Cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa và chiếc cầu ở Đông Hà
Richard Botkin
Giang chuyển ngữ
Vào giữa trưa ngày 30 tháng Ba, 1972, Bắc Quân bất ngờ phóng ra cuộc tấn công lớn nhất trong cuộc chiến Việt Nam. Lớn hơn cả về tầm vóc và mức độ của cuộc tổng công kích Mậu Thân, lần nầy Bắc Quân gần như đánh một trận đánh qui ước. Với viện trợ rộng rãi và vô giới hạn về đạn pháo, xe tăng Liên Xô và các vũ khí phòng không mới nhất, Bắc quân đã đạt nhiều thắng lợi. Bộ tổng tham mưu Nam Việt Nam và các cố vấn Mỹ ở mãi tận Sàigòn đã không được tin nổi các báo cáo về sức mạnh và những thắng lợi của Bắc quân trong những ngày đầu tiên.
Ba ngày rưỡi đầu tiên của cái mà về sau được gọi là cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 hầu như chỉ tòan là tháo lui. Yếu tố bất ngờ của lực lượng chiến đấu qui ước của Bắc Quân đã gây tổn thất nặng cho lực lượng bạn. Những trận pháo không phân biệt mục tiêu, dữ dội như những trận pháo mà các các chiến binh kỳ cựu từng trải qua, đã gây thiệt hại cho từng đoàn nông dân, giờ đã trở thành dân di tản ở tỉnh Quảng Trị. Thời tiết xấu và tầm nhìn bị giảm đã hoá giải lợi thế về không lực của miền Nam. Thật không ngờ tình hình có thể xấu đi trong một khoảng thời gian ngắn đến thế.
Ngay từ đầu thị trấn Đông Hà rõ ràng đã là một mục tiêu chiến lược của Bắc Quân. Biết được rằng chiếc cầu duy nhất ngang qua Cam Lộ - sông Cửa Việt, với khả năng chịu được sức nặng của xe tăng T-54, có thể được dùng với hiệu quả khổng lồ, quân địch cần chiếm được chiếc cầu này còn nguyên vẹn. Kiểm soát được chiếc cầu này sẽ mở được cánh cửa phía Nam cho các lợi thế về sau. Ít nhất, nếu chiếm được Đông Hà thì chắc chắn sẽ chiếm được các tỉnh phía Bắc.
Đơn vị đồng minh duy nhất gần vùng bão tố đang vần vũ ở Đông Hà là Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Như định mệnh đã an bài, Đại Úy John Ripley người cố vấn của đơn vị, ngày hôm ấy chuẩn bị bước vào đấu trường.
Cho đến năm 1971, John Ripley đã thực hiện hầu như tất cả những gì mà một đại úy có thể hoàn thành để xứng đáng với cương vị của mình. Sau khi đã phục vụ thành công ở Việt Nam trong cương vị một cấp chỉ huy đại đội vào năm 1967, trong khoảng thời gian này Ripley bị thương và được tưởng thưởng huân chương, sau đó ông lần lượt phục vụ với lực lượng thám sát của Thủy Quân Lục Chiến và là sĩ quan trao đổi trong lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến của Hoàng Gia Anh (những chức vụ trong Thủy Quân Lục Chiến của Hoàng Gia được tuyển chọn vô cùng khó khăn, và thường chỉ có các sĩ quan có nhiều triển vọng mới đạt được). Có một gia đình hạnh phúc và là bố của ba đứa con thơ, Ripley không cần phải trở lại Việt Nam. Thế mà ông đã trở lại.
Sự dữ dội của cuộc tấn công của Bắc Quân đã gây ra đủ thứ vấn đề về chỉ huy và kiểm soát của đồng minh. Vì tình hình vô cùng khẩn cấp, Trung Tá Gerry Turley, người vừa đặt chân đến để phục vụ với chức vụ cố vấn trưởng của vùng phía Bắc, được lệnh chỉ huy tạm lực lượng tiền phương của sư đoàn 3 bộ binh. Ý thức được việc phá hủy cây cầu là một điều cần thiết, mặc dù thượng cấp ở bộ chỉ huy (vì không nhận ra được tình hình đang tan rã về mặt chiến thuật) đã ra lệnh cho ông không được làm việc này, Turley vẫn ra lệnh. Ông biết chắc rằng ông đang đưa Đại Úy Ripley vào cõi chết.
Với hỏa lực bảo vệ của Tiểu Đoàn Ba Thủy Quân Lục Chiến và sự hỗ trợ của Thiếu Tá Bộ Binh John Smock, Đại Úy Ripley hoàn thành được điều coi như không thể thực hiện được: Ông xông tới và giựt xập chiếc cầu.
