co vang


Liên lạc với chúng tôi
Email:

sanews@sanet.com.au
<

Adelaide
South Australia
Click for Adelaide, South Australia Forecast

 

  
Năm Thứ 15



A   A   A

Treo khẩu hiệu (dựa theo truyện cười “treo biển”)


Hoàng Lan

Sau vài lần nghe câu “ Xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”được thủ tướng cứ nhắc đi nhắc lại trong các lần phát biểu, vị lãnh đạo ngành tư pháp tỉnh nọ nhận ra: Chắc hẳn là ngài phải khoái câu trên lắm nên mới hay nhắc đi nhắc lại như vậy và câu này còn có vẻ giống như câu khẩu hiệu hiện đang giăng đầy đường “Sống, làm việc theo hiến pháp, pháp luật”. Vốn nhạy bén, ông có ngay một “sáng kiến” đó là lấy nguyên văn câu trên của thủ tướng làm khẩu hiệu hành động của cơ quan ông treo ở phòng xử án dưới khẩu hiệu “Sống chiến đấu và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Thật là một sáng kiến hay, trên cả tuyệt vời. Ông tự khen và tự nhủ vài ba năm nữa nghỉ hưu, tay nào lên thay còn lâu mới bằng được mình.
Cả đêm không ngủ vừa mong cho trời mau sáng để phòng hành chính cơ quan làm ngay tắp lự cái sáng kiến của ông, vừa mường tượng ra bao viễn cảnh sau khi cái sáng kiến của ông được thực thi. Án oan sai có giảm vì nêu ra khẩu hiệu này chắc cũng phải còn chờ tổng kết năm, nhưng các vị lãnh đạo bộ xuống thấy khẩu hiệu, khen và biết đâu còn được đề bạt thì có lẽ chẳng phải chờ lâu vì hồi này các vị quả là có hay thăm, tạt vào cơ quan ông. Hy vọng mong manh, mà vừa nghĩ tới ông đã thấy buốt ở ngực trái (ông vốn bị bệnh tim mấy năm nay) là thủ tướng tới thăm, xem, đọc lại khẩu hiệu này, hỏi ai là người nghĩ ra nội dung, ông sẽ cung kính trình bày(về mặt này chắc ít ai hơn được ông) và thủ tướng khen ngợi,…. Lại buốt ở ngực trái một lần nữa nhưng sau lần này ông thấy sung sướng, mãn nguyện và thiếp đi được vài phút thì trời sáng.
Vài ngày sau. Ngoài mấy cán bộ hành chính trong cơ quan hình như chẳng ai biết có khẩu hiệu mới treo. Thói quen gia trưởng trong lãnh đạo đã làm cho mọi người trong cơ quan dửng dưng với mọi việc ông làm, ông nói.
Một tuần sau. Hai, ba tuần sau. Liên tục có các đoàn tới thăm chính thức, ngang qua tạt vào nhưng chẳng thấy ai để ý tới cái khẩu hiệu của ông. Đã mấy lần định khoe nhưng lòng tự trọng đã ngăn ông lại.
Một tháng sau lại một đoàn nữa tới thăm và lần này không phụ công ông chờ đợi. Có người đã xem, đọc cái khẩu hiệu kia. Nhưng thật trớ trêu: đó lại là tay phóng viên theo đoàn, mặt còn búng ra sữa và tệ hại hơn hắn lại chê khẩu hiệu của ông là thừa bốn chữ “đúng người, đúng tội”. Nghe giải thích thì tức nhưng xem ra cũng có lý: đã đúng pháp luật thì tất nhiên phải đúng người, đúng tội không thể xử sai pháp luật mà đúng người, đúng tội được.Trách mình vốn rất thông minh sao lại không thấy ngay là khẩu hiệu thừa chữ nhỉ. Nhưng ông cũng lệnh cho hành chính gỡ ngay bốn chữ kia, chỉnh lại khoảng cách, cỡ chữ cho cân đối và thầm nhủ giờ thì khẩu hiệu hẳn là ý nghĩa, ngắn gọn, lại súc tích nữa.
