co vang


Liên lạc với chúng tôi
Email:

sanews@sanet.com.au
<

Adelaide
South Australia
Click for Adelaide, South Australia Forecast

 

  
Năm Thứ 14



A   A   A

Một bồ... dao găm!

 

Thiện An Mặn

Nghe đến cái tên Thiện An Mặn, chắc lâu nay không khỏi có bạn đọc nghĩ rằng đấy là pháp danh của một anh nhà quê ít chữ, theo đạo Phật, đã quy y Tam Bảo? - Cũng có phần đúng, nhưng không hoàn toàn là vậy.
Nhà quê chơn chất, ít chữ nghĩa: Đúng trăm phần ngàn. Quy y Tam Bảo: Chưa, chờ nước trong mới gội, bây giờ còn (quá) đục chỉ ngồi trên bờ rung đùi nhìn thiên hạ hụp lặn bể Mê; Tin Phật: Có, nhưng chín mươi phần trăm thôi, vì Phật cũng là người, mà đã là người thì nhất định phải "vô thập toàn"; Thấy Phật: Có, dù chỉ một lần nằm mơ còn lại thì chỉ thấy Phật ở chùa, Phật trong nhà, Phật ngoài sân, Phật trong vườn, Phật trong tiệm bán cây cảnh... và Phật bị còng tay kiềng chân ngồi ngoài bãi cỏ trên đường Regency (gần shoppping Arndale) cả mấy tháng nay. Mà toàn là mộc Phật, thạch Phật, kim phật, đồng Phật, đất sét Phật, thiên hình vạn trạng Phật và sắp tới đây nghe đâu có cả ngọc Phật - Come from Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - của Nguyễn Thái Minh, chứ Phật bằng da bằng thịt thì chưa bao giờ được diện kiến.
Còn hỏi tôi có tin lời Phật dạy không? Xin thưa có, nhưng cũng chỉ năm mươi phần trăm, bởi năm mươi phần trăm kia chắc gì đã "không tam sao (qua nhiều thứ tiếng trước khi có bản tiếng Việt) thành mất luôn chánh bản"! Ai muốn trắc nghiệm sự thực nầy thì xin cứ tự nhiên bất ngờ hỏi ngay một phật tử có pháp danh hẳn hòi câu "Nam Mô A Di Đà Phật là ngôn ngữ nào, nghĩa ngữ là chi? Hoặc gặp mấy anh sư cà chớn, hỏi Phật là gì và ai là Phật? thì sẽ có ngay kết quả vòng chung kết.
Bây giờ nói tới chuyện tin Tăng. Hình như tôi đã xác nhận trước đây: Năm phần trăm là quá cỡ thợ mộc. Lý do là đã nghe, đọc hết rồi, chín mươi lăm phần trăm kia sao mà toàn là giả tăng, ác tăng, gian tăng, tham tăng và ...dê sư cụ tăng không hà. Vậy thêm một lần nữa xác định để sau này khỏi mang tiếng bịp bạn đọc và lỡ có bị ông Hòa thượng, pháp danh Thích Kiện Tụng (ở Nam Úc) cõng ra tòa thì cũng chạy được cái tội "tiếm danh". Cho nên, xin rõ ra thế nầy: "Thiện" ở đây không có nghĩa là trái với ác, mà hàm ý là giỏi, thích (như thiện xạ, thiện cảm chẳng hạn), vì kể từ ngày biết tự tay đưa miếng cơm vô miệng, tôi đây làm biếng ba cái dụ ăn chay nói dóc, chỉ thích mặn nói ngay. Đính kèm với chuyện thích ăn mặn, tôi (không giấu gì) còn thích luôn đàn bà con gái, nên bị quả báo phải lấy vợ sanh con, dây mơ rễ má lằng nhằng. Còn lại "tam đổ tường" kia thì: Đĩ điếm: không chắc có hay không; Cờ bạc: Bái bai lâu rồi; Rượu bia: part-time. Được cái tốt nết là tửu nhập nhưng dâm không thượng, chỉ còn ngôn xuất lai rai.
Đã nói tới tửu, thường thì phải tứ mới đúng điệu. Nhưng hôm nay chúng tôi chỉ có hai: Bạn tôi, Lỗ Thầy Chạy (chuyên viên làm đồ nhậu, bankcruptcy) và tôi, Thiện An Mặn (chuyên viên phá mồi, nói toạc móng heo).
...
Tôi nói: Hắn nổi tiếng thật!
Bạn tôi hỏi: Hắn là ai?
Tôi kể: Hắn có tên trong giấy tờ (chưa chắc đã thật) là Đinh Lộc, cạo đầu, xuất gia (chẳng biết tự lúc nào) làm thầy chùa, lấy pháp hiệu Thích Trí Long.
Bạn tôi hỏi thêm: Hắn ở đâu?
Tôi chi tiết ra: Hiện hắn mang "quân hàm" Đại đức, chức vụ Viện chủ Linh Sơn An Lạc Viện ở thành phố Quitman, thuộc tiểu bang Texas, bên Hoa Kỳ.
Bạn tôi hơi giựt mình: Coi chừng! Đã trọng Phật thì phải tôn sư, người ta là thầy chùa, có đóng dấu (tức cạo đầu), ông gọi bằng "hắn", thứ nhất tội trời, thứ hai mai mốt chết xuống A tỳ nghe cha nội!
Tôi trả lời: Sư cũng năm bảy đường sư! Thứ sư đêm ngủ không chịu nằm nghiêng chỉ thích nằm sấp, ma đạo còn hơn cả ma cô, gọi bằng "thầy" ma quỉ sẽ ganh tỵ vật tớ chết tươi, không kịp ngáp. Ai thích Bạch Thầy thì cứ bạch, ai thích quỳ cứ quỳ, riêng tớ đây nhất định cạch đầu cu cậu Trí Long nhập thế, trở lại với cái tên Đinh Lộc trong giấy tờ để gọi "hắn" mới vừa lòng hả dạ.