Không thể dùng một hình ảnh tương tự nào về thể thao để so sánh với việc Ripley làm. Không giống như chạy 1 mile (1.6 km) chỉ có 3 phút, hay là cử được quả tạ 700 lb (317.5 kg) hay là lật ngược tình thế dành được chiến thắng giải vô địch Super Bowl. Không có đám đông ngưỡng mộ. Điều Ripley làm đơn giản là điều không thể thực hiện được. Giả sử như ông thất bại trong khi cố gắng làm việc ấy, nhiều lắm các đồng đội của ông chỉ nghĩ về ông như là một người mã thượng và can đảm.

*Đại úy John Ripley và "Ripley Raider" trung sĩ Chuck Goggin, Cà Lũ, 1967. Nguồn: wnd.com
Giá trị của việc phá hủy đúng lúc chiếc cầu ở Đông Hà không nói sao cho hết - cả về tinh thần anh dũng của cá nhân Ripley và ảnh hưởng của nó đối với toàn bộ cuộc tấn công của cộng sản. Đối với những người thích suy tưởng về những hòan cảnh lịch sử khác nhau, họ có thể lý luận một cách dễ dàng rằng nếu như Bắc Quân chiếm được chiếc cầu và thị trấn vào lúc ấy, cái đoạn kết kém may mắn của Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30 tháng Tư, 1975 có thể đã đến sớm hơn.
Được xây dựng bởi lực lượng công binh Seebees của Hải Quân Hoa Kỳ vào năm 1967, chiếc cầu dài 200 mét, bằng bê tông cốt thép. Sự phá hủy chiếc cầu nầy đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo, thông minh và gan dạ. Mà gan dạ là chính. Ripley cần phải có cả ba để có thể gài 500 lb (227 kg) chất nổ vào gầm cầu.
Phải mất hơn một chục lần di chuyển qua lại giữa bờ sông phía Nam và gầm cầu, mỗi lần ông mang khoảng 40 lb (10 kg) chất nổ, đánh đu dưới gầm cầu, chuyền bằng tay đến những nhịp cầu và những đà ngang khác nhau, phơi mình cho hỏa lực của đối phương từ bờ sông phía Bắc. Công việc đạt chất nổ và gài dây nổ mất hơn hai tiếng đồng hồ. Khi việc gài chất nổ đã xong, không kèn không trống, Smock và Ripley cho nổ tung chiếc cầu.
Kỳ công của Ripley ngày hôm ấy vẫn còn tiếp tục làm say mê lòng người. Đây không phải là hành động của một người bình thường. Sự can đảm của ông không phải là một phản ứng liều lĩnh hay là cú đấm trả đũa sau khi bị ăn đấm của kẻ thù. Hành động của ông trong cái khung thời gian ba tiếng ấy - trong khi thế giới đang sụp đổ chung quanh ông - là có ý thức, có chủ tâm, có chủ định trước. Toàn bộ tinh thần và thể xác của ông được tập trung cho việc hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ cần thiếu đi một chút là ông đã thất bại. Ngay cả trước khi bắt đầu ông đã mệt mỏi lắm, đến khi hoàn thành xong nhiệm vụ ông ở trong trạng thái không phải là trống rỗng, mà còn hơn thế nữa.
Nhờ sự phá hủy chiếc cầu, cuộc tấn công của cộng sản bị khựng lại, nhưng giao tranh vẫn tiếp diễn. Luôn luôn được giao cho những nhiệm vụ khó khăn, Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến - còn có biệt danh là Sói Biển - là một đơn vị được truyền tụng nhiều trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Trong khi hành động của Ripley vào ngày Chủ nhật năm 1972 đã biến ông thành huyền thoại giữa các cố vấn và các quân nhân chuyên nghiệp cùng thời, ít nhất cũng có một nhân vật ngang ngửa với ông, người chỉ huy của Sói Biển.
Thiếu Tá Lê Bá Bình là “Thủy Quân Lục Chiến của Thuỷ Quân Lục Chiến”. Trong 18 năm lịch sử của binh chủng, ông đối với binh chủng Thủy Quân Lục Chiến giống như Chesty Puller, Dan Daly và Pappy Boyington cộng lại trong lịch sử 196 năm của Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Trạc tuổi với người bạn thân tín John Ripley, Bình đã từng thụ huấn tại The Basic School ở Quantico (Virginia) nơi mà tất cả các thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được huấn luyện quân sự. Bị thương hàng chục lần, ông đã được trao thưởng huân chương 7 lần trước khi xảy ra cuộc tấn công mùa hè đỏ lửa.