Sáu tháng sau. Lần này thì lâu quá khiến ông cũng nhiều lúc quên cả cái sáng kiến của mình. Một đoàn nữa tới thăm và trong đoàn cán bộ cao cấp lần này có cả ông bạn đồng ngũ của ông hồi còn ở chiến trường hiện là phóng viên theo đoàn. Lần này thì kim trong bọc chắc chắn phải lòi ra, sáng kiến của ông phải được biết đến. Những nhà hàng sang trọng, những món quà giá trị, những phong bì hậu hĩ đều được các cán bộ cao cấp trong đoàn quan tâm, duy chỉ cái khẩu hiệu thì không ai màng tới.Cũng giống lần trước, chỉ có một người(có lẽ là người nhiều chữ nhất trong đoàn) để ý tới cái khẩu hiệu, đó là người phóng viên bạn ông. Vì là bạn ông nên trước khi về phóng viên nọ đã vỗ vai thân mật, nói nhỏ, góp ý chân thành cho cái khẩu hiệu treo ở phòng xử án: “cái khẩu hiệu cậu cho treo ở phòng xử án kia là thừa, bởi đã xét xử thì phải đúng pháp luật còn nếu xét xử không đúng pháp luật thì không gọi là xét xử nữa và cái phòng xử án của cơ quan cậu cũng không còn là phòng xử án nữa. Hơn nữa hiện giờ dư luận còn đang phê phán các vụ án PMU18, PCI, đã xét xử theo sự chỉ đạo của bộ chính trị, bao che cho các lãnh đạo cao cấp. Cậu đưa ra khẩu hiệu đó có khác nào mỉa mai, tiếp tay cho “dư luận xấu” về các vụ án trên. Cái khẩu hiệu của cậu nó cũng giống như cái biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Chắc cậu thừa biết biểu ngữ đó nội dung là đúng vì ngay chính trên các phương tiện truyền thông của nhà nước cũng công nhận. Tuy nhiên trong bối cảnh công hàm của ông Đồng, những hiệp ước biên giới ký với Trung Quốc làm mất đảo, mất biển, mất đất bị phanh phui thì nhìn thấy người dân treo biểu ngữ đó đảng, nhà nước không thấy người dân yêu nước mà lại cho là họ tố cáo những việc làm mờ ám, khuất tất của họ. Lại còn cả sức ép từ phía Trung Quốc với các lãnh đạo đảng, nhà nước yêu cầu xử lý các hành động chống đối Trung Quốc nữa. Vậy nên những ai treo biểu ngữ đó đều bị gán cho tội “ xâm hại an ninh quốc gia”và nhiều người đã bị bắt, bị tù tên tuổi còn rành rành ra đó. Còn khả năng này nữa: những đứa độc mồm, độc miệng gièm pha với thủ tướng rằng khẩu hiệu ở cơ quan cậu có ý chế nhạo những phát biểu của thủ tướng đã thành công thức,lặp đi lặp lại như vẹt thì cậu tính sao?”…
Mấy hôm sau. Tỉnh, dần nhớ lại lời của ông bạn nói hôm trước mà hú vía. Ông nghĩ mình vẫn còn may vì nếu không phải ông bạn mà là kẻ ghen ghét ông (biết, nghĩ về cái khẩu hiệu vô tình kia như lời ông bạn) về nói lại với “trung ương” thì có lẽ ông nặng thì vào nhà đá mà nhẹ thì cũng bị “xử lý”. Lệnh cho hành chính tháo ngay cái khẩu hiệu đó và tất nhiên ngoài những người làm việc đó, hình như cũng không ai biết khẩu hiệu đó đã được treo và đã được dỡ bỏ.Hóa ra cái kiểu lãnh đạo theo lối gia trưởng làm mọi người dửng dưng không quan tâm tới việc ông làm, ông nói, cũng có cái hay.
12/2009
Hoàng Lan

 

 

