Đả đảo 2010! Đả đảo Canh Dần!

“…năm mới có gì đáng mừng? Nó chỉ là một cỗ máy huỷ diệt. Nó huỷ diệt một cách âm thầm, lén lút nhưng dã man, vô nhân đạo. Nó không phân biệt kẻ sang người hèn, kẻ xấu người tốt, nó huỷ hoại tất cả, nó đưa mọi người tới nghĩa trang…”
Một trong những chuyện mà tôi thấy là quái đản nhất trong những dịp cuối năm là nhận được những thiệp "chúc mừng năm mới". Thú thực tôi thấy rất nhảm.
Chúc thì dĩ nhiên tôi thích, nhất là chúc mừng. Đó là biểu hiện của tình bạn, tình thân, của người muốn điều tốt cho mình. Nhưng tại sao lại "chúc mừng năm mới"? Tôi có mong năm mới đến đâu? Năm mới có gì đáng mừng? Càng nhiều năm mới bao nhiêu càng rệu rã bấy nhiêu chứ ăn cái giải gì. Không tin các bạn cứ thử mở album coi lại hình ảnh cũ. Cái ngày xưa trẻ đẹp đầy sức sống đâu rồi? Cái gì đã cướp mất đi nếu không phải là những năm mới?
Ông chú tôi chắc chắn là một trong những người may mắn nhất. Ông đẹp trai, học giỏi, lấy được bà thím tôi tài sắc đảm đang, làm việc gì cũng thành công, giàu có, quyền cao chức trọng, lại có viễn kiến, rời Việt Nam trước ngày 30-4-1975 mang theo được cả gia tài. Sang Mỹ chú thím tôi phất lên kinh khủng, ông tặng mấy triệu đô la cho một trường đại học danh tiếng để xây một giảng đường đồ sộ mang tên ông. Ông được cộng đồng người Việt vinh danh và cảm tạ vì đã làm "vẻ vang dân Việt" dù ông chẳng hề làm gì cho người Việt và cho cái đất nước đã cho ông tất cả.
Người Việt Nam rất dễ biết ơn, họ rất dễ cảm thấy được thơm lây. Hễ ai cao sang là họ biết ơn, ngay cả những người không làm gì cho họ, kể cả những ông vua bắt tổ tiên họ làm nô lệ, kể cả những vĩ nhân gây ra những cuộc chiến chẳng có ích lợi gì mà còn làm chết cả triệu người. Chúng ta cần tự hào hơn nữa về cái đặc tính dân tộc rất quảng đại này.
Tóm lại, trên thế gian này ít ai bằng được chú tôi. Thế nhưng bây giờ thì chú tôi lại hoàn toàn không ý thức được hạnh phúc của mình, ông đi lại khó khăn, cả ngày nằm một chỗ thở thều thào, chẳng còn biết tài sản của mình là bao nhiêu, vinh quang của mình đến mức nào, quên cả tên con cháu. Tất cả chỉ vì hơn chín chục cái năm mới mà người ta đã liên tục chúc mừng ông. Nghe nói chú tôi còn thua xa một ông người Mỹ tên là Warren Buffet có một tài sản 70 tỷ đô la. Ông này cũng đã giúp hàng tỷ đô la cho các hội từ thiện và thực sự xứng đáng để được cả thế giới mang ơn, chứ không phải chỉ có người Việt Nam mang ơn như chú tôi. Như thế là cứ mỗi năm ông kiếm được một tỷ đô la. Kẹt một nỗi là ông cũng mang trên vai tám mươi cái năm mới và coi bộ cũng sắp đến lúc phải bàn giao tài sản để trở về đất.
Vậy thì cái năm mới có gì đáng mừng? Nó chỉ là một cỗ máy huỷ diệt. Nó huỷ diệt một cách âm thầm, lén lút nhưng dã man, vô nhân đạo. Nó không phân biệt kẻ sang người hèn, kẻ xấu người tốt, nó huỷ hoại tất cả, nó đưa mọi người tới nghĩa trang. Như vậy thì có lý do gì để chúng ta phải mừng năm mới và chúc mừng nhau năm mới? Trái lại chúng ta còn phải cực lực phản đối và kiên quyết chống lại. Bằng cách nào thì tôi không biết và chúng ta có thể thảo luận một cách dân chủ, nhưng chắc chắn là phải chống lại.
Chỉ phiền một nỗi là chúng ta rất thiếu đoàn kết và sáng suốt. Trước một kẻ thù chung nham hiểm như vậy có người lại hợp tác, chào mừng nó và rủ nhau ăn mừng nó. Thật là vô ý thức. Cần khẩn cấp thức tỉnh nhân dân để muôn người như một đoàn kết trong một mặt trận chung ngăn chặn không cho năm mới tới. Bây giờ đã quá trễ để ngăn chặn năm 2010, nó đã đến rồi nhưng chúng ta vẫn phải phấn đấu để đánh đuổi nó đi. Nó phi nghĩa và vô đạo thì ta phải chống, cho dù cái giá phải trả là sẽ phải đương đầu với năm 2011. Vậy thì chúng ta hãy cùng hô to "Đả đảo 2010!".
Trước mắt cần hình thành ngay một mặt trận đại đoàn kết chống năm Canh Dần. Nó đã đến rất gần và có thể là đã quá trễ để ngăn chặn, nhưng vấn đề căn bản là chúng ta ý thức được rằng nó độc hại cho sự sống còn của chúng ta, nhất định phải chống lại với tất cả quyết tâm. Và nếu chúng ta cảm thấy dầu sao cũng không thể chống được nữa thì lại càng phải chuẩn bị để nếu có thua cũng thua trong danh dự, không thể để cho kẻ thù huênh hoang trong chiến thắng. Một cách cụ thể chúng ta sẽ tươi cười hiên ngang mở tiệc và muôn người người như một cùng nâng ly hô to "Đả đảo Canh Dần!".
Nhân tiện, khi chúng ta hô "Đả đảo 2010!", "Đả đảo Canh Dần!", cũng xin có đôi lời về tiếng "đả đảo". Theo chỗ tôi biết thì đây không phải là một từ tiếng Việt. Trước năm 1945 tiếng Việt không hề có tiếng "đả đảo". Nó là một tiếng Tàu 100% và có nghĩa là đánh đổ. Nó đã được du nhập vào Việt Nam nhờ chủ tịch Hồ Chí Minh, một người mà theo tập quán Việt Nam rất đáng tôn vinh và biết ơn vì đã thành công, dù thành công cho ai là điều không cần biết, cũng như ông chú tôi được tôn vinh và biết ơn dù chỉ thành công cho ông ấy. Chủ tịch sống ở Trung Quốc lâu năm nên quên tiếng Việt, lại có vợ Tàu nên thạo tiếng Tàu. Chủ tịch đã đem về nước chữ đả đảo, nhờ ông mà người Việt Nam chúng ta biết đả đảo lẫn nhau.