Bạn tôi cười: Vậy là hả dạ rồi phải không? Nhậu đi cha!
Tôi đưa tay ra dấu: Khoan! Vẫn còn một điều tớ chưa tự trả lời mình được là qua câu chuyện thuộc loại cướp ngày và "dê sư phụ" của hắn, không hiểu sao báo chí người Việt lại nhẹ tay đặt cho cái tựa rất ư nhân nhượng: "Linh Sơn An Lạc Viện Nổi Sóng"?
Bạn tôi hỏi: Chứ ý ông muốn thế nào?
Tôi trình bày: Chẳng sóng chẳng gió mẹ gì cả, nếu được làm nhà báo, nương tay lắm tôi cũng sẽ ghi: "Tên cướp ngày Đinh Lộc cuỗm gọn một trăm năm chục ngàn US đô la của bá tánh". Phải gọi như thế để sau nầy Ban trị sự chùa Linh Sơn mới tiện bề đưa hắn ra tòa mà đòi lại. Hoặc cho rõ ràng hơn nên viết là: "Đại Dê Thích Trí Long, Viện chủ Linh Sơn An Lạc Viện được thăng cấp Tổ sư Dê Cụ". Bởi vì tài dê gái của hắn kể như ngoại hạng, thuộc loại "ở đời dễ có mấy tay". Ngày trước cậu với tớ muốn o em nào cũng phải đổ mồi hôi sôi nước mắt, có khi hết cả giấy mực, nhưng cũng hoàn "xôi hỏng bỏng không". Còn hắn đây, chỉ mới có ba năm hắn đã "hắt vô kéo ra, úm bà la, úm tá lả..." tới sáu ni cô xuất gia cũng như "Phật tử thuần thành" ngay tại cái chốn gọi là An Lạc do hắn làm trụ trì viện chủ. Ông biết không, trẻ không tha già không chừa, hắn "cứu độ" cả sáu ả còn gin có, nạ giòng có, chỉ độc nhất vô nhị bằng một câu thần chú học thuộc lòng: "Em là người tình đầu tiên của anh!". Bấy nhiêu thôi mà ả nào cũng sướng râng trong bụng, cởi phăng cả quần lẫn áo... nâu sòng, cho hắn tha hồ làm "người cày có ruộng". Tạo "phước điền" xong, hắn rót thêm một câu nữa cho ăn khớp với câu đầu thế nầy: "Buồn quá, em đã cướp mất trinh của thầy rồi!". Thế là các ả đã cho không thầy cái "phành ra ba góc da còn thiếu" cũng sướng tới tận mây xanh một lần nữa, rưng rưng nước mắt với cái thằng sư mất dạy... "sáu lần vẫn còn trinh"!
Mà nào phải dừng ở đó thôi đâu! Người ta bảo "vuốt mặt cũng phải nễ mũi", nhưng hắn thì chẳng nễ ai, ngang nhiên làm cỏ "phước điền" ngay dưới bàn thờ Phật! Không tin điều nầy có thật, ông cứ vào ngay www.damtangtrilong.com thì sẽ rõ ngay.
Bạn tôi ngắt ngang: Chuyện nầy chẳng có gì lạ, qua ca dao tục ngữ của cái xứ "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, và sắp tới đây nô lệ từng ngày", ông bà ta từ ngàn xưa đã có dặn con cháu rồi, nghe đây này:
Im như Bụt mọc trên chùa,
Con vào chánh điện đừng đùa với Sư.
Cúi lạy con phải từ từ,
Đừng chổng mông quá mà hư thân mình!
Dễ hiểu thôi, của để hớ hênh thì bị chúng ăn cắp, giấu không kỹ thì bị chúng ăn trộm, dênh dênh trước mặt thì bị chúng ăn cướp, ở đây còn chổng mông "mời sư xơi" thì ông hưởng đẹp thôi, còn la làng la xóm cái nỗi gì? Ai ngu ráng chịu! Mình nhậu.
Tôi không thể ngừng: Chờ chút. Ông mới bảo ai ngu ráng chịu, tôi mới nhớ ra tay này: Trình độ đại học (hay cao hơn), vợ đẹp con ngoan, nhà cửa đàng hoàng, lương năm hơn cả trăm ngàn (đô Mỹ). Vậy mà ma xui quỉ khiến thế nào để cả vợ lẫn chồng vào quì quì, bạch bạch, làm đệ tử ruột già ruột non của "Thầy". Đến lúc ra cớ sự rằng, vợ mình đã mê cái "đáng giá ngàn vàng" của "thầy" mới biết mình "trên bị cắm sừng, dưới bị phỏng dế", đêm chong đèn ngồi viết bức tâm thư "Tôi chọn lầm thầy!" Thiệt ngu chẳng chừa chỗ cho thiên hạ xía vô ngu tí chơi! Đúng là thứ trí thức nhưng bất tri thức, chẳng chịu nghe lời Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 dạy rằng: "Đừng hấp tấp tôn ai là thầy. Vì mối liên hệ nầy ảnh hưởng rất sâu sắc trong đời sống tinh thần của chúng ta, dù phải đợi một năm, mười năm hay hai mươi năm. Trước tiên ta hãy coi người đó có phải thiện tri thức, sau quan sát cách ăn ở, cư xử. Cho đến bao giờ ta hoàn toàn phát khởi đại tín tâm rồi hẳn tôn người đó làm thầy, cũng chẳng muộn đâu". Mà không phải chỉ riêng tay "trí thức bất tri thức" nầy đâu, cả Ban trị sự của chùa Linh Sơn cũng chẳng có ai còn được một con mắt sáng! Dzô cái đi, rồi tôi kể tiếp ông nghe.