Giáo sư ở Tây và ở Ta

Tưởng Năng Tiến

Tôi chưa bao giờ đi Tây, và cũng chưa bao giờ có ý phiêu lưu đến một nơi xa xôi, lôi thôi, thiếu vệ sinh và thiếu văn minh (tới) cỡ này: “Người đi mua sắm ngay cả tại các trung tâm mua sắm lớn đều phải trả tiền đậu xe và phải tự trả tiền vào cái máy thật cao lớn gồ ghề. Thủ tục quá ư rườm rà, nhất là đối với những người không đọc được tiếng Pháp thì còn nhiêu khê gấp bội, chẳng hạn trong tiệm mua sắm áo quần, khách phải đi bỏ tiền vào một cái máy đặc biệt để đổi đồng Token rồi bỏ đồng này vào cánh cửa cầu tiêu để cửa mở khi khách cần sử dụng… người đi bộ thường phải cúi mặt xuống nhìn bước đi của mình trên bãi cỏ, trên đường tráng nhựa hoặc lát gạch để tránh giẫm lên những bãi cứt chó…” (Paris, 10 ngày thăm viếng – Nguyễn Văn Thành).
Chỉ nghe kể không cũng đủ ớn chè đậu. Hèn chi, khi đến Hà Nội (để tham dự Đại hội Việt kiều) giáo sư Trần Thanh Vân đã “khẳng định” với báo Dân Trí rằng: “…người Việt Nam ở nước ngoài rất muốn trở về Việt Nam để làm việc. Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình. Tôi thấy sống ở Việt Nam rất hấp dẫn và sung sướng hơn nhiều ở nước ngoài. Các GS được xã hội rất tôn trọng, sinh viên kính phục ở nước ngoài không được như thế.”
Điều “khẳng định” này, tiếc thay, không được mọi “người Việt Nam ở nước ngoài” (tận tình) chia sẻ. Theo ông Hoàng Ngọc-Tuấn thì GSTS Trần Thanh Vân là một người “nịnh bợ” và nói năng… như một “con vẹt.”
Nịnh bợ, nghĩ cho cùng, cũng chỉ là một thái độ sống (thường thấy) ở đời. Không hiểu sao ông Hoàng Ngọc-Tuấn lại phản ứng (quá) gay gắt với giáo sư Trần Thanh Vân như thế, trên diễn đàn talawas: “Đất nước Việt Nam hôm nay cần những nhà khoa học vừa có tài ba vừa có lòng dũng cảm như Andrei Sakharov, chứ không cần những nhà ‘trí thức’ giỏi nói nịnh theo nhà cầm quyền. Sự đàn áp tự do tư tưởng, đời sống văn hoá suy đồi, chất lượng giáo dục thảm hại, sự độc tài, tham nhũng và thối nát của chế độ chính trị ở Việt Nam sẽ còn kéo dài cho đến chừng nào tất cả các tiếng nói trí thức đều đồng thanh nói thật, và không còn một ai nói nịnh, nói hùa theo nó nữa.”
Quan điểm của ông Tuấn, xem ra, rất gần với ông Đỗ Thái Nhiên. Trước khi Đại hội Việt kiều khai mạc (cả tháng) tác giả này đã viết trên Thông Luận, vào ngày 19 tháng 1 năm 2009, rằng đây chỉ là một thứ đại hội “về hùa” thôi.
Như đã thưa: tôi chưa bao giờ đi Tây. Tưởng cũng phải nói luôn (cho rõ) là tôi cũng chưa bao giờ đi học. Và vì thế tôi không dám bàn cãi (hay tranh luận) với bất cứ ai về sự dị biệt trong sinh hoạt của quí vị giáo sư ở Tây, với ở ta. Vì tình cờ được biết vài vị giáo sư đã (có lúc) ở bên Tây, và cũng đã (có thời) trở lại và làm việc với chính quyền cách mạng Việt Nam (bên ta) nên tôi chỉ muốn ghi lại dôi dòng về cuộc sống (cũng như ý kiến của họ) cho rộng đường dư luận, thế thôi.