Đáy
Nguồn: Thông Luận 2010
Tôi làm thông dịch viên
Hưng Yên
Giá mà tôi chịu khó học Anh Văn liên tục từ ngày sang Mỹ tới giờ thì chắc cũng khá lắm rồi, gần 20 năm ở Mỹ rồi chứ ít sao? Các cụ thử tính xem, một đứa trẻ con thông minh trung bình, vào học lớp 1 lúc nó lên 6 tuổi, hai mươi năm sau nó 26 tuổi, nếu mỗi năm lên một lớp thì 26 tuổi nó đã học tới lớp gì rồi? Này nhé: 5 năm elementary school, 3 năm middle school, 4 năm high school. Lên đại học, 4 năm sau nữa đã có cái bằng Cử nhân. Thế là mới hết có 16 năm. Còn 4 năm nữa - nếu học tiếp - là nó đã có thể… “chơi” được cái tiến sĩ. Tôi chỉ dám nói “có thể” chứ không chắc lắm, nhưng mà như thế cũng đã ngon lành chán rồi, đúng không nào?
Tôi sang Mỹ đến nay đã gần 20 năm. Sau hơn một tháng đến Mỹ, khi đã gọi là tạm ổn định chỗ ăn chỗ ở rồi, tôi hăm hở đi học Anh văn ngay. Mỗi tuần 2 tối, từ 7 tới 9 tối tại một ngôi trường tiểu học. Cách nhà không mấy xa, lái xe mất chừng 5, 7 phút, có hai lớp dạy Anh văn cho những người Việt Nam mới qua Mỹ mà tiếng Anh còn yếu hay chưa biết gì. Giáo viên là một bà Việt Nam và một bà Mỹ tuổi đã xồn xồn, nghe nói là người của hội USCC. Các vị dạy có lương hay không thì không biết nhưng coi bộ nhiệt tình lắm. Sau khi làm bài kiểm tra tôi được xếp vào lớp trên - là lớp của bà Mỹ dạy - trên cả mấy đứa con tôi, mặc dù ở Việt Nam chúng đã học hết trung học, có đứa đã vào đại học. Phải vậy chứ, vì ngoài học Anh văn ở bậc trung học, trước 1975 tôi còn được về trường Sinh Ngữ Quân Đội ở Gò Vấp học thêm Anh văn đến 11 tháng để chuẩn bị sang Mỹ học một khoá về truyền thông, nhưng ý định chưa thành thì Việt Cộng nó vào thế là đi đoong hết ráo. Chẳng những thế lại còn phải đi tù cải tạo hết 6 năm 4 tháng mới được về. Lại sống dưới chế độ XHCN ưu việt thêm 9 năm nữa, thượng vàng hạ cám làm đủ mọi nghề, kể cả nghề… đạp xích lô rồi mới qua Mỹ theo diện HO. Lúc đó thì tiếng Anh tiếng Mỹ gì cũng đã “chữ thầy trả thầy” gần hết!
Ít ngày đầu mọi người đều học hăng lắm, nhưng dần dần học trò mỗi ngày mỗi vắng; sĩ số mỗi lớp từ trên 10 người, dần dần xuống còn có mấy người, thế là hai lớp dồn lại một cho một mình bà giáo người Việt dạy. Lúc này mới thật là nản, học trò cọc cạch, dạy hơi khó một tí thì có người theo không kịp, mà dạy cho mọi người cùng hiểu thì lại có người chỉ lơ mơ ngồi… nhổ râu. Nhưng khổ nhất là cái… mệt, má ơi, sao mà nó mệt quá đi! Có lẽ là mình sống và làm việc ở Mỹ chưa quen! Dĩ nhiên là ở đâu cũng vậy, có làm mới có ăn. Mỹ mang tiếng là giầu có, nhưng họ đâu có đưa mình qua nước họ để nuôi báo cô? Mà mình cũng đâu có muốn như thế. Tôi chỉ vì ghét Việt Cộng mà đi thôi chứ đâu có phải là tha phương cầu thực?
Gia đình tôi được thằng cháu kêu tôi bằng cậu bông so (sponsor) về Amelia thuộc Morgan City, một thành phố nhỏ xíu của tiểu bang Louisiana. Ở đây đa số người Việt Nam mình đàn ông thì làm nghề thợ hàn, còn đàn bà làm nghề cắt ghẹ. Sau chừng hơn một tháng, tạm thời ổn định chỗ ăn chỗ ở rồi, bố con tôi theo người ta đi làm; tôi và thằng con trai đập càng còn hai đứa con gái cắt ghẹ (đập những cái càng và cắt những con ghẹ đã được hấp chín ra moi lấy thịt, đập càng dễ hơn cắt ghẹ), chỉ có bà xã tôi ốm yếu nên tạm thời chưa phải đi làm. Làm việc ăn theo sản phẩm, làm được nhiều ăn nhiều, làm được ít ăn ít, chứ không phải làm lãnh lương.
3 giờ sáng bố con lục đục thức dậy, trệu trạo nhai mấy tép sandwiches kẹp cheese rồi theo xe người ta đến hãng ghẹ, miệt mài kẻ cắt, người đập đến khoảng 3 giờ chiều hết ghẹ lại theo xe người ta đi về. Ngày đầu tiên tính ra tôi được 13 đô la mà làm chóng mày chóng mặt, miệng đắng nghét, thở không ra hơi. Cái này là tại tôi dở, chân tay lóng ngóng chậm chạp chứ không phải lỗi tại ai hết. Người ta làm hết tháng này sang tháng khác, hết năm này sang năm khác, hai tay thoăn thoắt trong khi miệng vẫn nói chuyện tía lia, có người một ngày kiếm cả trăm đô la chứ có ít đâu, chỉ có bố con tôi là bết quá!
Đi làm kiếm cơm là bắt buộc, “tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” tục ngữ ta đã nói như thế, vậy nên không có vấn đề muốn hay không muốn. Chỉ có cái sao mà nó mệt quá, ngày nào cũng thức dậy từ 3 giờ sáng, đi làm có khi đến 4, 5 giờ chiều mới về đến nhà, tắm rửa, ăn uống, loanh quanh một tí lại chuẩn bị đi học, ấy là một tuần chỉ học có hai tối thôi đấy.