Sau khi chuyện đã "tá hỏa tam tinh", không thể "tu rị tu rị ta bà ha, cho qua cho qua, do ma do ma" thì nạn nhân, gia đình nạn nhân và Ban Trị Sự của chùa mới nhao nhao gởi thư lên Chư tôn Hoà thượng Tăng thống, Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni, Giáo hội Phật giáo Linh Sơn Thế giới, đồng hương, Phật tử khắp nơi v.v... để kể lể ỉ ôi, than dài khóc ngắn thế nầy: "Chúng tôi, BTS Linh Sơn An Lạc Viện có nhận được bức tâm thư của một đại đệ tử của Thầy Trí Long, câu chuyện thật đau lòng và thương tâm. Chúng tôi không ngờ thời Mạt Pháp nầy lại có một vị Tăng phạm giới luật và tà dâm đến nỗi không còn lời lẽ hoặc bút mực nào có thể diễn tả được. Là Phật tử (của LSALV) chúng tôi có bổn phận phải đưa việc nầy ra ánh sáng, để chúng ta phải cẩn thận suy xét kỹ lưỡng trước khi phát tâm đóng góp công và của cho đúng người, đúng chỗ để khỏi ân hận về sau".
Quái thật! Một lần vẫn "chưa tởn tới già, bỏ sư bỏ mõ ôm gà chạy đi" còn hẹn thêm lần sau nữa! Đã vậy còn đổ thừa rằng "thời Mạt Pháp"! Ông thử nghĩ coi, làm gì có thời Mạt Pháp với Thịnh Pháp? Bởi lời Phật dạy thì chẳng có thịnh mạt gì ráo trọi. Ai tin được để tu thân thì tin, ai không chịu tin thì thôi. Cho nên phải gọi đây là thời Mạt Tăng, tức tăng mạt, tăng hèn, tăng dâm, tăng cà chớn! Cũng giống như sách vở có hay ho đến mấy mà gặp toàn thứ thầy giáo ba trợn, giáo gian..., thì lớp học ấy trước sau cũng chỉ còn "một thầy, một cô, một chó cái" mà thôi, đừng có đổ thừa là thời Mạt thư, mạt sách. Lỗ Thầy Chạy ráng chịu khó nghe tôi kể tiếp đoạn sau của chuyện nầy để ông kết luận là Mạt Pháp hay Mạt Tăng nha.
Sau khi thư của Ban trị sự gởi đi, Thích Hữu Nguyện (cũng mang quân hàm Đại đức, phụ tá Đồn trưởng Trí Long, phán cho một câu (trong thư trả lời Ban trị sự) ít ai ngờ tới như thế nầy: "Chúng tôi xin thông báo cùng quý vị, Tu viện Linh Sơn An Lạc Viện đã được thành lập độc lập, không lệ thuộc vào một giáo hội hay một tổ chức nào".
Đấy, từ hòa thượng, thượng tọa, đại đức, tăng ni, đến đồng hương, Phật tử, đã ngọng chưa? Còn kêu ai nữa thì cứ tự nhiên kêu! Hay là có rát cổ hao hơi, mất tiền, toi công, rồi cũng chỉ tự an ủi nhau bằng câu cũ rích cũ mèm: Gieo nhân sẽ gặp quả, chứ chẳng rụng được cọng lông chân nào của đám sư mặt dày mày dạn. Để coi, phước cho cái Ban trị sự của ông Âu Oanh Liệt ở chùa Pháp Âm thức thời "bái bai quý sư khi trời chưa tối", chứ rồi đây UB Vận Động Chỉnh Đốn Việc Quản Trị Chùa Pháp Hoa Nam Úc và đồng hương Phật tử Nam Úc cũng sẽ lâm vào cảnh "dở cười dở mếu" ấy thôi. Nếu chuyện nầy xảy ra ngược lại, có nghĩa là các Sư coi của cải tài sản là thứ vô thường, chùa của bá tánh (tự nguyện) trả về cho bá tánh thì tôi sẽ nhất nhất gọi họ bằng Thầy cho đến hơi thở cuối cùng!
Nếu còn ai không tin có thứ sư "ngậm miệng ăn tiền, lì như đĩa", thì hãy đọc tiếp đoạn sau đây trong tâm thư của Đại Đểu Thích Hữu Nguyện: "Dù rất nhiều công việc còn đang dang dở, Thầy (dâm sư Trí Long) cũng phải thu xếp và sẽ đi nhập thất sám hối vào cuối tuần nầy. Hy vọng mọi chuyện sẽ êm đẹp trong tánh đức Từ Bi, trong hoan hỉ tâm Phật của mọi người chúng ta. Tăng ni và cư sĩ tại Linh Sơn An Lạc Viện kính xin quý vị hoan hỉ trả lại sự yên tỉnh cho đạo tràng để mọi người nương nhau sống mà tu học".
Ai sao không biết, chứ tôi đọc xong đã phải mủi lòng, muốn khóc đến... ướt cả quần! Bởi kinh nghiệm quá rồi, cao tăng Hòa thượng Thích Phước Huệ, trên tám chục tuổi, trụ trì chùa Phước Huệ, sau mười lăm năm vân tập Úc-Mỹ để "hoằng đạo mây mưa" với bà Diệu Đức đã ngậm ngùi khóc lóc trước bá tánh, đổ lỗi cho nghiệp chướng, xin rút lui, nhập thất, sám hối ăn năn... rồi cũng sừng sững quay lại trụ trì, trong vòng chưa đầy tám tháng!