Trước hết, xin được đề cập giáo sư Trần Đức Thảo. Cuộc đời của ông (ở Tây cũng như ở ta) được tóm gọn như sau, bởi những người đồng thời: “Dễ có đến hai năm tôi không đến khu tập thể Kim Liên. Lần này trở lại, tôi ngạc nhiên thấy cái quán của bà cụ móm dưới gốc xà cừ, mà mười năm trước tôi thường ghé hút thuốc uống nước, vẫn còn nguyên ở đó. Tôi vào quán uống chén rượu thay bữa ăn sáng. Bà cụ đang rôm rả nói chuyện với mấy anh xích lô, chắc là những khách quen…”
“Con cháu nhà tôi nó vừa sắm được cái ti vi màu nội địa. Tối hôm kia, bắt dây rợ xong, bật lên thấy đang chiếu cảnh tang lễ một ông tên là gì gì Thảo đó. Người ta giới thiệu cái ông Thảo này là nhà triết học nổi tiếng thế giới, làm đến sáu, bảy chức, chức nào cũng dài dài là, chắc là toàn chức to, được tặng Huân chương Độc lập hạng Hai. Ông ta sang tận bên Tây mà chết, cả Tây cả ta đều làm lễ truy điệu. Toàn cán bộ cấp cao, có danh giá đến dự.”
“Trong khu nhà B6 đằng kia cũng có một ông tên Thảo, nhưng lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp ‘Pơ-giô con vịt’ mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…”
“Một buổi trưa nắng chang chang, ông ghé vào quán uống cốc nước chè xanh, tôi hỏi: “Ông đi đâu về mà nom vất vả thế.. ế.. ế. Ông nói: Lên chợ Hàng Bè mua củi đun. Tôi hỏi: Thế củi ông để đâu cả rồi? Ông quay lại nhìn cái ‘pooc ba ga’, mặt cứ ngẩn tò te. Chỉ còn có sợi dây buộc! Củi nả rơi đâu hết dọc đường, chẳng còn lấy một que… Nghĩ cũng tội, già ngần ấy tuổi đầu mà phải nấu lấy ăn, không vợ, không con… Đấy, cũng là Thảo cả đấy, mà Thảo này thì sống cơ cực trần ai – bà cụ chép miệng thương cảm: Một vài năm nay không thấy ông đạp xe ngang qua đây, dễ chết rồi cũng nên…”
“Tôi uống cạn chén rượu, cười góp chuyện: ‘Cái ông Thảo mà bà kể đó chính là cái ông Thảo người ta chiếu tang lễ trên ti-vi…’. Bà già bĩu môi: ‘Ông đừng cho tôi già cả mà nói lỡm tôi!” [Phùng Quán – Chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo (Việt Nam Thư Quán)].
Cuộc sống của giáo sư Thảo (xem chừng) không được “vui” gì mấy – nếu xét riêng về mặt cơm áo, hay củi gạo. Tuy nhiên, đối với nhiều vị trí thức thì đây không phải là điều mà họ quan tâm. Tiến sĩ Trần Thanh Vân, qua cuộc phỏng vấn thượng dẫn, rõ ràng là một người không quan tâm nhiều (lắm) về phương diện vật chất. Ông nhấn mạnh đến sự tôn trọng của xã hội và kính phục của sinh viên, đối với các giáo sư. Và cứ theo như nguyên văn lời ông thì “ở nước ngoài không được như thế.”
Thời gian mà giáo sư Trần Thanh Vân (thỉnh thoảng) về Việt Nam để nhận bằng khen hay dự đại hội, xem ra, không được dài cho lắm. Ít nhất thì nó cũng ngắn hơn thời gian, cũng như kinh nghiệm, của vài vị giáo sư khác về vấn đề này. Xin đơn cử một: “Đạo đức không còn được dậy trong trường, và thời buổi này người ta dậy trẻ nhỏ nhục mạ thầy cô… Trong các đại học, trong các phân khoa, trong mỗi lớp, trong mỗi buổi học, suốt cả năm, trong đám sinh viên luôn có những tay làm do thám…”
“Tôi biết, trong những trí thức tôi là người đang nằm trong tầm ngắm và đang bị công an theo dõi. Tôi biết có vài ‘con chó săn’ đang ở những căn phòng cạnh nhà tôi để có thể để mắt xem ai là những người hay xem chừng thư tín của tôi, nghe ngóng những câu chuyện hay tìm hiểu đài phát thanh nào mà tôi hay thích mở nghe…”