Ai chả biết ở Mỹ mà không nói được tiếng Anh nó kẹt lắm, với lại đi làm chung với mấy ông mấy bà sang Mỹ đã lâu nghe họ nói tiếng Anh tíu tít, dziu dziu, mi mi (you you, me me) loạn xạ trong khi mình cứ im thin thít như hạt thóc nó mắc cỡ lắm. Biết thế nhưng lại tự biết mình là thằng nhát gan, nói tiếng Anh mà lại cứ sợ là mình nói sai, nói búa xua bất kể trúng trật tôi nói không được. Biết là sợ nói sai, nói không đúng giọng thì phải học, nhưng mà khổ lắm, tôi chỉ hăng hái được một, hai tháng đầu rồi thì càng ngày càng nản. Ngồi trong lớp mà sao hai mắt nó cứ “dzíp” lại. Những tối có lớp, chỉ có 2 giờ, từ 7 giờ đến 9 giờ thôi mà sao thấy nó lâu thế không biết? Tuần lễ 7 ngày thì thứ Ba và thứ Năm là tôi sợ nhất vì hai ngày này phải đi học. Một hôm đi làm về không sao, sắp đến giờ đi học tự nhiên tôi thấy trong người như muốn bệnh, uể oải quá sức, tôi bảo thằng con nói với bà giáo hôm nay ba bệnh, xin nghỉ. Đến chừng sau hơn 7 giờ tối, thấy mình khoẻ lại như thường, suy nghĩ biết chắc cái này chỉ là “bệnh lười” chứ không có chi lạ. “Lười” như thế được vài lần, tôi nghỉ luôn, không đi học tối nữa. Bà xã hỏi: “Sao anh không đi học”? Tôi trả lời: “Mệt quá, anh tự học ở nhà thôi”! Mấy tuần lễ sau thấy mấy đứa con cũng nghỉ ở nhà luôn. Hỏi sao không đi học? Chúng trả lời: Ít học sinh quá, lớp học đóng cửa rồi!
Tôi tự học ở nhà thật chứ không phải là “nổ” đâu. Số là như thế này: Tôi ở tù cải tạo ra được vài tháng thì vợ chồng thằng cháu chúng nó vượt biên, thế có nghĩa là chúng bỏ nước ra đi trước ngày gia đình tôi qua Mỹ đã 9 năm. Bây giờ nó đang làm thợ sửa xe cho một cái shop của Mỹ trong chợ Walmart và nó nói tiếng Anh coi bộ đã “nhuyễn” lắm. Tôi hỏi: Cháu học Anh văn bao lâu mà nói tiếng Anh “chiến đấu” thế? Nó trả lời: Con ở đảo Galang 3 năm chỉ ăn rồi đi học, 6 tháng trước khi vào Mỹ con lại làm giáo viên dạy Anh văn cho những người Việt mới tới đảo. Thế rồi nó bày cho tôi cách tự học tiếng Anh sao cho có kết quả. Nó bảo: Con cho cậu mượn mấy cuốn sách, kèm cả băng và máy cassette. Học đến bài nào thì cậu nghiên cứu bài ấy trước, tra cứu cho hiểu hết nghĩa các chữ chưa biết, sau đó mở cassette ra, mắt đọc sách, tai nghe băng, cho tới khi nào gấp sách lại, chỉ nghe thôi mà bắt được từng chữ, hiểu rành rẽ cả bài văn gần như thuộc lòng, lúc đó mới học sang bài khác. Tôi đem máy cassette, đem sách, đem băng về làm như lời thằng cháu nói, quả nhiên kết quả trông thấy. Thế nhưng - lại thế nhưng - phải thật kiên nhẫn mới được. Giá chỉ ăn rồi học thôi thì may ra, chứ vừa đi làm sặc gạch như tôi vừa học sao thấy nó găng quá! Cũng còn phải giải trí như coi TV, nghe nhạc, đọc sách báo và ngủ nghỉ lấy sức để hôm sau đi cầy tiếp nữa chứ? Một cái dở của tôi nữa là ngồi mà học thì nó đau lưng, còn nếu nằm xuống thì chỉ một lát là hai mí mắt đã dính lại, rồi nào còn phải tra tự điển, phải ghi chép… chao ôi sao mà nó mệt quá! Thế là lại chỉ theo đuổi được chừng hơn 1 tháng rồi sách, băng và máy cassette bỏ một đống trong góc nhà, không ngó tới nữa.
Tôi bỏ không theo xe người ta đi đập càng ghẹ nữa vì đã xin được việc helper thợ hàn trong hãng Mc Demott. Bây giờ thì có sợ nói tiếng Anh sai cũng không được, cũng cứ phải nói, phải nghe, thế là tôi nói búa xua, miễn sao họ hiểu mình là được rồi. Với lại… làm cái anh helper thì chỉ cứ như ông thiên lôi, chỉ đâu đánh đó chứ có phải bàn thảo hay tranh luận gì đâu mà sợ, vậy nên việc học Anh văn bây giờ đối với tôi không được đặt nặng nữa. Thế nhưng “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”, mình muốn yên thân làm anh helper thôi cũng đâu có được. Mới làm job thơm helper được mấy tháng thì tôi bị layoff. Cuối năm ít việc nên hãng không cần nhiều helper nữa. Vì tôi ít thâm niên công vụ nhất nên được ưu tiên ra đi trước tiên. Thế rồi may mắn có người giới thiệu, tôi lại kiếm được chân rửa chén bát cho một nhà hàng ăn mà chủ nhân là người Ý ở New Orleans. Làm cái anh Dish Washer, suốt ngày chỉ lục đục với nồi niêu soong chảo, với dĩa bát và muỗng nĩa dơ thì tiếng Anh nhiều mà làm gì? Ấy thế mà chính trong thời gian này tôi lại đã phải làm thông dịch viên đến 2 lần đấy. Lần thứ nhất là giúp cho hai vợ chồng mới từ Việt Nam qua, và mới xin vào làm cùng một nhà hàng với tôi. Anh chồng làm bus boy, còn chị vợ phụ tôi rửa chén bát. Một lần thấy bà chủ nhà hàng đến, anh chồng (tức là anh bus boy) nói với tôi: “Ông giúp tôi nói với bà chủ trả cho vợ chồng tôi nửa check nửa tiền mặt chứ lãnh toàn check thế này kẹt quá”! Tôi nghĩ bụng: “Anh văn tôi cũng ấm ớ bỏ mẹ, lại cũng chỉ có 5 đồng 1 giờ và lãnh toàn check chứ có hơn gì anh đâu”? Nhưng chỉ nghĩ bụng thế thôi chứ nói ra miệng làm gì, mất mặt bầu cua hết. Thế là tôi làm ra vẻ hung hăng con bọ xít, bảo: “Ông bà theo tôi, rồi nói gì thì nói tôi dịch sang Anh văn hộ”. Sau đó tôi dẫn hai vợ chồng vào văn phòng gặp bà chủ, rồi không nhớ là ăn nói thế nào mà bà chủ OK bảo người manager trả cho hai vợ chồng ông này nửa check nửa tiền mặt. Từ đấy hai vợ chồng vừa phục, vừa quý tôi lắm, cám ơn hoài.
Lần làm thông dịch viên thứ hai mới thật là… ác ôn côn đồ Việt Cộng! Hôm ấy, đang lúi húi trong khu rửa chén bát thì người Manager vào kéo tay tôi, bảo: “Mít tờ… ông ra đây tôi nhờ cái này”! Tôi theo người Manager ra trước cửa nhà hàng, ông ta chỉ vào mấy người có vẻ “ngoại quốc” đang đứng đó, nói: “Mấy người này nói tiếng Pháp, tôi chẳng hiểu gì cả, ông hỏi xem họ muốn gì giùm tôi”!