Bạn tôi kết luận: Cho dù rõ như ban ngày vậy đấy, nhưng chắc gì thiên hạ đã tỉnh hết ra! Cái khổ của người Việt ta là dễ tin, dễ cúng dường và cũng dễ quên, để phải vấp đi vấp lại cả ngàn lần. Cuối cùng khi đã biết ra "tiền ta sư xài bậy, con ta sư dợt đẹp, vợ ta sư chơi không..." thì lại ngoác miệng kêu trời than đất! Có người cho rằng đây là xì-căn-đan trăm tấn, chuyện động trời. Thật ra nó chỉ "động trời" với những ai không hiểu, không nghe, không nhớ và không tin lời Phật dạy, cứ cắm đầu cắm cổ vô chùa mới gọi là tu, cứ nhìn cái ông có đóng dấu "cạo đầu xuống tóc", cứ nghe ông "xuất gia" là tưởng rằng ông là kẻ "quên hết chuyện đời, cứu rỗi chúng sanh" như Phật. Được tiếng là giống dân thông minh sáng dạ, nhưng lạ quá, học hoài mà chẳng thuộc câu: "Chiếc áo chẳng làm nên nhà sư!"
Lỗ Thầy Chạy nói tiếp: Zdô cái đẹp đẹp đi. Ông có kêu trời than đất cho lắm, thì "ngàn năm sau vẫn còn thương đau" vì vẫn còn nhiều người muốn được cứu khổ bằng cách đến nhờ mấy thầy móc khổ ra khỏi thân, trong lúc rõ ràng ràng thầy đang đi gieo khổ. Rành rành khổ hay không khổ là do ở chính ta chứ đâu phải do ai hay oan nghiệp nào! Đây này, mười bốn câu viết trên một bức sáo treo tường ở nhà một ông nọ, phía dưới có ghi rõ: Mười bốn điều Phật dạy, đơn giản vô cùng, cứ tự suy nghiệm, cố gắng thực hành được điều nào thì khổ sẽ bớt đi chừng nấy:
1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình.
2. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe.
3. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung.
4. Món nợ lớn nhất đời người là tình cảm.
5. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại.
6. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá.
7. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tỵ.
8, Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ái.
9. Đáng khâm phục của đời người là vươn lên sau khi ngã.
10. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng.
11. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.
12. Khiếm khuyết lớn nhất của đời người là thiếu suy luận.
13. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu.
14. Sai lầm lớn nhất của đời người là dễ tin.
Ai tin hay không tùy ý! Cá nhân tôi tin trăm phần trăm, bởi hơn mấy chục năm nay sống gần nhà ông bạn ấy, tôi chưa một lần thấy những người trong gia đình họ tắt nụ cười trên môi. Một điều nữa, là tìm mãi trong mười bốn câu trên không có chỗ nào Phật dạy: trọng tăng, cúng Phật, nhập thất, vào hạ, tạo phước điền, niết bàn, địa ngục, tháp báo ân, đại quốc tự, kim Phật, ngọc Phật. Cũng lạ thật, ông Thái Minh (trưởng ban tổ chức), ông sư Như Huệ (cho mượn hay cho thuê mặt bằng) ra rả kêu rằng đó là "Phật ngọc hòa bình thế giới", nhưng sao Phật đã đi qua Việt Nam mà con dân của Phật ở xứ sở ấy vẫn cứ đói nghèo rớt mồng tơi, lường gạt nhau rươi, chém giết nhau như ngóe, đấu tranh không ngưng nghỉ, bị tù đày liên miên, bị bóc lột đến chỉ còn da bọc xương? Phải chăng đã đến lúc "quỉ phá nhà chay" của đám bất nhân gánh Bụt đi quanh làm tiền chẳng khác nào mấy tay Sơn Đông Mãi Võ bắt khỉ làm trò để bán cao đơn hoàn tán?
Rồi còn một điều nữa đáng lo, là liệu sau khi thiên hạ đã chiêm bái "ngọc Phật quý giá" kia thì liệu những mộc Phật, thạch Phật, đồng Phật, đất sét Phật... lâu nay có còn được đánh giá hiển linh như xưa nay nữa không? Và những ông Phật "không quý giá" nầy có cảm thấy cám cảnh cho thân phận mình không nhỉ?
Thay lời kết:
Qua báo in và qua mạng internet, nếu Dâm Tăng Thích Trí Long và Ma Vương Thích Hữu Nguyện (ở Mỹ), Ma Đạo Thích Kiện Tụng (ở Nam Úc), có "may mắn" đọc được đôi giòng này của bợm nhậu chúng tôi thì xin đêm ngủ nằm nghiêng, gối đầu lên tay, suy nghĩ giùm mấy câu thơ sau đây của một nữ sĩ lừng danh trong văn học nước ta, Hồ Xuân Hương:
Chẳng phải Ngô, cũng chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lóc, áo không tà,
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà,
Khi chùm, khi chụp, khi chụp chọe,
Lúc hì, lúc hí, lúc hi ha.
...
Tiện đây hỏi khẽ nhà sư tí:
Công đức như ông, mấy bồ ta?
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương tiêu diêu cõi Niết bàn lâu rồi. Chẳng biết trước khi nhắm mắt lìa đời nữ sĩ đã nghe những sư kia trả lời thế nào, chứ còn chúng tôi, chắc là sẽ nghe thiên hạ trả lời giùm quý sư: Nam Mô một bồ... dao găm!
Thiện An Mặn