“Tôi không ngạc nhiên khi thấy một học trò đang chuẩn bị cho cái chết của thầy cũ của mình và thuyết phục những kẻ đấu bò ra cú đòn chí mạng” [Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi 1954-1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công
Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức (Thông Luận Online)].
Ủa, chớ giáo sư Nguyễn Mạnh Tường (lỡ) làm gì mà bị “đì” dữ vậy cà? Câu trả lời cũng tìm được (ngay) trong cuốn tự truyện thượng dẫn: ”Tôi chỉ đơn giản đòi hỏi quyền tự do tư tưởng và chỉ với thế thôi đã trở thành kẻ phản bội, kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản.”
Bỉ nhất thời dã. Thử nhất thời dã.
Hồi đó là một thời. Bây giờ là một thời (đã) khác. Cộng sản Việt Nam không còn muốn “đào tận gốc, trốc tận rễ” bất cứ thành phần nào nữa. Không những thế, họ còn chủ trương “trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước – như đã ghi rõ trong Nghị quyết 36: “Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước. Xây dựng chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lý, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển nền văn hóa, nghệ thuật của nước nhà.”
Bản N.Q này được ký vào ngày 26 tháng 3 năm 2004. Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn Đăng Hưng “…từ khi nghị quyết này được ban hành, có nhiều con tim đã vui trở lại!”
Và mỗi con tim biểu lộ niềm vui theo một cách khác nhau. Giáo sư Vũ Đức Vượng tuyên bố: “Nhiều người than phiền, khó chịu về thủ tục hải quan và những cử chỉ thiếu thân thiện ở sân bay. Nhưng họ quên mất một điều rằng chẳng có sân bay nào lại đông vui người thân ra đón như mỗi khi họ trở về VN.”
Còn với giáo sư Nguyễn Trí Dũng thì “đó là tâm trạng nao nao, xúc động khi được dạo bước một sớm thu trên quảng trường Ba Đình và lắng nghe bản quốc ca trầm hùng vang lên.”
Thiệt là… quá đã!
Để đáp ứng lại tình cảm của quí vị giáo sư này, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn (trong một cuộc nói chuyện với phóng viên báo Tiền Phong, vào hôm 7 tháng 6 năm 2009) cho biết thêm là sẽ có nhiều “khởi sắc” và “đột phá” trong chính sách đãi ngộ Việt kiều.
Thiên hạ đều đã có dịp thấy sự “khởi sắc” và nghe tiếng “đột phá” của chính sách đãi ngộ Việt kiều qua tiếng “hú còi mở đường của xe cảnh sát” khi đưa phái đoàn đi về Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình (vào hôm 21 tháng 11 năm 2009) theo như lời mô tả của giáo sư Nguyễn Hữu Liêm. Tôi trộm nghĩ thêm, rất có thể, chính tiếng “hú còi mở đường” vào ngày hôm đó đã mang lại “nỗi bình an giữa Đại hội Việt kiều.”
Tâm cảm của quí vị giáo sư, như vừa dẫn, quả có khác với thường dân – như hai ông Hoàng Ngọc-Tuấn và Đỗ Thái Nhiên. Theo thiển ý, chúng ta nên tôn trọng sự khác biệt. Về hùa hay về nguồn, như đã thưa, đều chỉ là những thái độ sống (thường thấy) ở đời thôi. Giữa nam nhi (chi khí) với nhau, nặng lời làm chi, cho má nó… khi!
Tưởng Năng Tiến