Má ơi, cú này thì con chết chắc! Có lẽ trước tôi, đã có ông hay bà Việt Nam nào làm ở đây biết nói tiếng Pháp, nên họ tưởng người Việt Nam nào cũng nói được tiếng Pháp chăng? Thực ra, không phải là tôi không có học tiếng Pháp. Ở vào cái tuổi của tôi (năm nay đã bảy chục, thêm mấy tháng tính theo tuổi Tây đàng hoàng) thời đó con nít mới học tới lớp Ba đã bắt đầu học Pháp văn rồi. Nhưng cái đầu của tôi nó làm sao ấy, học cái gì thì được, nhất là đánh bi, đánh đáo, chỉ cần chỉ sơ một cái là tôi chơi được ngay, mà còn chơi giỏi nữa, chứ còn học, mà lại là học ngoại ngữ thì tôi bết lắm, học trước quên sau. Đến nay đã sáu mươi mấy năm mà tôi vẫn còn nhớ như in ở trong bụng. Năm ấy tôi học lớp Ba trường Nhà thờ, thầy giáo dạy tôi là một vị thầy tu theo Cha đi giúp Giáo Xứ. Ngoài việc chính thức “đứng” một lớp, thầy còn dạy thêm Pháp văn cho khoảng mười đứa lau nhau học dốt trong đó có tôi vào mỗi buổi chiều, dĩ nhiên là thầy dạy “chùa” thôi chứ không có tiền bạc gì cả. Tôi học trước quên sau, chỉ có một chữ occupé thôi mà thầy nhắc đi nhắc lại mấy lần tôi vẫn không nhớ được nghĩa. Giận quá thầy dang tay xán tôi một cái bốp ù hẳn một bên tai. Tôi ngồi ôm mặt khóc, khóc mãi, thầy dỗ thế nào cũng không nín. Cuối cùng thầy bỏ đi đâu một lúc rồi mang đến cho tôi một chén chè nếp như chè Bà Cốt vậy. Tôi ăn hết chén chè thì thôi không khóc nữa, và từ đó, có lẽ cho đến chết tôi cũng không quên được nghĩa chữ occupé.
Viết lại mẩu chuyện trên là tôi chỉ muốn nói tôi có học Pháp văn, mà còn học nhiều hơn học Anh văn nữa. Kẹt một cái tôi đã vừa học dốt, lại vừa mấy chục năm không ngó ngàng gì tới tiếng Pháp nên đã quên gần hết. Thế mà bây giờ ông boss của tôi lại muốn tôi làm thông ngôn cho ống ấy giao dịch với người Pháp, như thế có phải là muốn giết tôi không? Nhưng biết làm sao bây giờ? Chả lẽ lại bảo tôi không biết nói tiếng Pháp, ông đi kiếm người khác làm thông ngôn cho! Nói như thế thì còn ra cái thể thống gì nữa, với lại nếu kiếm được người khác thì người ta cần gì tới mình? Lại nhớ lại, đã lâu lắm rồi, tôi có nghe một mẩu chuyện phiếm về việc nói tiếng Tây như thế này: Có anh bồi kia muốn nói về con cọp với ông chủ Pháp, nhưng anh ta không biết con cọp tiếng Pháp họ kêu là gì, anh ta mới diễn tả như thế này: Luý bớp, luý pa bớp, luý tí ti giôn, luý tí ti noa, luý măng giê moa, luý măng giê vu (Lui boeuf, lui pas boeuf, lui tí ti jaune, lui tí ti noir, lui mangé moi, lui mangé vous = nó con bò, nó không con bò, nó một tí vàng, nó một tí đen, nó ăn tôi, nó ăn anh), thế mà ông chủ người Pháp hiểu anh bồi muốn nói về cái gì đấy. Lại nghĩ mình nói tiếng Pháp dù có tệ thì cũng chỉ mấy ông Pháp biết, chứ ông manager Mỹ biết thế nào được. Thế là tôi đâm liều, chơi luôn!
Nói qua nói lại một lát, tôi đã dịch cho người Manager hiểu được là mấy ông Pháp muốn đặt sẵn mấy bàn để chiều nay họ tới ăn. Từ hôm đó thỉnh thoảng ông Manager lại nhìn tôi cười, rồi giơ ngón tay cái lên bảo: You number one! Tôi nghĩ bụng number one cái con khỉ, “không có chó bắt mèo…” chứ number one cái gì?
Thế rồi dòng đời đưa đẩy, gia đình tôi không còn ở Morgan City nữa mà “mu” đến New Orleans, rồi nay thì ở Charlotte, NC. Gần 20 năm trời làm đủ mọi nghề, đếm đốt ngón tay, cho tới ngày chính thức về nhà đuổi gà cho vợ tôi đã thay đổi tới 8 jobs chứ không ít. Trong 8 jobs này, chỉ có job sau cùng là tôi làm lâu hơn cả, những 6 năm làm ông custodial ở một ngôi trường trung học khá lớn, nhân viên nhà trường có tới gần 200 người mà chỉ tôi là người Việt, thế là đi làm chỉ toàn nói và nghe tiếng… Mỹ, vậy nên cứ phải thành thật khai báo có nhiều khi tôi chỉ “đoán” thôi chứ chẳng hiểu chính xác là họ muốn nói gì!
Gia đình có 5 người, hai vợ chồng và ba đứa con, 2 gái 1 trai. Ngày mới qua Mỹ, chỉ bà xã tôi thể lực yếu, bệnh hoạn hoài nên được ở nhà, còn 4 bố con ai cũng phải “lao động là vinh quang” cả. Thế nhưng dần dần trai lớn lấy vợ, gái lớn lấy chồng, chúng có gia đình riêng của chúng, lúc đó thì hai ông bà già đành hủ hỉ và lo cho nhau, bất đắc dĩ lắm mới phải kêu đến con cái, vì biết chúng lo cho gia đình riêng của chúng cũng đã bở hơi tai rồi!
Bà xã tôi bệnh hoạn triền miên: tiểu đường, cao máu, bao tử, phong thấp… bệnh nọ đẻ bệnh kia, đi hết bác sĩ gia đình lại đến bác sĩ chuyên khoa, một tháng có khi phải đi bác sĩ đến 2, 3 lần. Nhưng mà không sao, ngày Việt Cộng nó vào, nó bắt mình đi tù cải tạo, ai không biết thế nào, chứ tôi hơn 6 năm ở tù, bà xã tôi ở nhà một nách 4 đứa con dại, vất vả trăm chiều vậy mà cứ đều đều 2 tháng một lần thăm nuôi tôi, chẳng để cho tôi phải trở thành con bà phước! Vất vả cực khổ như thế mà bà ấy còn chịu được, huống chi bây giờ ở Mỹ, mọi sự đã có chính phủ lo. Tiền bệnh viện, tiền bác sĩ, tiền thuốc men chính phủ trả, tôi chỉ có bổn phận làm tài xế đưa vợ đi, đón vợ về thôi mà không làm được hay sao?