Bình là một cấp chỉ huy quân sự chuyên nghiệp. Luôn luôn ở phía trước khi giao tranh đang ác liệt nhất, ông được các binh sĩ kính trọng và ông sẵn sàng chấp nhận gian khổ để đánh bại những người cộng sản mà ông căm ghét. Với thế giới quanh ông và các binh sĩ của ông đang sụp đổ và khả năng chiến đấu kém cỏi của nhiều đơn vị Việt Nam Cộng Hòa của vùng 1, ông vẫn giữ ý định tuân theo mệnh lệnh mà ông đã nhận được - giữ vững vị trí bằng mọi giá.
Các trận đánh bên trong và chung quanh trị trấn Đông Hà chỉ là một phần của cuộc tấn công rộng lớn của cộng sản. Trong khi nhiều đơn vị của quân đội Việt Nam Cộng Hoà lúc đầu sụp đổ trước áp lực của Bắc Quân, những tiểu đoàn của lực lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Việt Nam, cùng với các cố vấn, đã chiến đấu kiên cường và bất đắc dĩ mới chịu lui quân.
Đối diện với cả sư đoàn gồm 20,000 quân và khoảng 200 xe tăng, hơn 700 người của Tiểu Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến đã giữ được Đông Hà trong bốn ngày, cho đến khi họ hoàn toàn bị vây kín và buộc phải chiến đấu để mở đường rút lui ra khỏi khu vực. Gần một tháng sau, khi những người lính còn sống sót đứng nghiêm để nghe diễn từ của cấp chỉ huy tại bộ chỉ huy vùng ở Huế, Thiếu Tá Bình chỉ đọc lên được tên của 52 người sống sót. Hai đại đội bắn bảo vệ cho Ripley khi ông và Đại Úy Smock phá hủy chiếc cầu, rồi ở lại cố thủ, chiến đấu với xe tăng và bộ đội của Bắc Quân, đã bị xóa tên cho đến người lính cuối cùng.
Cuộc tấn công mùa hè đỏ lửa chấm dứt với sự thất bại của Bắc Quân, một phần không nhỏ nhờ vào những nỗ lực của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam và các cố vấn trung kiên của họ. Bất hạnh thay, gần ba năm sau sự tự do ở vùng Đông Nam Á bị kết liễu. Trong lúc đó các cố vấn Gerry Turley, John Ripley, George Philip và các người khác nữa trở về nhà, hội nhập trở lại binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và xã hội Hoa Kỳ.
Không có chuyện trở về nhà - không có chuyện hết hạn luân phiên phục vụ - cho những người như Thiếu Tá Bình và các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến của ông. Họ chiến đấu với cộng sản cho đến ngày 30 tháng Tư, 1975. Lê Bá Bình không được may mắn như một số ít người tìm được một chỗ trên những chiếc trực thăng bốc người vào những ngày cuối tháng Tư. Bị bắt, ông bị tống giam vào các trại “cải tạo.”
Trong một khoảng thời gian dài hơn sáu lần thời gian Mỹ tham dự Thế Chiến II, Bình lao động khổ sai trong các trại. Trong suốt nhiệm kỳ của năm tổng thống Mỹ, Bình lao động khổ sai. Khi thị trường chứng khoán nhảy vọt năm 1982, Bình lao động khổ sai. Trong khi đa số những người từng phục vụ ở Việt Nam sống tiếp đời mình và hướng tới tương lai, Bình vẫn kẹt lại trong những khu rừng tre tù ngục. Rồi thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1987, vụ Thiên An Môn, sự xụp đổ của Liên Bang Sô Viết, cuộc chiến vùng Vịnh, qua biết bao những thăng trầm của thế sự, Bình vẫn cứ lao động khổ sai. Luôn luôn ngạo nghễ, không bao giờ khuất phục. Những chủ nhân ông của đám nô lệ chỉ hoài công.
Niềm Vui
Bất cứ khi nào tôi ở bên cạnh những người lính Thuỷ Quân Lục Chiến, dù là những người bạn thâm giao hay là những người bạn mới quen, những lúc ấy tôi cảm thấy một cảm giác dễ chịu và hạnh phúc rất lạ lùng. Tôi không thể nào diễn tả thành lời được. Nó khác hẳn với những khoái cảm khi được làm cha, và hơn cả những sự thích thú và sự vui sướng hồn nhiên khi tôi hồi tưởng thuở còn là một đứa bé đang chờ mong ông già Noel đến cho quà. Tôi sẽ chỉ biết gọi tên tình cảm này là vui sướng. Khi tôi kề cận các anh em Thủy Quân Lục Chiến, tôi thấy vui... vui sướng... hân hoan. Chỉ đơn giản có thể thôi. Tất cả chỉ đơn giản có thế thôi.