 

 

Văn hóa cạn chén!

(… thực đơn thật phong phú của một quán nhậu ở Việt Nam…)

…Buồn như ly rượu đầy
không có ai cùng cạn;
Buồn như ly rượu cạn
không còn rượu để say…
(“Buồn” – Y vân)


Ngòai cái tên tựa mà tôi tạm thời chọn cho bài này, “Văn hóa cạn chén” (the ‘bottom-up’culture), còn có muôn vàn tên từ phàm tục, bình dân giáo dục cho đến thi vị, bi tráng để gọi một vấn đề (hay một tệ nạn xã hội) - uống rượu: ăn nhậu, nâng ly, cụng ly, cạn ly, nhâm nha, lai rai, tiến tửu, nghinh tửu…
Cạn chén là một “bộ luật bất thành văn” duy nhất của xã hội Việt Nam hôm nay được áp dụng rất “nhất trí.” Từ cấp lãnh đạo nhà nước, cơ quan chính quyền cho đến xí nghiệp tư nhân, tiệc tùng ăn nhậu gần như là một nghi lễ bắt buộc khi tiếp quan khách cấp bậc nhà nước hoặc tiếp các đối tác thương mại… Không có ăn nhậu được hiểu là “không phải phép,” “không biết điều,” “không rượu không phải lễ (vô tửu bất thành lễ),” “khó chơi,” “chơi không vô…”
Lần đầu về thăm Việt Nam sau gần 30 năm, khi tiếp xúc với thân nhân, bạn bè, người nào cũng than vãn là: “cuộc sống quá khó khăn,” “làm không đủ sống,” “gạo châu củi quế…” nhưng tôi lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy từ thành phố lớn cho đến thôn quê, từ đường phố lớn đông người chen chúc cho đến ngoại ô xa xôi vắng vẻ, từ nhà hàng sang trọng máy lạnh cho đến quán cóc xiêu vẹo lôi thôi nhếch nhác vỉa hè, khi chiều tối vừa lên đèn là đã đầy nghẹt khách nhậu!!! Tôi có đem chuyện “vô số các quán nhậu đầy khách” ra hỏi một đồng môn cũ hiện đang làm việc cho một ngân hàng ở Sài gòn, thì người bạn này trả lời là:
“Ông nói đúng. Mỗi buổi chiều tan sở, có ít nhất 5 hay 6 nơi mời tôi đi nhậu. Tôi phải lựa chọn một chỗ ngon lành và tốt nhất để nhậu mỗi ngày. Mà nè! Ở thời buổi ‘đổi mới’ bây giờ, nói không quá, không nhậu không thể làm việc được; bởi vì các vụ làm ăn, trao đổi, ký kết, quyết định của cơ quan chính quyền cũng như cơ sở dân sự thương mại đều ‘xử lý’ không phải ở trong văn phòng; mà trên bàn nhậu!”
Trời đất! Ở Mỹ này, Các nhà lãnh đạo chính phủ cũng như xí nghiệp tư họp bàn và quyết định mọi chuyện khi đầu óc họ tỉnh táo, thông thoáng mà còn đôi khi còn bị sai lầm đổ vỡ; vậy mà ở nước ta “mọi quyết định quan trọng” đều xẩy ở trên bàn nhậu khi các người can dự đều say khướt nôn ọe thì đất nước này sẽ đi về đâu? Có lẽ chỉ có một con đường rõ ràng nhất có thể nhìn thấy là sẽ xuống hố cả nút… xã hội mỗi ngày mỗi băng hoại hôi hám như những bãi ói mửa quanh bàn nhậu…
Cạn chén, cạn ly, ăn nhậu, hũ chìm, hũ nổi… đó là chuyện bình thường ở Việt Nam (!) Cán bộ có nhiều tiền, nhàn rỗi không sợ mất việc thì nhậu đã đành; Anh thợ hồ cũng nhậu, anh xe ôm cũng nhậu; Có bằng đại học cũng nhậu, công nhân tép riêu cũng nhậu; Người dở người giỏi đều nhậu; Phụ huynh người lớn nhậu, các em tuổi học sinh bắt chước nhậu, không uống được mười phần (như bố) thì cũng được hai ba phần là tốt rồi; Chuyện nhậu không còn dành riêng cho nam giới “hữu phong” mà phụ nữ con gái cũng theo chồng, theo con, theo bạn nhậu quắc cần câu… Trên bàn nhậu thấy có mặt đủ mọi thành phần, mọi giới, mọi trình độ… và