Vâng, nếu chỉ có làm tài xế đưa bà xã đi, đón bà xã về thôi thì tôi dư sức. Kẹt một cái, ngoại trừ ông bác sĩ gia đình là người Việt Nam, ngoài ra tất cả các bác sĩ chuyên khoa khác của bà xã tôi đều là người… ngoại quốc cả, thành ra ngoài việc lái xe tôi còn phải kiêm luôn chân thông ngôn nữa mới là chết chứ! Đọc đến đây thế nào chả có vị théc méc hỏi: Nhà bác đã chả khoe làm thông dịch viên cho người ta mấy lần ngon lành, lại ở Mỹ đã gần 20 năm, làm toàn “sở Mỹ” mà không học thêm được tiếng Mỹ nào hay sao? Dĩ nhiên là có học thêm được vô khối tiếng Mỹ, nhưng nói của đáng tội toàn là mấy tiếng thông dụng hàng ngày ai nói cũng được. Một hôm vô tình tôi được nghe hai vị “cao niên” gần cúp bình thiếc cả rồi nói chuyện với nhau. Một vị khoe:
- Mình đang có ý định xin vào làm trong một trường học, vì nghe nói công việc này nhàn nhã, dễ làm mà chẳng bao giờ bị layoff cả.
Vị kia hỏi lại:
- Ông định xin làm gì?
Vị nọ ngần ngừ:
- Cái gì như là… cất cất… (chắc ý muốn nói là custodial)
- Thế ông có nói được tiếng Mỹ không?
Nghe hỏi vậy, vị nọ trợn mắt:
- Sao không nói được, chửi cha nó còn được!
Chửi cha nó còn được! Tôi nghĩ bụng đúng đấy, học gì thì khó chứ học mấy tiếng bá láp bá xàm sao dễ quá, chỉ nghe một lần là nhớ mãi, nhớ hoài, thành ra “chửi cha” nó đâu có khó!
Tôi đi làm, làm gì cũng không ngán, không sợ. Hồi mới ở tù cải tạo về hành nghề xích lô đạp, rồi đi đóng than, rồi làm thợ mộc, rồi làm thầu xây cất, rồi mở quán bi da. Sang Mỹ thì đi đập càng ghẹ, làm phụ thợ hàn, rửa chén bát, làm lao công trong hãng giặt đồ nhà thương… khó khăn, vất vả mấy cũng không sao, vậy mà sao mỗi lần đi làm “thông dịch viên” cho bà xã thì ngại quá! Tôi biết sở dĩ vậy vì tiếng Anh của tôi thuộc loại ăn đong, “ba xí ba tú”. Cứ miễn làm sao nói cho người ta hiểu thì thôi, chẳng cần biết đến những thì (tense) quá khứ, hiện tại với tương lai, chứ đừng nói gì những past perfect hay present progressive gì gì đó thì chẳng bao giờ tôi đụng tới. Nay đưa vợ đi bệnh viện, đi bác sĩ đâu có nói ba xí ba tú như thế được. Lại những từ chuyên môn về bệnh tật, về thuốc men, tôi làm gì mà biết? Hoạ chăng chỉ có bệnh tiểu đường vì bà xã bị lâu quá rồi, 17, 18 năm là ít, đặc biệt gần 10 năm trở lại đây, cứ 3 tháng một lần tôi phải đưa bà ấy đến bác sĩ chuyên khoa tái khám. Một bà bác sĩ người Nhật trẻ đẹp chỉ sau vài lần tiếp xúc đã biết khả năng tiếng Anh của ông chồng “thông dịch viên” của bệnh nhân như thế nào rồi, nên bà bác sĩ nói chậm rãi, dễ hiểu cho tôi… “nắm” được. Còn những vị khác thì cứ tía lia, tôi mà hiểu chỉ một nửa những gì các vị ấy nói thôi thì nhất định không còn phải là tôi nữa đấy! Có đời thuở nhà ai, ngày mai đưa vợ đi bác sĩ rồi mà tối nay còn phải vật lộn với hai cuốn tự điển Anh-Việt, Việt-Anh? Điên đầu nhất là có những chữ tiếng Việt có mà tiếnh Anh không có! Rồi thì hôm nay toát mồ hôi, cố gắng học thuộc được mấy chữ, ngủ qua một đêm sáng mai nó lại quên béng đi mất! Thật là vất vả trăm bề.
Kính thưa quý vị, tôi viết bài này không phải để tả oán hay là than thân trách phận gì, mà chỉ muốn nhấn mạnh đến cái tính thiếu kiên nhẫn và “lười” của tôi khiến cho tới khi nhận ra thì đã trễ quá mất rồi. 20 năm thời gian chưa phải là dài sao? Mà như chúng tôi đã trình bày ở đầu bài viết, chẳng cần thông minh xuất chúng gì, cứ bước một mà tiến cũng có thể học tới cái gì rồi ấy chứ? Đồng ý là: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”, nhưng có phải là hễ cứ đi làm là không còn học được đâu? Rõ ràng chỉ tại thiếu kiên nhẫn và lười thôi. Thật đúng là:
Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài
Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi
Thời gian nào có khác gì
Nó đi chẳng đợi chẳng vì một ai
Gái quốc sắc trai anh tài
Ngoảnh đi ngoảnh lại tóc đà điểm sương
Cho dù chân khoẻ sức cường
Lưng còng gối mỏi lẽ thường… thời gian!
Hưng Yên
http://www.machsong.org
Một quan là sáu trăm đồng
Lão Móc
Trong sách Quốc văn Giáo khoa thư có một bài ca dao nhan đề là “Đi chợ tính tiền”:
Một quan tiền tốt mang đi,
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra.
Thoạt tiên mua ba tiền gà,
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu.
Trở lại mua sáu đồng cau,
Tiền rưỡi miếng thịt, bó rau mười đồng.
Có gì mà tính chẳng thông?
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi.
Ba mươi đồng rượu, chàng ơi!
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng.
Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn kẽo chàng hồ nghi.
Hai mốt đồng bột nấu chè,
Mười đồng nãi chuối, chẵn thì một quan.
***
Cứ cái giọng chàng, nàng trong bài ca dao này thì chắc chắn đây là một cuộc đối đáp giữa một đôi vợ chồng trẻ. Anh chồng giao cho cô vợ một quan tiền để đi chợ. Cứ theo lời cô vợ kể ra thì cô mua gà, mua thịt, mua rau, mua rượu, mua mật, mua bột nấu chè, mua gạo nếp tẻ, trầu cau, mua chè tươi, mua nước mắm, mua chuối và vàng mã tức giấy tiền vàng bạc.