*Thiếu tá Lê Bá Bình ở Quảng Trị trước khi bị thương lần thứ 9 (1972). Nguồn: wnd.com
Trong ba ngày tôi được kề cận, đắm mình trong ánh hào quang của hàng tá những anh hùng mà tên tuổi và công trận của họ hàng triệu người Mỹ và Việt Nam sẽ không bao giờ biết đến. Những cố vấn trẻ nhất giờ đây cũng gần 60. Đa số thì già hơn, và ngoài trừ những sợi tóc bạc, tất cả vẫn còn phong độ, dáng vẫn hiên ngang, lửa vẫn còn trong mắt. Những điều đó cho thấy họ vẫn còn là - và chỉ là - Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Những nhân viên tuyển mộ cho lực lượng đã bỏ quên một lợi khí quảng cáo lớn nhất, mà hiệu quả của nó không thể lường hết được. Cứ mỗi lần tôi gặp các bạn TQLC, những điều hiển nhiên ấy lại tràn ngập lòng tôi. Đó là cái đám TQLC cùng với những người vợ, và nhờ những người vợ, trông rất thành công. Các hàng huy chương của các cố vấn vẫn không gây ấn tượng bằng các bà vợ, những người đã giữ gìn tất cả. Đây không những chỉ là những người đàn bà đẹp. Họ quả là những người đàn bà đẹp. Nhưng đây còn là những người đàn bà mà nghị lực, can đảm và nhiệt tình có khi còn hơn cả những ông chồng của họ. Đây là những người vợ có cá tính, tin tưởng vào chồng, và chính nghĩa mà chồng họ đã phục vụ, trong khi rất ít những bà vợ khác giữ được niềm tin như vậy. Quả là một tập thể đáng để gần gũi. Rồi còn những con người Việt Nam nữa chứ.
Tôi không nghĩ rằng tôi là kẻ duy nhất nhìn lịch sử qua cái nhìn duy ngã của “kinh nghiệm của nước Mỹ” - Kinh nghiệm của Mỹ trong đệ nhị Thế Chiến, kinh nghiệm của Mỹ ở Đại Hàn, Việt Nam, chiến tranh Lạnh... hoặc bất cứ nơi nào khác. Hiếm khi nào tôi nghĩ đến đồng minh, nhất là đồng minh từ một đất nước và chính quyền đã không còn chính thức tồn tại. Thế mà họ đang có mặt ở đây với chúng tôi, hay chúng tôi đang có mặt cùng họ cũng thế. Tất cả những người lính TQLC Việt Nam, vợ con họ, đều có vẻ hãnh diện, sung túc và thành đạt. Cũng như các cố vấn anh em, những người lính TQLC Việt Nam, với bộ quân phục rằn ri, trong vẫn oai hùng, vẫn còn toát ra vẻ nhiệt tình, sẵn sàng vì nhiệm vụ.
Khi tôi được cho biết về những gì mà những gia đình này - nay đã là công dân Hoa Kỳ- phải trải qua để đặt chân đến nơi đây, những bài nói chuyện của họ, những lời kể lại của họ về tình đồng đội, sự dũng cảm và hy sinh, bằng tiếng Anh hoàn hảo hơn cái tiếng Việt của tôi nhiều, bỗng dưng trĩu nặng những ý nghĩa.
Trong toàn thể dân số của Hoa Kỳ, nhiều lắm chỉ có chừng một triệu người đã từng chiến đấu, xáp lá cà, bằng lưỡi lê, không lùi bước để bảo vệ tự do. Trong toàn thể những người sinh trưởng nơi đây, ngoại trừ những người bị bắt làm tù binh, không một người nào bị tước mất tự do của mình. Ngay cả giữa những chiến binh của chúng ta, đa số chưa từng bị nguy hiểm tới bản thân để bảo vệ tổ quốc. Với người Mỹ tự do là chuyện đương nhiên.
Tôi tự hỏi không hiểu tự do ngọt ngào như thế nào, không hiểu một người đến từ Hungary vào năm 1957, Cuba vào năm 1962, Đông Âu và Đông Nam Á sau năm 1975 yêu quý đất nước này như thế nào và hiểu như thế nào về những phước lành mà chúng ta đang thụ hưởng. Lê Bá Bình hiểu.