nhậu với mọi “lý do.” Bạn bè gặp nhau (không nhất thiết phải là lâu ngày và tại sao) là phải nhậu… nhậu “giao lưu,” nhậu “kết nghĩa,” nhậu “trước lạ sau quen...” Rồi đến các dịp ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp, lễ hội, đại hội, hội nghị, đình đám, khởi hành, khai trương là phải có nhậu… Cứ nhậu trước rồi tính sau. Ông Nguyễn Hiến Lê trong tập “Hồi ký Nguyễn Hiến Lê” đã kể chuyện một ngôi làng ở miền bắc chỉ họp nhau đào một cái giếng nước nho nhỏ thôi; vậy mà từ lúc bắt đầu khởi công đến khi hòan thành giếng nước, dân làng đã tổ chức nhậu liên tiếp từng chặng một, đánh chén hết tổng cộng 42 con heo (?)… Thiệt tình văn hóa ăn nhậu của nước ta đã đến mức siêu đẳng…. Một hai ba cả nuớc chúng ta cùng nhậu, cùng nhau “liên hoan” mệt nghỉ cho tới ngày xuống hố một lượt cho tiện sổ sách… Chuyện đáng buồn là ở Việt Nam, nhậu còn được xem là một lợi thế thăng tiến trên đường công danh (?) Nhiều sếp lớn của cơ quan nhà nước cũng như xí nghiệp cần tuyển người “nhậu giỏi” để làm phụ tá giúp mình “uống” trong các buổi nhậu giao tiếp… hãi thật!
Theo thống kê của Bộ Y tế Việt Nam (?) (dân tị nạn “phản động” ở hải ngọai nên biết là cái “Bộ chuyên môn” này đã có một lúc - những năm 1980’s - nhà nước siêu việt của ta gọi là “Bộ Các Thứ Bệnh” cho nó “ăn theo” với “Xưởng Đẻ “ và “Nhà ỉa...” Sau đó vì bị dân chúng cười chế nhạo quá xá, nhà nước phải đổi tên lại cho “hoàn chỉnh” là “Bộ Y Tế”) mỗi năm cái quốc gia “ra ngõ đã thấy anh hùng” tiêu thụ khoảng 350 triệu lít rượu, trong đó 90% sản lượng là rượu nấu thủ công. Nên biết danh từ “rượu nấu thủ công” để chỉ Rượu Trắng. Rượu Trắng còn được gọi nhiều tên khác nhau như: Rượu Đế - rượu trắng nấu lậu trốn thuế được đem đi dấu ở các bụi cỏ lau, cỏ năng, cỏ đế khi bị “Tây đoan” (một lọai cảnh sát của thực dân Pháp chuyên đi bắt rượu lậu) lùng bắt; Rượu Ngang – rượu lậu phải đi tắt về ngang để đem bán; Rưọu Quốc Lủi – bán lậu như con cuốc trốn lủi trong bụi, trái nghĩa cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng với “Rượu Quốc Doanh” của nhà nước…) Cứ tạm cho là thống kê của “Bộ Các Thứ Bệnh” (chắc chắn phải kể cả bệnh nhậu! và bệnh teo não!) nhà nước ta đúng thì trung bình dân tộc Việt Nam anh hùng tính đổ đầu từ già cho đến sơ sanh nốc cạn chai trên 3 lít rượu trắng mỗi năm (?) Úi chà chà! Thế có chết người không?
Không phải chỉ nốc rượu vào dạ dày là xong đâu. Uống rượu thì phải có “mồi” chứ ai mà uống rượu xuông? Chả thế mà các tiệm nhậu, ở mọi nơi, mỗi ngày sáng chế ra thêm nhiều món thực đơn nhậu từ phong phú đến kinh hãi: “đặc sản” thịt rừng (nai, heo rừng, cá sấu…), thịt chuột, cóc, nhái, ếch, lươn, rắn, thỏ, đuông, cua đinh, bọ cạp… Rừng Việt Nam càng ngày càng ít đi vì bị tàn phá khai thác không luật lệ, không nương tay thì lấy đâu ra “đặc sản” “hương vị quê hương” cung cấp cho hàng hà quán nhậu mỗi ngày đều đặn như thế… Ai có đủ khả năng phân biệt thật hay giả? Mà đã không có ai kêu ca than phiền gì về chuyện “đặc sản” thật hay giả thì thắc mắc làm gì cho mất thời giờ nhậu quí báu… Cộng thêm các tên gọi mênh mông tình dân và đậm đà thói đảng như: “món ăn ba miền,” “nước mắt quê hương,” “thịt bò tùng xẻo,” “ngọc dương tiềm thuốc bắc,” “cá sấu hoa cà,” “cá kèo nướng mọi,” “sò huyết rang me,” “gà quay lu ketchup, “dựng bò nấu bia,” “ngầu pín xắt lát…”