Chắc là nhà có giỗ kỵ, người ta mới mua nhiều thứ như vậy. Tội nghiệp cho cô vợ trẻ, chợ thời xa mà cô gánh từng ấy thứ thì cô phải mệt lắm lắm. Chúng ta cứ tưởng tượng cảnh anh chồng trẻ năm khểnh ở nhà xem sách, những cuốn Tứ thư, Ngũ kinh tự đời nảo đời nào truyền lại, thỉnh thoảng lại vớ cái điếu, rít một hơi thuốc lào. Cả anh chồng lẫn mấy cuốn sách nhìn qua đều rất là vô tích sự. Cô vợ trẻ gánh một gánh nặng về đến. Cô chỉ vừa kịp chào ông chồng, vừa kịp lột cái khăn mỏ quạ xuống chưa kịp quạt cho ráo mồ hôi vì đường xa, gánh nặng và dĩ nhiên là chưa hết mệt thì anh chồng trẻ đã xà đến, anh lục lọi những thứ cô vợ vừa mua và dùng đôi tay khéo léo của mình chèn xếp cho vừa một gánh. Lục lọi xong, anh chồng hỏi cô vợ:
-Sáng nay tôi đưa cô một quan tiền, cô mua những gì mà hết nhẵn những một quan tiền?
Nghe anh chồng xẵng giọng, cô vợ chưng hửng, nhưng cô vẫn dịu dàng giải thích, cô kể ra từng món. Món này tiền rưỡi, món kia mười đồng. Cô kể vanh vách dịu dàng nhưng cô cũng hóm hỉnh lắm: Ba mươi đồg rượu chàng ơi! Đành rằng giỗ kỵ là phải có rượu cúng, nhưng làm gì đến những ba mươi đồng nếu không phải chạy vào miệng chàng và mấy ông bạn đàn ông vô tích sự của chàng?
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hay bảy mười bốn kẻo chàng hồ nghi!
À, thì ra anh chồng trẻ này nghi ngờ điều chi đây. Nghi cái gì? Phải rồi! Anh nghị vợ bớt tiền đi chợ để ăn quà! Nghe qua bài toán của cô vợ, người ta có thể đoán ra được đây là một đôi vợ chồng son, chưa có con, bởi vì trong số những món quà mà nàng mua về không thấy có quà trẻ con. Đó là chúng ta đoán mò thế thôi. Còn điều này thì chúng ta biết chắc: anh chồng là người họ Tào!
Đúng thế! Không phải hậu duệ của Tào Tháo thì sao lại đa nghi như vậy! Ấy là còn trẻ, còn son sẻ, còn đẹp đấy. Mươi năm nữa anh ta còn đối xử với cô vợ ấy tệ đến mức nào! Thật là cái anh đàn ông đáng đem ra câu sấu. Nhưng may quá, cô vợ tính toán đâu ra đấy. Anh chồng họ Tào bẽn lẽn quay trở lại vớ cái điếu kéo một hơi dài rồi lại mơ màng đến Cử nhân, Tiến sĩ, bia đá bảng vàng. Còn cô vợ thì liếc xéo ông chồng một cái, cặp mắt có đuôi rồi mỉm cười một mình quảy gánh xuống bếp.
Cái lối tính toán lẹ làng đâu ra đấy của cô vợ trẻ làm anh chồng đa nghi kia biết ngay là anh đã nghi ngờ oan cho cô vợ của anh. Thế nhưng đối với người viết, cái lối tính nhẩm ấy không phải là dễ hiểu. Bởi vì cô vợ giỏi giang ấy đã dùng đến ba đơn vị tiền tệ trong khi tính toán: Quan, tiền, đồng.
Cô lại nói nhanh, món này mấy tiền, món kia mấy đồng… cộng lại là một quan! Thôi thì đành phải ghi xuống giấy rồi hậu xét. Một quan mấy tiền, một tiền mấy đồng?
Về quan tiền, thì Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim và Việt sử toàn thư của Phạm Văn Sơn đều chép rằng Hồ Quý Ly phế nhà Trần, lập nhà Hồ, đặt ra tiền giấy. Tiền giấy có 7 hạng:
-Giấy 10 đồng vẽ rêu bể.
-Giấy 30 đồng vẽ sóng nước.
-Giấy 1 tiền vẽ đám mây.
-Giấy 2 tiền vẽ con rùa.
-Giấy 3 tiền vẽ con lân.
-Giấy 5 tiền vẽ con phụng.
-Giấy 1 quan vẽ con rồng.
Chúng ta dễ đoán ra được 1 quan là 10 tiền, 1 tiền là 60 đồng. Nhưng đó là những năm đầu thế kỷ 15.
Thế gần đây hơn nữa thì sao? Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim khi viết về đời sống xã hội Việt Nam đời Nguyễn trước lúc Pháp đô hộ có đoạn:
“… Thuở ấy 1 tiền mua được 4 bát gạo… Người đi làm thuê khôn khéo lắm thì mới được mỗi ngày 1 tiền, không thì chỉ được 18 hoặc 30 đồng mà thôi…”
Cũng dễ đoán – đoán thôi – 1 tiền là 60 đồng.
Trong quyển sách “Những trò chơi ở Việt Nam thời trước” có ghi một trò chơi mang tên “Năm tiền, liền quan”. Trong trò chơi này, trẻ con có câu: “Bán một mắt năm tiền, bán hai mắt liền quan”. Vậy 1 quan có 10 tiền.
*
Cậu học trò Trung học Đệ nhất cấp và mê thơ Nguyễn Bính thì tính toán dễ dàng hơn. Chú nhớ bài thơ “Trăng sáng vườn chè” có đoạn:
“Một quan là sáu trăm đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi…”
Rồi chú tính tiếp: 3 tiền gà, tiền rưỡi thịt, tiền rưỡi gạo nếp, tiền rưỡi gạo tẻ là bảy tiền rưỡi. Trầu 3 đồng, cau 6 đồng, rau 10 đồng, chè tươi 6 đồng, mật nấu chè 30 đồng, rượu 30 đồng, vàng mã 20 đồng, nước mắm 14 đồng, bột nấu chè 21 đồng, chuối 10 đồng. Cộng 150 đồng.
7,5 tiền + 150 đồng = 600 đồng.
Dễ quá! Một quan 10 tiền, một tiền 60 đồng!
*
Hai học giả Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ cũng đồng ý là cô vợ trẻ ấy tính toán đúng và không có bớt tiền chọ để ăn quà. Như anh chồng đa nghi kia đã nghĩ.
Tự điển Việt Nam chú thích:
Quan: Đơn vị tiền tệ thời xưa gồm 10 tiền hay 600 đồng.
Thí dụ:
Chị kia có quan tiền dài,
Có bị gạo nặng, coi ai ra gì!
(Ca dao)
Tiền: Một tiền là một phần mười của quan xưa, bằng 60 tiền kẽm.
(Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ – Tự điển Việt Nam).