Sống lại với nhau những giây phút chỉ có hai người, Ripley và Bình dạo bước trong sảnh đường trống rỗng của The Basic School nơi họ có những kỷ niệm chung dù từ những thời gian khác nhau. Bao bạn bè đã ra đi. Biết bao là hy sinh. Thân thiết còn hơn là anh em, họ không cần phải giao tiếp bằng lời. Xưng hô với nhau vẫn như thời 1972, không phải vì kỷ cương quân cách nhưng phát xuất từ lòng quý mến và kính trọng, đối với Ripley thì Bình bao giờ cũng vẫn là “Thiếu Tá.”
Bình, người đã hoàn thành quá nhiều, đã từng nhìn thấy quá nhiều, đã từng trải qua tất cả những cảnh đời, là một người ít nói. John Ripley đã không thể diễn tả hết những câu trao đổi ngắn gọn sau cùng, mà không phải ngừng lại để dằn nỗi xúc động. Dừng bước để quay lại nhìn quang cảnh một lần cuối trước khi từ giã, Bình bày tỏ với người cố vấn của mình: "Ripp-lee. Tôi hạnh phúc."
“Quả là tuyệt, Thiếu Tá. Tôi cũng sung sướng nữa”
“Không, không, không phải vậy, Ripp-lee” - như thế muốn nói với Ripley rằng ông vẫn chưa hiểu gì cả. Vỗ vỗ lên ngực mình, Bình tiếp tục. “Tôi hạnh phúc... ở tận đây. Tôi hãnh diện.”
Lê Bá Bình, chúng tôi hân hạnh ông có mặt nơi này. Mừng ông đã về nhà, Thiếu Tá. Mừng ông đã về nhà.
http://www.dcvonlin e.net/php/ modules.php? name=News&file=article&sid=6575
Nguồn:
(1) The Easter Offensive and the bridge at Dong Ha. World Net Daily, 12 August 2003
(2) "Mùa Hẻ Đỏ Lửa" là tựa đề một cuốn sách của nhà văn Phan Nhật Nam, nói về cuộc tấn công của quân đội chính quy Bắc Việt vào địa đầu giới tuyến của miền Nam năm 1972.
(3) Chức vụ cuối cùng của ông Lê Bá Bình là Trung tá binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
"Robert Lửa" Nguyễn Xuân Phúc
Trần Ngọc Toàn K16
Với mục tiêu tái lập an ninh lãnh thổ, những lực lượng xung kích của Miền Nam Việt Nam đã mở chiến dịch tràn qua địa phận Cao Miên, nằm sát ngã ba biên giới Việt-Miên-Lào, năm 1970, dưới quyền Tư-lệnh Hành-quân là Trung-tướng Đỗ Cao Trí, đương nhiệm Tư-lệnh Quân-đoàn 3. Tiểu-đoàn 2 Trâu Điên (TQLC) dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tá Nguyễn Xuân Phúc, đã tung hoành ngang dọc trên lãnh thổ Miên suốt từ Neak Luong đến Prey Veng. Đơn vị đã tiêu diệt hàng trăm quân Việt-cộng đang trấn giữ vùng đất an toàn của chúng, tịch thu hàng trăm vũ khí nặng nhẹ và góp công phá hủy toàn bộ hậu-cần của địch trên địa giới của nước Cao Miên trung-lập thiên cộng dưới thời của vua Sihanouk. Đây cũng chính là một trạm tiếp-vận của Hà-nội với cảng Sihanouk ở vịnh Thái Lan và đường mòn Hồ Chí Minh nằm phía Tây rặng núi Trường Sơn, dọc biên giới Lào-Việt. Từ mặt trận Kumpuchia trở về, chỉ một thời gian ngắn sau, Tiểu-đoàn 2 TQLC cùng với toàn bộ Sư-đoàn được không vận ra vùng địa đầu giới tuyến tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719, năm 1971, bên kia biên giới Việt-Lào, với trục quốc lộ 9 từ Quảng Trị đâm thẳng sang Tchépone của đất Lào. Chiến dịch nhằm phá vỡ hậu-cần của địch và đường chuyển quân từ Miền Bắc vào Nam Việt Nam với đường ống dẫn dầu từ Trung Cộng tiếp tế cho đại pháo và chiến xa viện trợ của Nga Sô.

