Mùa hè đỏ lửa II - Người ở lại Charlie
Vĩnh Hiếu
(Lời người viết): Vùng cao nguyên bỗng dưng sôi động, những cánh chim sắt của phi đoàn Thần Tượng bất chợt bị cuốn lốc trong cơn bão của trận chiến bất ngờ. Những ngày hành quân liên tục trên những địa danh xa lạ chưa từng biết đến của vùng rừng núi địa đầu giới tuyến đã gây nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng một người trai thời loạn. Tôi xin ghi lại đây một vài hình ảnh, kỷ niệm của những tháng ngày dài rong ruỗi trên chiến trường đẫm máu, cũng như những phi vụ kinh hoàng mà những người chiến sĩ Không Quân đã âm thầm lặng lẽ ra đi không ai nhắc nhở.
Một chút gì để nhớ đến những cánh chim Thần Tượng gãy cánh trên vòm trời Tây Nguyên: Tr/u Phạm Thành Rinh, Th/u Võ Diện, Trung úy Nguyễn Tường Vân, Tr/u Trần văn Long cùng các mê vô xạ thủ Linh, Thông, Lan, Phiệt...
***
Ngày 12 tháng 4 năm 72
"Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie. Anh! Vâng, chính anh là loài chim quý. Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý. Một lần dậy cánh bay.
Người để cho người nước mắt trên tay..."
Một buổi chiều miền Tây nguyên, một buổi chiều sau một ngày sôi động chiến tranh của "Mùa hè đỏ lửa". Bầu không khí bắt đầu quyện đục sương đêm hòa lẫn khói rừng âm ỉ cháy, phảng phất khen khét đâu đây mùi thuốc súng... Ánh nắng vàng nhạt còn vương vấn trải dài trên những triền núi xa xa...
Hai chiếc trực thăng võ trang của Phi đoàn Thần Tượng trên đường về căn cứ Cù Hanh sau một ngày nhào lộn trên chiến trường nóng bỏng. Trong cockpit Th/u Nguyễn Thanh Hùng im lặng cầm cần lái, đôi mắt đăm chiêu trên khuôn mặt thể hiện một nét mệt mỏi. Ngồi bên cạnh tôi uể oải dựa ngửa đầu vào lưng ghế bay nhìn xuống Quốc lộ 14 chạy lùi dưới chân. Đây là con đường huyết mạch nối liền Kontum và thị trấn Pleiku chạy giữa vùng núi rừng xanh thẳm. Dọc theo hai bên đường được khai quang trống trải để đề phòng những cuộc phục kích của Việt Cộng, những người Thượng lưng đeo chiếc gù đầy củi đang lầm lũi bước nhanh cố tranh thủ với bóng đêm đang chầm chập tới. Một vài người ngẩng đầu lên đưa tay vẫy chào hai con tàu đang lướt qua trên đầu. Phía bên trái ngọn núi Chu Pao đứng sừng sững nhìn xuống QL 14 như một vọng canh chiến lược thiên nhiên, nơi đây sẽ khởi chiến những trận đánh đẫm máu của ta và địch trong những ngày sắp tới để dành chủ quyền kiểm soát con đường huyết mạch này. Xa xa một đoàn xe "công voa" nhà binh mở đèn pha chạy nối đuôi nhau chạy ngược về hướng Kontum. Con đường xa lạ này giờ đây nó đã trở thành một hình ảnh vô cùng quen thuộc với những con chim sắt ngày ngày tung cánh lao đi vào vùng lửa đạn.