Tại sao lại là quan tiền dài? “Một quan là sáu trăm đồng…”. Nếu một đồng kẽm chỉ dày 1,5 milimetre thôi thì quan tiền xưa ắt phải dài ít nhất 900 milimetres, gần một mét. Và cách gọn nhất là người ta luồn một sợi dây vào cái lỗ vuông ở giữa đồng tiền kẽm và xâu lại với nhau rồi khoác vào vai mà mang đi. Cái xâu quan tiền ấy dài lắm.
Một quan tiền dài đủ làm một cái đám giỗ, và nó có giá trị bằng mười ngày lương của thợ thường. Cho nên cái quan tiền dài và cái bị gạo nặng mới làm cho chị kia không coi ai ra gì!
*
Anh chồng này là một anh đàn ông đa nghi và tính tình có vẻ keo kiệt. Anh nghi cái gì? Anh nghi cô vợ trẻ của anh bớt tiền chợ để ăn quà!
Theo chỗ chúng ta biết thì xưa nay các bà, các cô là chúa đa nghi. Nhưng hình như sử sách lầm lẫn làm sao đó mà người ta lại khẳng định một cách rất bất công rằng ông đàn ông Tào Tháo là thánh tổ của cái nghề đa nghi.
Anh chồng trẻ hạch hỏi vợ về khoản tiền chợ tuy họ Tào và cái thói đa nghi rất đáng chê trách, nhưng điều anh ta nghi ngờ không phải là hoàn toàn vô lý. Chắc chắn là cái kinh nghiệm nghi ngờ cô vợ bớt xén tiền chợ để ăn quà là do bà mẹ của anh truyền cho. Còn ai rành các cô dâu bằng các bà mẹ chồng! Các bà trước khi trở thành mẹ chồng đã từng là con gái, làm dâu, rồi mới trở thành mẹ chồng. Thế thì kinh nghiệm của các bà mẹ chồng ấy toàn là kinh nghiệm thực tế!
Hãy nghe một bà mẹ chồng ở Hội An dặn con dâu khi cô con dâu này sắp cắp thúng đi chợ:
Hội An có lắm thức ngon
Nhịn mồm, nhịn miệng cho chồng con nó đặng nhờ!
Bà mẹ chồng này nói phải. Bà biết rõ, quá rõ Hội An là một cái chợ có không biết bao nhiêu là thức ngon thức khéo, và khi bà lúc còn là một cô dâu Hội An bà đã từng bớt tiền chợ để thưởng thức những món ấy!
Vậy ra ăn quà vặt ở chợ là cái ngón nghề gia truyền riêng của các bà, các cô? Có lẽ thế! Có lẽ thôi vì chẳng riêng gì ở nơi chợ búa, còn nhiều nơi khác nữa, quà bánh hình như cũng chỉ được làm ra để phục vụ riêng cho giới tóc dài, tức giới tóc uốn phi dê, tóc thề, tóc kẹp, tóc đuôi gà, tóc đuôi… ngựa.
Chẳng nói đâu xa, cứ ngay trước cửa các trường học ở một nước – nước Việt Nam Cộng Hoà – cóc, ổi, me, chùm ruột ngâm nước cam thảo chấm mắm ruốc, ô mai, đậu đỏ, bánh lọt, mười tám loại chè, hai mươi mốt loại bánh và ba mươi loại kẹo người ta không làm ra để bán cho nam sinh. Đám nam sinh chẳng bao giờ chú ý đến những quà bánh ấy. Các chú ấy, khi đến tuổi mọc được những sợi râu mép đầu tiên, tập ghép vần những bài thơ tình không tên đầu tiên thì chỉ tiêu thụ có mỗi món cà phê và thuốc lá. Lớn tí nữa, khi bị những con vi trùng dễ thương của bệnh tương tư và bệnh thất tình xâm nhập cơ thể, các chú mới thêm một thứ nữa là bia. Thế thôi!
Vậy thì ăn quà vặt là cái ngón nghề gia truyền chỉ được phổ biến giới hạn trong giới các cô, các bà từ Nam chí Bắc, từ miền ngược tới miền xuôi.
Anh chồng trẻ trong bài ca dao được in ở quyển Quốc văn Giáo khoa thư tuy có đa nghi, nhưng cái nghi ấy cũng có lý do chính đáng chứ không phải là nghi bóng, nghi gió.
*
Tuy gặp phải anh chồng keo kiệt và đa nghi, nhưng cô vợ trẻ vẫn không lấy gì làm phiền lòng. Cô vẫn dịu dàng giải thích, tính toán từng món cho ông chồng nghe. Rõ ràng là cô không bớt ra đồng nào để ăn quà – một chuyện mà hình như tất cả đàn bà trên thế giới – trừ nước Việt Nam ta – vẫn làm mỗi khi đi chợ, cô vợ trẻ đem theo một quan tiền và cô mua hết nhẵn một quan tiền, không chừa riêng cho mình một đồng nào để ăn quà!
Cô bị nghi oan nhưng cô vẫn vui vẻ. Cô lại lanh lợi, nhanh nhẹn tính toán đâu ra đấy. Cô giỏi giang hơn các cô đầm Mỹ bây giờ, chỉ năm với bảy cũng phải dùng máy tính. Anh chồng tuy nghi ngờ không đúng người mà cô vãn không trách cứ tiếng nào. “Ba mươi đồng rượu chàng ơi”… “Hai chén nước mắm rõ ràng. Hai bảy mười bốn kẽo chàng hồ nghi…” Ngọt ngào đến thế thì thôi! Cô hẳn là một cô vợ lý tưởng mà bất cứ đàn ông con trai nào của nước Nam ta cũng mơ ước.
Chả biết những cô vợ trẻ giỏi giang, lanh lợi, dễ thương như vậy thời nay có còn không nhỉ? Sao mà thời xưa các bà, các cô lại chịu khó nuôi chồng hơn bây giờ? Những anh chồng hết sức vô tích sự: “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” thế mà cũng được các bà, các cô bấm đốt tay tính toán:
Một quan là sáu trăm dồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi…
Các cô vợ đời xưa mà nhà thơ Nguyễn Bính đã tả ra trong bài “Trăng sáng vườn chè” thật là một cô vợ đáng giá. Còn cái anh chồng dài lưng tốn vải kia mới thật là tệ làm sao. Chỉ có mỗi việc học thôi mà cũng phải đợi cô vợ:
Em hằng khuyên sớm, khuyên trưa!
Cái thứ đàn ông ấy là cái thứ đàn ông một chục ba đồng. Còn cô vợ quả là cô vợ ba trăm một chị.
Ba đồng một chục đàn ông,
Mua về ta bỏ vào lồng ta chơi!
Ba trăm một chị đàn bà,
Mua về ta trải chiếu hoa cho ngồi!
(Ca dao).