Ngoài sự bất lực của Tướng Tư-lệnh chiến trường cùng các bộ tham mưu các đại đơn vị tham chiến lần đầu tiên mở một cuộc hành quân cấp quân-đoàn, việc thống nhất chỉ huy cũng vô hiệu lực từ việc Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư-lệnh Quân-đoàn I, không đủ tư cách chỉ huy Tướng Lê Nguyên Khang của Sư-đoàn TQLC và Tướng Dư Quốc Đống của Sư-đoàn Nhảy Dù, đã đưa đến hậu quả tai hại gây tổn thất lớn cho quân đội trên đường rút quân trở về lãnh thổ sau khi đã phá vỡ toàn bộ hệ thống quân cụ, binh lính của Cộng-sản miền Bắc Việt Nam tại trạm tiếp-vận lớn này.
Tại Huế, trong cuộc diễn binh tưởng thưởng công lao các đơn vị tham chiến cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Lào, Thiếu-tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn 2 TQLC đã được đặc cách thăng cấp Trung-tá tại mặt trận. Nhưng từ đây, vị trung-tá mới 28 tuổi đã từng lăn lộn trên khắp chiến trường nóng bỏng, từ Đầm Dơi, Cà Mau ra đến Đông Hà, Quảng Trị, vào sinh ra tử với hai lần chiến thương trên người, đã trở nên ưu tư và bừng bừng nộ khí xung thiên. Anh là biểu tượng của lớp thanh niên yêu nước của thế hệ trẻ đầu tiên trên mảnh đất của quốc gia Việt Nam lần đầu dành được độc lập, tự do và dân chủ, sau cả trăm năm thuộc địa Pháp được giáo dục bằng chương trình học tiếng Việt. Ngay chính trong cuộc hành quân qua Lào, trên đỉnh cao điểm 450, phía Nam quốc lộ 9, bên kia thung lũng nổi tiếng Khe Sanh, là lực lượng đoạn hậu cho cuộc rút quân của Lữ-đoàn 258 TQLC, anh đã gào trên hệ thống máy liên lạc vô tuyến với không lực của hạm đội Hoa Kỳ: "I am Crazy Buffalo batalion commander. Go ahead! Drop your bombs...!"
Với chiến thuật biển người, Sư-đoàn 324 cộng-sản Bắc Việt đã xua quân tràn ngập lên cao điểm căn cứ hỏa lực yểm trợ hành quân, trong đêm tối, do Tiểu-đoàn Trâu Điên chống giữ tập hậu. "Robert Lửa" Nguyễn Xuân Phúc đã đích thân gọi vô tuyến cho máy bay dội bom xuống ngay trên đầu mình để tiêu diệt cộng quân bu quanh đông như kiến cỏ. Với ám hiệu một tay áo bỏ dài và một tay áo xăn cao, anh đã cùng cả tiểu-đoàn với hơn 750 quân sĩ mở đường máu, cận chiến với địch, trong bom đạn loé nổ không ngừng, rút quân về lại Khe Sanh trong đường tơ kẽ tóc, với cả ngàn quân thù bám sát như bầy thú dữ.

Anh đã trở về, không suy suyển nhưng đau lòng nhìn lại đoàn quân với bao nhiêu đàn em mất mát, ngã gục ở chiến trường. Từ đó, anh nuôi ý chí phải chấn chỉnh lại quân đội, từ dưới lên trên, để từ rày về sau, chỉ có thắng chứ nhất quyết không thể để thua nữa. Anh đã hãnh diện vỗ ngực nói: "Một thằng tiểu-đoàn-trưởng Việt-cộng làm sao giỏi bằng tao được. Một tiểu-đoàn VC làm sao đánh lại tiểu-đoàn Trâu Điên của tao. Mẹ bố chúng nó chỉ có chết thôi."
"Robert Lửa" đầu đàn Trâu Điên không bao giờ thua, dù Cộng-sản có treo giá sinh mạng của anh hàng triệu bạc. Anh chỉ hy sinh ngoài mặt trận, với đồng đội, anh em và chiến hữu, cho dân tộc và tổ-quốc.
Nguyễn Xuân Phúc sinh năm 1938 tại Phú Thọ, Hưng Yên, trong một gia đình vọng tộc danh thế, với nhiều anh chị em mà trong ấy có một người em trai đã cùng nhau tình nguyện vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt. Thân sinh là một kỹ sư tốt nghiệp từ Pháp về. Những năm hai anh em Phúc thụ huấn ở Trường Võ Bị, ông cụ là Giám-đốc Nha Địa-dư Quốc-gia tại Đà Lạt. Theo gia đình từ Bắc di cư lánh nạn Cộng-sản vào Nam năm 1954, Phúc theo học ở trung học Chu Văn An rồi lên Đại-học Khoa-học Sai-gòn. Sau ngày lấy chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa), anh đã tình nguyện nhập học khóa 16 của Trường Võ Bị Quốc Gia, lúc ấy vừa cải tổ theo chương trình 4 năm đại học theo mẫu Trường West Point của Hoa Kỳ, dưới thời Tổng-thống Ngô Đình Diệm. Từ sau năm thứ nhất, anh đã nổi lên với thành tích cao cả về văn-hóa lẫn quân-sự và đảm nhiệm chức vụ Sinh-viên Sĩ-quan Cán-bộ Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn Sinh-viên Sĩ-quan.