Sau phi vụ tiếp tế đẫm máu mở màn tại Tiền đồn Sáu, kế cận phi trường Phượng Hoàng, Tân Cảnh, phi đoàn 215 Thần Tượng đã được lệnh tăng phái lên Pleiku để yểm trợ cho mặt trận vùng cao nguyên. Nguyên phi đội được chỉ định ở trong một trong những barracks của Mỹ để lại trong phi trường cạnh một sân cỏ rộng, ở đó đậu tạm những chiếc trực thăng của biệt đội trong giai đoạn hành quân. Trong linh cảm, tất cả nhân viên phi hành đều biết rằng sẽ phải đối đầu với một trận chiến khốc liệt và có thể kéo dài. Phi trường Cù Hanh càng ngày càng bận rộn theo mức leo thang của chiến cuộc, sự sinh hoạt tại căn cứ mang một màu sắc nghiêm trọng khẩn trương hơn. Đứng trên tầng hai của biệt đội nằm trên một vùng đất khá cao, tôi có thể quan sát mọi sự hoạt động của phi trường vào mỗi buổi sáng sớm. Trên những con đường những chiếc xe pick-up màu xanh chạy vội vã chở đầy phi công; những người lính Không quân hối hả trên những chiếc xe gắn máy phóng đến phần sở cho kịp giờ; những hàng gánh rong bán thức ăn sáng rộn rịp ở những góc đường. Ngoài phi đạo máy bay sắp hàng để chuẩn bị cất cánh lên vùng, những chiếc khu trục thô kệch nặng nề, đeo đầy bom tiếng máy rú lên như con thú dữ, những chiếc máy bay quan sát mảnh mai như con hạc trắng nhẹ nhàng cất cánh lên không trung, mấy chiếc vận tải C-123, C-130 to lớn đậu trên "Tarmac" kế những "hangar" khổng lồ, cửa cargo sau đuôi tàu mở rộng, những kiện hàng nằm ngổn ngang. Tại mấy ụ đậu trực thăng, tiếng quay máy o..o...o... của những động cơ bán phản lực cùng tiếng chém gió "phần phật" của những chiếc tàu đang lơ lững trên "taxiway" càng làm cho không khí thêm sôi động.
Vào những giờ ăn tại câu lạc bộ của Không Đoàn đầy người đủ mọi thành phần của các binh chủng. Hoa tiêu trong những bộ đồ bay tác chiến đủ kiểu, từ bộ đồ nomex hai mảnh của những hoa tiêu trực thăng, đội nón rằn ri như lính Lôi Hổ, đến những phi công khu trục với bộ đồ bay cam, xám hay kaki, cùng những người không phi hành ngồi tụm năm tụm ba trên bàn, trên khuôn mặt mọi người thể hiện lên nét khẩn trương phản ảnh một cuộc chiến đang đi vào giai đoạn quyết liệt.
Từ đầu năm 72 đến trung tuần tháng 3, địch đã đủ thời giờ dàn trận và bố trí ở những mặt trận mà chúng đã chọn, và đến bây giờ là giai đoạn tổng công kích. Quân đội VNCH bị ở trong thế cờ thụ động, dò dẫm nghe ngóng hoạt động của địch. Không lực của Đồng Minh cũng như Việt Nam liên tục ngày đêm oanh tạc những điểm tập trung của địch để tiêu hủy tiềm năng của Cộng Quân trước khi chúng thực sự tổng tấn công. Riêng về hoạt động của các phi đoàn trực thăng đa số là tiếp tế cũng như đổ toán Lôi Hổ để thám sát, dò tìm tin tức sau phòng tuyến của địch. Những phi vụ bay gần vùng biên giới thường đem lại cho phi hành đoàn những cảm giác căng thẳng nếu không nói là lo ngại vì sự hiểm nghèo của nó.