Rượu bia làm gan, dạ dầy, tim mạch, lục phủ ngũ tạng “banh ta lông” hết trơn hết trọi. Rượu làm thần kinh rối lọan, tâm thần như đang treo ngược trên cành cây - Không biết đầu mình đang đội trời hay đầu đang đội đất??? Đâu có ai buồn để ý đến hậu quả tai hại của việc uống rượu uống bia. Mới 30 tuổi đầu, giữa ban ngày ban mặt đã lăn đùng ra chết vì bệnh gan; hoặc đột ngột “tạ từ trong đêm” vì tim ngừng đập (“cardiac arrest”, hay là bị “thương mã phong?” Chỉ có trời biết). Rồi gia đình bợm nhậu quá cố đưa tin là bợm chết vì xui xẻo, trúng gió? (Gió “lào?”) Chưa tới 50 tuổi đã đột qụy tai biến mạch máu não, tàn phế vĩnh viễn. Đất nước còn trông mong vào sức lực và trí óc ở đâu ra để sản xuất, để thăng tiến giầu mạnh… Men rượu còn làm thay đổi cả cá tính con người, làm mất đi sự đàng hòang sự kính trọng. Rượu vào lời ra làm bạn nhậu gây gỗ thanh toán chém giết lẫn nhau; Rượu gây xâm phạm tình dục, bạo hành gia đình (say rượu đánh vợ đánh con dã man, vợ chém chồng …) tan hoang cửa nhà sau khi say xỉn; Chạy xe gây tai nạn lưu thông chết người cũng vì say xỉn… Những tệ nạn này các thơ phú văn chương lãng mạn; những tập phim bộ, phim kiếm hiệp bi tráng đâu có nhắc đến… Thật vậy. Thơ nhạc lãng mạn đã tạo nên những hình ảnh nam nhi với thần thái hào sảng uống rượu như nước lã; khác hẳn đời sống thực tế của con người phàm tục say rượu, ói mửa, phờ phạc, mệt mỏi, mất hồn…
Đầu tiên hãy thử nghe ông thi sĩ Vương Hàn (xì thẩu này chỉ là quan văn), trói gà không chặt, còn mơ ngủ ngay trong ban ngày trời sáng, của thời thịnh Đường (thế kỷ thứ 8 sau Công Nguyên) ca ngợi sự bi tráng của chiến sĩ uống rượu trước khi ra trận như sau:
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
(Lương Châu Từ - Vương Hàn)
Dịch nghĩa nôm là:
Rượu bồ đào cùng với chén lưu ly
Muốn uống nhưng tỳ bà đã giục lên ngựa
Say khướt nằm ở sa trường, bác chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về.
Dịch ra thành thơ
Bồ đào rượu ngát chén lưu ly
Toan nhắp tỳ bà đã giục đi
Say khướt sa trường anh chớ mỉa
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
(Trần Quang Trân)
Rượu bồ-đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu
(Trần Trọng San)
“Xưa nay chinh chiến mấy ai về.” Nhận xét này của ông Hàn gàn bát sách luận gần đúng không cần phải bàn thêm. Bởi vì đi đánh trận khác xa với đi “shopping” hay đi dạo trong công viên. Trận mạc là chỗ tên bay đạn lạc chiến sĩ mất mạng dễ như không. Nhưng cái ông Hàn trói gà không chặt này không những đã xúi bậy mà còn có máu khôi hài: “Sa trường say ngủ ai cười.” Ậy! Uống rượu say khướt rồi vào chui phòng đắp chăn ngủ với vợ còn có thể chết (xin đọc lại tai nạn “âm thầm tạ từ trong đêm!” ở bên trên). Chứ ra trận mà say rượu thì chết là chắc chắn chăm phần chăm. Quờ quạng nửa tỉnh nở mê đi ngơ ngơ giữa lằn tên mũi đạn thì không chết vì đạn của quân địch cũng chết vì đạn lạc của quân ta.