Vốn tính vui nhộn và cởi mở, anh tham gia vào các hoạt động của tuổi trẻ và vui vẻ đứng ra tổ chức trình diễn vũ điệu "Trấn Thủ Lưu Đồn" rất sống động khiến các bạn cùng khóa khó ai quên. Với óc khôi hài và vui tính, chính anh sau này khi hành quân dài ngày trên các mặt trận, đã tự sáng tác ra những bài hát theo điệu dân ca khiến bạn bè, đàn em, lính tráng ai nghe cũng cười đến chảy nước mắt. Sau năm 72, chiến thắng tái chiếm cổ thành Quảng Trị đã nảy sinh ra khúc ca "Cờ Bay" cũng được anh chuyển ngữ sang Anh ngữ để cười đùa với mấy người bạn chiến đấu Hoa Kỳ, như "Flag flies" cho "Cờ bay"... Mấy cố vấn Mỹ sau này lên tướng ở Hoa Kỳ vẫn vui vẻ nhắc nhở lại như một kỷ niệm khó quên. Từ những năm học tập trong trường Võ Bị, cuối năm 1959, với khí thể của một thế hệ thanh niên độc lập, tự do mới, Phúc tốt nghiệp Á-khoa khóa 16, rồi cùng 9 bạn đồng khóa tình nguyện về phục vụ trong binh chủng TQLC. Khác với trước đây, những sĩ quan tốt nghiệp hạng cao đã chọn về phục vụ ở các văn phòng tham mưu hoặc đơn vị yểm trợ, tiếp vận... Từ đó, không lúc nào, trong suốt hơn 10 năm chinh chiến, anh rời khỏi binh chủng chiến đấu dù hai lần bị thương ngoài mặt trận. Đầu năm 63, khi cùng 9 người bạn về trình diện tại Bộ-tư-lệnh TQLC, anh đã được bổ nhiệm về làm trung-đội-trưởng ở tiểu-đoàn 2 TQLC, theo thứ tự A,B,C của tên họ những tân sĩ quan của khóa, do quyết định của phòng nhân viên. Mở đầu cho binh nghiệp lẫy lừng về sau của Phúc là chiến thắng Đầm Dơi của tiểu-đoàn 2 TQLC với những vũ khí nặng tịch thu như đại bác 75 ly được cộng sản chuyển vận tiếp tế từ Hà-nội vào nam bằng đường biển.
Đầu năm 65, khi làm đại-đội-trưởng anh đã cùng đơn vị dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tá Lê Hằng Minh, đã đánh tan tiểu đoàn cơ động của Việt-cộng ở Tam Quan, Bồng Sơn. Cuộc giáp chiến nửa đêm ác liệt và dữ dội đã khiến cho kẻ thù đã gọi đơn vị của anh là "trâu điên". Từ đó, Tiểu-đoàn 2 TQLC đã nổi danh với danh xưng Trâu Điên. Cuối năm 65, khi chuyển quân từ Huế ra tăng cường cho mặt trận Quảng Trị, là đại đội trưởng anh đã cùng cả tiểu đoàn Trâu Điên đã đánh một cuộc phản phục kích tuyệt vời hiếm có trong quân sử, cùng với lực lượng cơ động của TQLC Hoa Kỳ trú đóng gần đó, đã tiêu diệt cả trung đoàn Việt-cộng địa phương, dù Thiếu-tá Lê Hằng Minh tiểu-đoàn-trưởng đã xả thân đền nợ nước. Chính Phúc cũng bị trúng đạn xuyên qua ngực phải và chỉ chịu tản thương sau khi quân ta đã làm chủ chiến trường.
Năm 68, từ mặt trận Miền Tây, Phúc đã cùng tiểu-đoàn Trâu Điên được trực thăng vận về giải tỏa cứu nguy Bộ Tổng Tham Mưu, rồi đánh đuổi địch quân ra tận Thành Cổ Loa, Gò Vấp, và chuyển quân sang tiêu diệt Cộng quân xâm nhập vào Chợ Lớn từ đường Hậu Giang đuổi ra Bà Hom, Bình Chánh.