 

 

 

Tưởng Năng Tiến

Cò là một loài chim nước có mỏ, cổ và chân cẳng đều dài – sống bằng tép, hến, ốc, cá… thường quanh quẩn nơi ao hồ hay sông rạch. Cò cũng là tên gọi của một giới người, mới xuất hiện ở Việt Nam, chuyên lo việc môi giới dịch vụ – như cò máu, cò bệnh, cò mả, cò nhà, cò việc…
Trong một xã hội bình thường thì cò nhà chính là những người hành nghề địa ốc, cò việc là những chuyên viên tìm kiếm và giới thiệu việc làm, cò mả là những nhân viên làm việc cho những nghi táng gia (còn gọi nôm na là nhà quàn, chuyên lo việc hỏa táng hay mai táng), và cò bệnh là những cán sự y tế (có nhiệm vụ giới thiệu khách hàng đến những cơ quan chữa trị thích hợp) khi hữu sự. Tất cả những công việc này đều cần thiết, rất hữu ích và đều được khách hàng quí trọng.
Điều không may cho giới cò ở Việt Nam là họ sinh sống trong một môi trường xã hội rất không bình thường nên bị gọi là “cò” (một cách khinh miệt) và luôn luôn phải hành xử rất bất thường, cứ y như những kẻ gian manh – lúc nào cũng thậm thụt lấm lét tựa những tên ma cô dắt mối, hay những người buôn bán ma túy – nơi đầu đường xó chợ.
Cò, tất nhiên, không phải là nguyên nhân của những tệ trạng xã hội. Họ cũng là nạn nhân như bao lương dân khác. Túng thì phải tính, thế thôi. Sự bất hạnh của giới người làm cò, nghĩ cho cùng, chỉ là chuyện nhỏ (và chuyện rất thường) ở Việt Nam. Nơi đây, cả một dân tộc đang bị vùi dập và khinh miệt hay chà đạp chứ đâu có riêng chi một giới người nào.
Đã thế – ở xứ sở của chúng ta – bên cạnh cò thật còn có thêm cò… giả, cò đểu và cò mồi. Những con cò chuyên cung cấp những dịch vụ… thừa. Nói cách khác, chúng tạo ra nhu cầu (không có thật) và dùng mánh khóe hay bạo lực bắt mọi người phải sử dụng những dịch vụ (không cần thiết) của mình. Chính loại cò này mới là thủ phạm của tội ác, đáng bị chỉ tên và kết án.
Xin đơn cử một thí dụ:
“Hầu như vùng nông thôn nào cũng có cò heo, nhưng ở phạm vi bài này, chúng tôi chỉ khoanh gọn đội quân cò heo ở huyện Trực Ninh – một huyện phía Nam của tỉnh Nam Định. Đội quân này có khoảng 50 người được phân bố rải rác ở tất cả các chợ có heo bán như Cát Thành, Trực Tuấn, Trực Bình, Liêm Hải, Phương Định…“
“Để sống được, ngoài phương thức cổ điển là dựng vai mồi, đưa người mua vào bẫy, đám cò lợn còn tiến hành kinh doanh lợn. Nói như các cụ thì chợ chưa họp kẻ cắp đã đến. Các cò lợn cũng vậy. Mỗi khi đến phiên chợ, họ đến rất sớm để gặp khách nào có ổ lợn mà xem ra lớ ngớ thì cò lợn xúm đến tranh mua. Thường thì họ trả rất rẻ, chê bủng chê beo, nhấc lên bỏ xuống chán chê.”
“Nếu có ai khác cố tình mua và chủ lợn cố tình bán thì các cò lợn sẵn sàng chơi luật rừng ngay, không thì họ cũng giằng co cho đến lúc con lợn gẫy chân. Vì vậy trước sau cò lợn cũng mua được ổ lợn (hay con lợn). Rồi chẳng cần xách đi đâu, họ ngồi luôn xuống tại chỗ để bán lại. Gặp hôm nào lợn ít họ lãi gấp đôi, còn bình thường họ lãi gấp rưỡi, ít khi bị hòa vốn.”