Tính cho kỹ ba trăm một chị và ba đồng một chục, người ta thấy thời ấy đàn bà đáng giá đúng một ngàn lần đàn ông. Thế nhưng tại sao cô vợ đáng giá ba trăm kia lại đi tảo tần chợ sớm, chợ trưa để nuôi báo cô một anh chồng đáng giá ba cắc bạc?
Các cô vợ khôn ngoan lanh lợi đáng giá ba trăm ấy nuôi báo cô một anh chồng ăn no lại nằm là cô vợ ấy khôn lắm. Cô ấy đợi một ngày:
Chồng em cỡi ngựa vinh quy
Hai bên có lính hầu đi dẹp đường.
Các cô vợ ấy nuôi chồng theo kiểu người ta nuôi… heo đất ấy mà! Các cô chả dại đâu. Không có các ông ba đồng một chục dài lưng tốn vải ấy thì các cô chừng nào mới trở thành bà Tú, bà Cử, bà Bảng, bà Nghè, bà quan!
Bài thơ của ông Nguyễn Bính hay thì thật là hay, nhưng cũng có chỗ mà tất cả các ông học trò dài lưng cách đây một trăm năm trở về trước đều không thích. Đó là cái chỗ:
Em hằng khuyên sớm, khuyên trưa,
Anh chưa thi đỗ thì chưa… động phòng!
Cái điều kiện đặt ra mới ngặt nghèo làm sao! Anh dài lưng lười học đến đâu mà nghe cái điều kiện này cũng phải học đến vỡ mật!
*
Các cô nói thế thôi, ai tin thì cứ tin, ông Nguyễn Bính có tin thì tùy ông. Người viết không tin tí nào! Bởi vì người viết bài này đi hỏi nhiều người nhưng chưa có ai trả lời một cách chính xác rằng người con lớn nhất của nhà thơ Tú Xương được sinh ra mười tháng sau khi ông Trần Tế Xương thi đỗ Tú Tài hay là đã được sinh ra trước khi đó.
Anh học trò kia cưới vợ. Đêm tân hôn anh rụt rè nắm tay cô vợ trẻ:
-Nhà nó ơi! Tôi thương nhà nó lắm! Tí… nhé!
-Không được! Nhà nó phải cố học, thi đỗ đã!
Anh chồng mới thở dài, ra phòng ngoài đốt đèn lên đọc sách. Đêm sau, đêm sau nữa cũng thế. Anh học trò tự nhủ:
-Thôi thì đành vậy, lo học để thi cho đỗ mới được!
Rồi đêm nào anh cũng chong đèn học đến ngủ gục tại bàn học, anh không màng gì nữa. Đến đêm thứ sáu, thứ bảy gì đấy, đã giờ tí canh ba mà anh vẫn còn chong đèn học. Anh học say sưa quên hết sự đời thì anh bỗng giật mình, một bàn tay đặt trên vai anh, và anh nghe một giọng nói bẻn lẻn:
-Nhà nó ạ! Khuya lắm rồi, nhà nó đi nghỉ đi chứ! Hồi sáng này em có đi xem bói. Thầy nói tuổi nhà nó tốt lắm đấy, mai sau thế nào cũng thi đỗ làm quan. Thầy nói trước sau gì nhà nó cũng thi đỗ. Thôi thì… thôi thì… Chứ tháng mười năm sau mới có khoa thi. Nhà nó, nhà nó… đi vào mà nghỉ… nhé!
Nhé thì nhé! Anh học trò vội vã xếp sách lại. Phải, đêm khuya lắm, giờ tí canh ba rồi!
Một anh học trò có căn nhà tranh ở vườn chè kể với người viết như vậy, chả biết anh có thêm thắt gì không? Chứ hôm anh kể chuyện, cái vườn chè trăng sáng lắm.
*
Trên đất tỵ nạn bây giờ vẫn có những bà đi làm assembler, làm tóc, làm nails, chắt chiu tháng tháng nuôi các ông dài lưng đi học lại bằng bác sĩ, kỹ sư. Nhưng chắc chắn chẳng còn ai đặt ra cái điều kiện chết người như xưa. Vả lại ở xứ người, nếu chịu học là sẽ thi đỗ, cái điều kiện ấy mà đặt ra thì sớm muộn gì cũng được. Đâu có phải thi cử khó khăn như thời ông Tú:
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy!
*
Hai chén nước mắm rõ ràng,
Hai bảy mười bốn kẻo chàng hồ nghi.
Nước mắm bảy đồng một chén. Đàn ông ba đồng một chục. Nếu chục là mười hai, tức chục đủ đầu, ba chục đàn ông mới được một chén nước mắm. Rẻ thay cái thân phận đàn ông và nặng nề thay là cái nhiệm vụ của đàn ông kiếm ngựa cho mình và kiếm võng cho vợ để:
Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau.
Có thế thì các cô mới chịu lép mà nuôi các anh học trò. Mới có cảnh anh chồng nghi ngờ bậy bạ mà cô vợ chẳng phiền lòng. Cô vợ hiền như vậy, giỏi như vậy, tính nhẩm hay như vậy, không bớt tiền chợ để ăn quà thì nhất định là chỉ nước Nam ta mới có.
Một nickel rau, 2 dimes gạo nếp, một quarter thịt, ba cents trầu, 1 dime gà, 3 nickles gạo tẻ, 6 cents cau, 2 cents giấy vàng mã, 2 nickles mật, 4 cents bột nấu chè.
Đố cô vợ Mỹ nào tính nhẩm mà làm được một bài thơ? Chỉ có đàn bà con gái nước Nam mà thôi. Các bà, các cô nước Nam giỏi thế nên đàn ông nước Nam ít thấy người râu xồm mà thường là râu quặp.
Một quan là sáu trăm đồng. Ba trăm một chị đàn bà.
Một bà mắt xanh, tóc vàng giá bao nhiêu thì chả rõ, nhưng chắc chắn là không thể hơn nửa quan, tức năm tiền, tức là ba trăm đồng. Chắc chắn như thế. Có bao giờ người ta nghe các cô ca sĩ Mỹ hát:
Trăm cents là đúng một đồng
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi…
Chả bao giờ cả. Thế thì một quan là sáu trăm đồng vẫn hơn. Mặc dù thỉnh thoảng cũng có quan tiền dài và bị gạo nặng làm phiền đàn ông một tí, nhưng hiếm lắm. Quan tiền sáu trăm ấy vừa làm được bữa giỗ vừa để chắt chiu cho chồng đi thi.
Quí lắm đấy! Ở nước Nam mới có. Một quan là sáu trăm đồng…
Lão Móc
(Trích NGUYỄN THIẾU NHẪN TUYỂN TẬP, quyển sách dày trên 1,200 trang. Sách sẽ do Việt Nam Văn Bút Hải Ngoại/Tây Bắc Hoa Kỳ & tuần báo Tiếng Dân xuất bản và phát hành. Trong tháng 1 năm 2010 sẽ phát hành Tập I).
Những Bài Trước:
——————————————————————————
|