Từ cấp bậc trung-úy lên đến trung-tá, anh đều được đặc cách thăng cấp ngoài mặt trận. Ngoài 16 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu tích lũy từ các công trận lập nên từ hàng trung đội trưởng lên đến lữ đoàn trưởng, vào năm 74, anh còn được ân thưởng 2 Chiến Thương Bội Tinh và Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Về phía Hoa Kỳ, anh còn được tặng thưởng một Silver Star và hai Bronze Star với huy hiệu chữ "V" dành cho chiến công lập ngoài mặt trận. Anh vẫn thường chỉ ngón tay lên tấm chiến thương bội tinh với hai ngôi sao đỏ mang trên ngực áo, nói đùa: "Chỉ có cái này là không thằng nào dám làm lèo. Còn lại tụi nó mang lèo nhiều quá nên tao không thèm đeo những huy chương khác nữa."
Phúc tuy là người học giỏi với trình độ đại học khoa học, nhất là môn toán, nhưng lại là người chí tình chí cốt với bạn bè, đồng đội và đàn em. Lúc nào cũng chỉ mày với tao, nhưng khi anh đổi giọng xưng hô có nghĩa là tình bạn, anh em đã chấm dứt. Anh không bao giờ nịnh bợ cấp trên, chà đạp đổ lỗi cho cấp dưới. Luôn hết lòng nâng đỡ dẫn dắt đàn em. Vốn tính trung trực, bình dị và liêm khiết, suốt bao năm chỉ huy đơn vị vốn tự trị về tài chánh và tiếp liệu, anh không có gì ngoài thân với mấy bộ chiến phục rằn ri xếp trong hòm gỗ làm bằng thùng vỏ đựng đạn pháo-binh phế thải cho đến ngày cuối đời. Là một người lính chiến kiệt xuất uy dũng nhưng cũng đầy mưu lược và giỏi phán đoán, nhạy bén với mọi tình huống ngoài chiến trường, anh đã tạo lập nên nhiều chiến công hiển hách được ghi vào quân sử Miền Nam Việt Nam như những chuyện thần kỳ truyền khẩu. Người anh hùng có một không hai này đã một lòng một dạ với quân đội. Từ đó, đã nổi trôi theo dòng sinh mệnh của Tổ-quốc. Lúc đứng đã đứng đầy dũng liệt làm cho quân thù khiếp sợ thất kinh hồn tán, lúc nằm xuống cũng bi hùng hoành tráng như một chiến sĩ da ngựa bọc thây, giữa đồng đội, bạn bè và đàn em thân thiết, giữa cảnh tang thương máu đổ thịt rơi của đồng bào và đất nước quê hương. "Robert Lửa" là hỗn danh do một người khóa đàn em Võ Bị làm phóng sự chiến trường năm 72 đã đặt cho, nay đã gắn liền với tên tuổi của anh. "Robert Lửa" Nguyễn Xuân Phúc sẽ còn sống mãi trong lòng bạn bè, đồng đội, chiến hữu và đồng bào ruột thịt ở Miền Nam.
Trong cuộc di tản chiến thuật, tại Đà Nẵng, sáng ngày 29 tháng 3 năm 75, anh đã cùng Trung-tá Đỗ Hữu Tùng, vừa là Lữ-đoàn-phó và là bạn cùng khóa Võ Bị, lên chiếc trực thăng của Không-quân Việt-Nam tại phi trường Đà Nẵng, trong cảnh hỗn loạn binh biến, dưới đạn pháo 130 ly của Cộng-sản miền Bắc từ đỉnh đèo Hải Vân bắn xuống, đã bị trúng đạn địch rơi xuống tử thương sau khi đã điều động cả lữ-đoàn rút quân an toàn về căn cứ Non Nước với lòng tràn đầy phẫn uất vì lệnh không đánh mà chỉ lui quân. Xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh dày dạn lửa đạn luôn sổng lưng đứng thẳng một mất một còn với quân thù sẽ không bao giờ chịu hèn chịu nhục.
"Thà chết vinh còn hơn sống nhục" (Trần Bình Trọng). Xin hãy thắp lên một nén hương với lời cầu nguyện anh linh của người hào kiệt "hãy dẫn lối đưa đường" cho anh em chúng tôi. Xin tất cả hãy bình tâm để tưởng niệm một vị anh hùng xuất chúng.
Trần Ngọc Toàn K16
Những Bài Trước:
_______________________________________________
|