Bây giờ nghe ông danh sĩ thứ hai – nhà thơ Nguyễn Bá Trác – cũng lại ca nỗi niềm bi tráng (không hiểu sao “uống rượu” trong thơ phú cứ phải đi cặp với 2 chữ này nhỉ?) của chí sĩ tị nạn lưu vong thất thời qua bài “Hồ Trường:”
Hồ trường, hồ trường
Ta biết rót về đâu?
Nào ai tỉnh…
Nào ai say…
Chí ta biết, lòng ta hay…
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ
Hà tất cùng sầu đối cỏ cây…
(Hồ Trường – Nguyễn Bá Trác dịch thóat từ một ca khúc của Trung Hoa – tên là “Nam Phương Ca Khúc” - vào khỏang năm 1912)
Bài này đã làm những người yêu thơ rượu rất thích thú cái phong vị khảng khái mà bi tráng của kẻ sĩ vì vận nước phải dọc ngang trời đất (nói nôm na là đang sống đời tị nạn lưu vong) cho đến khi đa già lụ khụ, tóc bạc răng long (hay đầu hói răng giả) hết rồi mà vẫn bất đắc chí; mượn chai rượu (cognac) để than thở, giải buồn (?) với người đồng hưong (cũng đồng hòan cảnh thất chí…) Riêng cá nhân tôi cũng là dân tị nạn vượt biển, vì không biết uống rượu và cũng không phải thi sĩ cho nên đọc và thấy bài thơ bất hủ này có vài vấn đề:
- Thứ nhất “Rót vào đâu?” Rượu thì phải rót vào chén hay vào ly hay cùng lắm là rót thẳng vào miệng chứ không thể rót lung tung được; coi chừng rót lầm vào mũi thì có đường sặc sụa chết bỏ!
- Thứ hai, “Nào ai tỉnh, nào ai say?” Đã tính chuyện đi cứu nước thì luôn luôn phải “alert,” tỉnh táo như con sáo sậu. Chứ cứ say túy lúy thì ngay bản thân mình còn chưa cứu được nói gì đến chuyện trọng đại cứu nước cứu dân…
Bây giờ quay trở lại vấn đề say xỉn ở trong nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ta…. Cán bộ cao cấp nhậu say xỉn xong ngày mai đi họp đại hội đảng hay hội nghị tổng kết thành quả thì chắc chắn phải được việc rồi; chứ anh thợ bần cố nông thành trì cách mạng say xỉn mà ngày mai phải đi làm công việc lao động sản xuất bằng tay chân ở nhà máy; phải sử dụng máy tiện, máy cắt, máy cưa thì cơ hội được nghỉ hưu non (tất nhiên là không lãnh lương) rất cao! Kể ra, cán bộ giầu có dư ăn dư mặc hay dân đen vô sản khố rách áo ôm đều say rượu khướt đằng nào cũng tiện cho nhà nước cả… Nếu tỉnh táo mạnh giỏi họ lại cắc cớ nghĩ ra việc phản tỉnh, nộp đơn xin bỏ đảng, đòi hỏi thêm quyền này quyền nọ, biểu tình kêu oan ăn vạ rất phiền toái làm mắt mặt mất mũi đảng và nhà nước trước các con mắt của quan sát viên ngoại quốc. Mà làm cái quái gì phải ngăn cấm việc liên hoan, uống rượu cho mệt xác; Chỉ tổ làm phương hại đến ý nghĩa của châm ngôn cao cả mà đảng và nhà nước ta đã hết lòng đề phát: “Độc lập, Tự do Hạnh phúc.”
Không hiểu lãnh đạo nhà nước sáng mắt hơn nghệ sĩ Văn Vỹ không chứ: Cái quang cảnh đời sống của dân càng khó khăn, dân càng nhậu mút mùa lệ thủy không phải là dấu hiệu tốt đánh dấu sự thăng tiến của “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” đâu! Dân phải uống rượu nhiều để giải sầu, để cố quên đi cái thực tế quá cay đắng mà họ không thay đổi được! Nước xã hội chủ nghĩa anh em vĩ đại Liên sô trước đây cũng có tỉ lệ dân đen nghiện rượu (volka) cao nhất thế giới vì cùng một lý do; không phải vì họ sống đầy đủ, ấm no hay “tự do hạnh phúc!”
Lãnh đạo cao cấp nhà nước đang bận tham nhũng vơ vét; đang bận củng cố địa vị ăn trên ngồi trốc, tất tật tận dụng đời bố củng cố đời con, cha truyền con nối; và quá bận tâm đến việc ngăn chặn các cao trào của nhân dân đòi quyền dân chủ (còn có nhiều nhóm phản động đòi xin tí huyết của lãnh đạo đảng…) Cán bộ cấp địa phương một mặt thì thì bận sách nhiễu dân chúng, một mặt chu đáo tiếp đón các phái đoàn từ trên xuống… Ngoài ra, không hề thấy có một biện pháp hay phương án nào để cảnh giác, để làm giảm thiểu hay giáo dục tệ nạn ăn nhậu tới bến mút chỉ này? Mặt khác, các báo in, điện báo (“internet”), phim ảnh còn thi đua nhau giới thiệu, quảng cáo các món ăn chơi và nhậu nhẹt, rủ rê bợm nhậu gia nhập các hội nhóm (clubs) nhậu… Trên toàn quốc, các nhà máy bia, nhà nấu cất rượu “chính qui” cũng như “chui” mọc lên như nấm. “Cầu” nhiều thì tất nhiên phải có “cung.” Sản xuất không đủ thì cứ việc nhập cảng thêm rượu bia từ nước ngoài vào cho đủ. Uống rượu không đủ nồng độ (vì thường có nhiều rượu giả!) thì cứ cho thêm thuốc rầy, cồn sống… vào để uống cho ói ra mật xanh, cho “tím cả chiều hoang biền biệt…” mới đã.
Tóm lại, “Cách mạng vô sản vô địch” và tiếp theo là “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” chỉ ban phát cho dân một thứ tự do duy nhất thật quí báu và ý nghĩa. Đó là “tự do ăn nhậu” (không cần biết là tiền lấy ra từ đâu để nhậu?)… Tương lai và hy vọng thì mù mịt, nhưng rượu lúc nào cũng có sẵn và đầy đủ: Rượu đế ngâm sâm nhung, tắc kè, bìm bịp, rắn hổ, rắn ngũ xà, rắn cửu xà, bao tử nhím, hải mã… tha hồ uống cho bổ dương, bổ thận, bổ… nhào!
Tái bút:
“Đừng bao giờ mong uống rượu để nhận chìm nỗi buồn; bởi vì buồn biết bơi” (People who drink to drown their sorrow should be told that sorrow knows how to swim – Ann Landers)
Trần Văn Giang
09/04/2009





Những Bài Trước:
————————————————————————


 

 


Published on Fridays - Tuần Báo Việt Ngữ phát hành mỗi thứ Sáu
Postal Address: P.O. BOX 276 Kilkenny, South Australia. 5009
Telephone: +614 8347 7586 - Fax: +618 8347 0727