng. Cái cảm giác thép lạnh làm Sáu Mù điếng người. Hắn ú ớ lên tiếng hỏi:
- Làm cái gì vậy?
- Về đồn rồi biết…
- Bảy Què hốt hoảng:
- Tụi tui làm gì mà bắt chớ?
- Làm việc cho CIA chống phá cách mạng chứ còn làm gì nữa.
Đám đông hiếu kỳ còn đang kinh ngạc tần ngần, nghe đến mấy chữ CIA liền bước nhanh xuống xe, vội vàng tản mát ra xa. Tay phải cầm súng, tay trái nắm cổ áo của Sáu Mù và Bảy Què, hai người đàn ông lực lưỡng lôi hai thằng xuống xe như lôi hai con chó!
Chuyến xe buýt cuối cùng Tân Cảng - Sàigòn đã đổ trạm từ hồi xẩm tối nhưng anh Hai vẫn neo xe chờ Sáu Mù và Bảy Què cho đến tận khuya. Anh biết chắc hai thằng em mình "thua" rồi nhưng vẫn cứ chờ. Làm sao mà bỏ đi liền cho đặng? Ngày xưa khi còn là một hoa tiêu trực thăng anh Hai cũng đã đi đón hụt nhiều chuyến như vậy rồi. Cái cảm giác mất mát lúc mang máy bay về không giữa đêm trường bao la sau khi đón hụt những toán biệt cách không làm cho anh thấy khổ sở và bứt rứt khủng khiếp như bây giờ.
Hút đến điếu thuốc cuối cùng rồi anh Hai leo lên xe lầm lũi đạp ra hướng bờ sông. Sông Sàigòn. Bờ sông vắng , nước đen, gió lạnh, "Sông đưa người rồi cũng mỏi mòn trông!" Anh Hai lẩm nhẩm một mình và chưa bao giờ thấy mình cô đơn như lúc ấy. Anh chợt nghĩ đến những thằng bạn đồng ngũ còn lận đận ở tận những phương trời xa xôi nào đó và tiếp tục lẩm bẩm: "tụi nó đều còn nguyên vẹn hết mà sau mười năm rồi không thấy đứa nào quay trở lại. Bộ ở nơi xa tụi bây không biết rằng trận chiến này vẫn đang tiếp diễn sao?"
Tưởng Năng Tiến
Những Bài Trong Các Số Báo Trước
Những Bài Trong Các Số Báo Trước