Những phi vụ trong thời gian biệt phái tôi đã trải qua những kinh nghiệm vui buồn khó quên trong cuộc đời bay bổng. Nhớ lại một phi vụ thi hành khi sương mù đang còn lãng đãng trên đầu ngọn cây, hai chiếc gunship trong đội hình tác chiến, hướng về vùng biên giới, bay trên mặt rừng cây trùng điệp, tinh thần tập trung né tránh những bãi cỏ trống hay rừng thưa, bỗng dưng trước mặt một tàng cây đại thụ nổi bật nhô cao lên xuất hiện trước mũi con tàu, loáng thoáng dưới tàng cây rậm năm bảy bóng đen di động làm lung lay cành lá, giật mình tôi kéo ngược bật cần lái né tránh, con tàu bay vút lên cao... Tim đập thình thịch tôi la: "Trời đất... Việt cộng... tụi mày thấy không... mẹ... làm tao giật cả mình...". Người hoa tiêu phụ quay nhìn tôi khuôn mặt lộ vẻ rất ngạc nhiên, buộc miệng: "Việt Cộng ở đâu ông, khỉ đó, một đàn khỉ đu trên cây tôi thấy rõ ràng". Tôi cắt lời: "Bạn nói cái gi? Tao thấy năm bảy đứa bận đồ đen đang rình mà bạn nói là khỉ". Không đồng ý với người hoa tiêu phụ tôi quay ra phía sau hỏi hai anh mê vô xạ thủ: "Tụi mày thấy gì? Tao thấy rõ ràng lố nhố mấy thằng bận áo đen đang đeo trên cành cao. Bố chúng nó! Làm tao hết hồn..." Mấy anh xạ thủ sau nhe miệng cười: "Ông giật cần lái làm tụi tui hết hồn thì đúng hơn, một bầy khỉ đó ông à, tụi này thấy rõ ràng mà". Vì địa thế mặt rừng dày đặc vùng cao nguyên địch thường cho những khinh binh leo lên cây cao hay làm những chòi nhỏ trên đọt cây để quan sát sự di chuyển cũng như những hoạt động của máy bay và đôi lúc chúng cũng dùng súng trường để bắn sẻ vào những chiếc trực thăng bay ở độ thấp. Đến đây thì tôi mới biết rằng mình lầm, hồn vía trở lại.

Trong một chuyến bay thả toán khác, sau khi thi hành xong phi vụ yểm trợ để thả một toán Lôi Hổ kế cạnh con đường mòn Hồ Chí Minh, trên đường trở về, trên mặt vùng rừng già dày đặc thình lình trước mặt mũi con tàu một bãi cỏ xanh rộng hiện ra, ngay góc rừng một khẩu phòng không được ngụy trang bằng những cành lá dây leo, nấp sát bìa cây cao, nòng súng đen ngòm to chỉa thẳng lên trời. Mặc dù đã xông pha trận mạc qua nhiều năm tôi vẫn không làm sao tránh được cái cảm giác bị giật mình làm tim đập mạnh khi gặp một yếu tố bất ngờ. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một khẩu súng cao xạ cỡ lớn trong khoảng cách quá gần. Phản ứng đầu tiên tức thì tôi quẹo gắt phía bên phải để né bãi cỏ trống. Địch và chúng tôi đều bất ngờ đụng độ, hai bên không có thì giờ để phản ứng. Đó cũng là một đều may mắn cho phi hành đoàn. Tôi cho con tàu bay hướng về phía Nam. Hình ảnh khẩu phòng không nằm ở góc rừng như đang ngạo nghễ thách đố... Trước đây không lâu anh Phạm Thành Rinh, một người bạn chí thân của tôi cùng chung phi đội võ trang 215, và hoa tiêu phó Võ Diện đã bị bắn nổ tung trên bầu trời mịt mờ khói lửa của Võ Định, Tân Cảnh. Rinh đã cùng phi hành đoàn thảng thốt ra đi, không kịp nói một lời trên tầng số. Tôi đã mất một người bạn, một nghệ sĩ với cây đàn... Giọng hát ngọt ngào trầm ấm anh thường trình diễn trong những buổi dạ vũ của PD còn văng vẳng bên tai: "Em đến bên tôi một chiều khi nắng qua rồi... Nắng ngừng bên chiếc cầu biên giới... Xa xa tiếng đàn trầm vô tư... Đâu đây dáng huyền bền duyên mơ... Bên cầu biên giới... Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi..."