“Nạn cò lợn ở các xã có chợ lợn ở huyện Trực Ninh xuất hiện cách đây 15-16 năm. Càng ngày nó càng phát triển. Nó không những không đem lại lợi ích gì cho bà con nông dân mà còn gây nhiều khốn khó cực lòng. Không ít người đã từng nhăn mặt méo mồm với đám quân cò lợn bất trị chuyên lừa lọc này (”Cò Heo,” Sống Mới, 01 Mar. 2002:27).
Chuyện lừa lọc của lũ cò giả, như cò lợn (thực ra) không có gì mới mẻ, và chỉ là chuyện nhỏ – của đám cò con – tại thôn quê. Ở bình diện quốc gia, nước Việt còn nhiều thứ cò đểu khác “vĩ đại” (và đáng ngại) hơn nhiều.
Cò chiến thuộc loại này. Sau Thế chiến thứ Hai, khi phong trào giải thực lan rộng trên toàn cầu (và việc trao trả độc lập cho những quốc gia bị trị trở thành một xu hướng không thể đảo ngược ở khắp mọi nơi) thì đám cò chiến ở Việt Nam vẫn cố tạo ra một cuộc chiến “đánh đuổi thực dân để giành độc lập.”
Sau đó, họ tiến hành một cuộc chiến tranh khác bằng cách hô hoán lên là đất nước bị xâm luợc, rồi bắt ép nửa phần dân tộc Việt đi chém giết nửa phần còn lại. Trong cả hai cuộc chiến (rất) “thần thánh” và (hoàn toàn) không cần thiết đó, đám cò đểu đều thắng lợi một cách vẻ vang. Chỉ có nhân dân là (đại) bại – theo như cách nói của thi sĩ Nguyễn Duy.
Dù đã thua te tua, và thua thê thảm liên tiếp qua mấy thế hệ nguời như thế, dân chúng vẫn chưa được để yên. Sau 1975, ở Việt Nam bỗng xuất hiện một loại cò giả khác – gọi là cò người. Đám cò đểu này tạo ra đủ thứ áp lực khắc nghiệt khiến hàng triệu người Việt phải quyết định bỏ nước ra đi, và chính chúng đứng ra “bán bãi thu vàng” cho những chuyến phiêu lưu nát lòng và hãi hùng này.
Vấn đề trên đã được nhà báo Bùi Tín nhắc lại (trên tạp chí Cánh Én, số Xuân Kỷ Mão, phát hành tại Đức Quốc, tháng 2 năm 1999) trong bài “Hai câu hỏi cần trả lời rõ ràng khi thế kỷ 20 khép lại.” Một trong hai câu hỏi này, được đặt ra cho ông Phạm Văn Đồng, nguyên văn như sau: “Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?”
Thế kỷ XX đã khép lại, ông Phạm Văn Đồng đã từ trần, chuyện bán bãi thu vàng đã chấm dứt, đám cò người (cũng) đã chuyển vùng – sang một địa bàn hoạt động khác, xuất khẩu lao động – chịu nhận thu nhập ít ỏi hơn. Tuy gọi là “ít” nhưng theo lời tác giả Lê Diễn Đức (trong bài “Sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn,” đọc được trên talawas, vào ngày 3 tháng 4 năm 2009) thì ”ở Việt Nam buôn công nhân đi nước ngoài là business hợp pháp ít vốn nhiều lời nhất, hơn cả ma tuý.”
Cò người, tuy thế, vẫn chưa bị công luận lên án kịch liệt (chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này, chi tiết hơn, vào tuần tới, cũng trên diễn đàn này) vì cạnh chúng có vài loại cò khác – gian ác hơn nhiều và cũng đang gây ra nhiều điều tiếng tệ hại hơn.
Trước hết, hãy nói qua về cò bauxite. Nhân danh chủ trương lớn của một đảng, đám cò này ngang nhiên mang một phần đất nước ra bán xới. Khi bị chất vấn về hiểm họa của môi sinh (và an ninh quốc phòng) vì đã để cho ngoại nhân khai thác tài nguyên ở một vùng trọng yếu của đất nước, đám cò này liền bù lăn bù loa đe dọa – bằng hình thức “Thông cáo báo chí – rằng: “bản kiến nghị phản đối của các nhà trí thức gửi Lãnh đạo Đảng và Nhà nước là không có cơ sở, không đúng với tình hình thực tế, hoàn toàn mang tính bịa đặt và kích động, và bị các tổ chức phản động lợi dụng.”