Anh Rinh đã vĩnh viễn ra đi, thân xác anh đã trở thành cát bụi trên vùng trời biên giới, anh không còn hiện hữu để "lặng nghe dòng đời từ từ trôi...". Anh và tôi chỉ có hai người được chọn về với phi đoàn 215 trong tất cả các bạn cùng khóa. Anh ra đi vì khẩu phòng không oan nghiệt. Hình ảnh đau thương trở lại trong tâm trí, máu huyết trong người tôi sôi sục, tôi muốn quay trở lại ngay để trút lên đầu địch những hận thù chất chứa. Nhìn lại khả năng và vũ khí giới hạn trong tay, trực diện đối đầu với khẩu phòng không này quả là một sự điên rồ. Những sách vở kiến thức học ở trường bay chưa bao giờ dạy chúng tôi những chiến thuật, chiến lược để đối phó với hoàn cảnh này. Trực thăng vận quá mới mẽ đối với chiến tranh Việt Nam. Những hoa tiêu trực thăng của VN chỉ được dạy kỹ thuật bay bỗng, ngoài ra họ phải tự học hỏi lấy qua những kinh nghiệm bản thân để đối phó với mặt trận càng ngày càng leo thang.
Khẩu cao xạ phòng không vẫn đang chờ đợi. Tôi chợt nhớ trong sách lược của Khổng Minh đã có nhiều mưu kế để hạ kẻ thù và một phương thức tôi chợt nghĩ đến là chiến thuật "Dương Đông kích Tây". Nếu tôi cho chiếc gun số hai bay vòng vòng sát đầu ngọn cây phía Bắc của địch, tiếng động cơ ồn ào cùng tiếng chém gió "phành phạch" của chiếc trực thăng sẽ gây sự chú ý của tên xạ thủ phòng không và sẽ quay hướng nòng súng phía Bắc chờ đợi. Bay nhanh sát trên đầu ngọn cây từ hướng Nam lên, tôi sẽ bất ngờ đột kích. Khẩu cao xạ nặng nề sẽ không kịp quay họng súng về hướng Nam để kịp tác xạ. Nếu sự suy luận của tôi đúng, tôi chỉ cần vài ba giây ngắn ngủi đó để hoàn tất sứ mạng,
Tôi liều lĩnh thực hành ý định. Hai chiếc gunships chúng tôi chia tay nhau, chiếc số hai thi hành nhiệm vụ "dương Bắc", tôi ở lại chờ đợi sứ mạng "kích Nam". Không đầy một hai phút sau chiếc gun số hai báo cho biết đã đến vùng. Thời cơ đã điểm, không một giây chậm trễ, tôi lao con tàu về hướng khẩu phòng không. Chiếc tàu cắm đầu chúi mũi lướt vùn vụt trên đầu mặt rừng già gợn sóng nhấp nhô như mặt biển xanh. Chỉ còn cách bãi cỏ một khoảng ngắn, tôi kéo ngược cần lái, con tàu tức khắc ngóc đầu lên cao như con rắn hổ phùng mang trợn má trước khi mổ vào đầu địch. Xoẹt... Xoẹt... Xoẹt... Mười bốn trái rockets vội vã thi nhau rời con tàu lao thẳng tới dàn phòng không ẩn hiện trong đám cây góc rừng. Những tiếng nổ ầm vang dội núi đồi, bụi mù xen lẫn cành lá bay tung tóe khắp nơi. Tai nghe loáng thoáng tiếng cóc cóc đâu đó của những khẩu AK-47, tôi không còn thì giờ để nhìn thành quả, một tay đè mạnh cần cao độ, tay kia bẻ ngoặc cần lái, chiếc trực thăng tức thời nghiêng mình lài xuống về phía bờ cây cao. Trước sự ngỡ ngàng của địch quân con tàu chỉ xuất hiện năm ba giây rồi vụt biến mất dạng trên mặt rừng mênh mông, theo sau chiếc Hổ hai sát nhập lại nối đuôi nhau như hai con rắn độc hạ thủ xong lũi vào bụi cây rậm... Trên đường trở về căn cứ, tôi hình dung một nụ cười mãn nguyện đang nở trên môi của Rinh nơi chín suối...