Cò đảo và cò biển còn đáng sợ hơn vì hung hãn và côn đồ hơn thế. Nhiều công dân Việt Nam đang bị giam cầm chỉ vì đã biểu tình, hay treo biểu ngữ, bày tỏ nguyện vọng của họ về việc bảo toàn lãnh thổ, sau khi biết được việc cắt biển và dâng đảo của đám cò này.
Ngày 10 tháng 9 năm 2008, một công dân Việt Nam, ông Nguyễn Văn Hải, bị xử hai năm rưỡi tù giam (với tội danh “trốn thuế”) nguyên do chỉ vì đã tỏ thái độ phản đối việc rước đuốc Thế vận hội Bắc Kinh, cũng như lên tiếng về chủ quyền của Việt Nam liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tương tự, liên tiếp trong bốn ngày (6,7,8 và 9) vào tháng Mười năm 2009, đám cò biển và cò đảo đã dựng lên những phiên toà ở Hà Nội và Hải Phòng và tuyên án chín lương dân (*) nhiều năm tù chỉ vì họ đã kêu gọi sự bảo toàn lãnh hải, và tuyên xưng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.
Trước đó, vào ngày 18 tháng 9 năm 2008, một công dân Việt Nam khác – cô Phạm Thanh Nghiên – đã bị một số đông công an và nhân viên an ninh (của thành phố Hải Phòng) lôi ra khỏi nhà khi cô đang ngồi toạ kháng, với hai khẩu hiệu: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” và “Phản đối công hàm bán nước của thủ tướng Phạm Văn Đồng.”
Dù hơn một năm đã trôi qua (xem ra) nhà đương cuộc Hà Nội vẫn còn lúng túng, chưa nghĩ ra được tội danh gì thích hợp cho trường hợp Phạm Thanh Nghiên. Do đó, cô vẫn tiếp tục bị biệt giam và không biết đến bao giờ mới được mang ra “xét xử!”
Giữa vòng vây của một đám cò, Phạm Thanh Nghiên – tất nhiên – đang phải đối diện với rất nhiều hung hiểm. Không cần phải là thầy bói, người ta vẫn có thể nói trước được tương lai “lành ít dữ nhiều” của nhân vật này. Số phận của cả dân tộc Việt (e) cũng không khác mấy, nếu cứ tiếp tục cam chịu để bị cai trị và dẫn dắt bởi một bầy cò (cò đểu, cò giả, và cò mồi) như thế.
Tưởng Năng Tiến
(*)
1. Trần Đức Thạch: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
2. Vũ Hùng: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
3. Phạm Văn Trội: 4 năm tù và 4 năm quản chế.
4. Nguyễn Xuân Nghĩa: 6 năm tù và 3 năm quản chế.
5. Ngô Quỳnh: 3 năm tù và 3 năm quản chế.
6. Nguyễn Văn Tính: 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.
7. Nguyễn Văn Túc bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế.
8. Nguyễn Kim Nhàn bị kết án 2 năm tù và 2 năm quản chế.
9. Nguyễn Mạnh Sơn bị kết án 3 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế.

 


 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những Bài Trước:
————————————————————————


 

 


Published on Fridays - Tuần Báo Việt Ngữ phát hành mỗi thứ Sáu
Postal Address: P.O. BOX 276 Kilkenny, South Australia. 5009
Telephone: +614 8347 7586 - Fax: +618 8347 0727