- Mãnh Hổ, Charlie... Hai bạn ở đang ở đâu, cho biết vị trí. Tiếng nói của Th/T Phạm Bính, phi đoàn trưởng của phi đoàn 215 đột ngột vang trong tần số VHF. Ngạc nhiên khi nghe vị phi đoàn trưởng gọi tôi trong giờ phút này, tôi trả lời:
- Charlie đây Hổ... còn chừng mười phút nữa đáp Pleiku...
- Tôi vừa nhận được tin tức mới nhất, Căn cứ hỏa lực Charlie đang bị tấn công nguy kịch, tình trạng rất nguy ngập, quân bạn đang cần sự yểm trợ của tất cả những phi cơ nào đang có mặt trên vùng. Hai Hổ quay lại vùng Võ Định, hiện tôi đang có mặt tại đây với bộ chỉ huy Dù, hai bạn lúc nào đến cho tôi biết, sẽ có chỉ thị.
Vừa nghe Charlie dứt lời trên tần số Th/u Hùng quay sang nhìn tôi xong buột miệng:
- Trời đất.., trễ quá rồi tới đó là quá tối thấy đường đâu mà đánh. Trước thái độ của Hùng, tôi biết anh đã quá mệt mỏi sau một ngày dài, nhưng không có một sự lựa chọn, tôi trả lời C@C:
- Hổ nghe năm..., quay lại Võ Định. Nói xong tôi ra dấu tay cho Hùng quay đầu con tầu trở lại hướng Bắc, sau lưng chiếc Hổ Hai bám sát. Quay nhìn bên ngoài, bầu trời mập mờ không còn bao lâu nữa thì tối hẳn. Lòng dấy lên một niềm e ngại, chưa bao giờ tôi thực sự tham dự một trận đánh đêm trong vùng rừng núi cao nguyên này cả. Tuy nhiên theo chỉ thị của cấp trên, tôi phải tuân lệnh. Tôi vỗ về người hoa tiêu bạn:
- Ráng tí đi Hùng, có lẽ mình sẽ đánh vài "pass" rồi về thôi.
Trong phi đoàn anh hoa tiêu phụ của tôi có biệt danh là "Hùng kiềng", chân anh hơi cong cong, anh có tướng đi khệnh khạng như "cao bồi" cỡi ngựa. Anh tánh bộc trực có gì nói nấy, lại có tội hơi lè phè. Tôi còn nhớ một buổi sáng đang mơ màn nằm ngủ trong phòng bỗng nghe văng vẳng tiếng đồng hồ báo thức của ai reo dai dẳng, liên tục. Tôi ngồi dậy bước ra khỏi gường, ngang phòng Hùng thuê cách tôi một căn, tiếng reo vang rền, tôi đẩy nhẹ vào cửa không khóa... Hùng đang nằm ngửa mình trần trùng trục mồ hôi đổ nhễ nhại, hả miệng gáy o...o... Hoa tiêu phụ có bổn phận phải có mặt trước để check tàu, trưởng phi cơ sẽ ra sau. Chiếc đồng hồ điện báo thức réo rắt từ sáu giờ sáng đến quá chín giờ mà anh vẫn còn chìm đắm trong giấc ngủ say.
Hùng là một hoa tiêu phụ bay với tôi rất nhiều phi vụ và đã chia sẻ với tôi nhiều giây phút đáng nhớ. Một lần trên đường bay ra Phù Cát, giao tay lái cho Hùng xong tôi ngồi dựa ngửa vào lưng ghế, mắt nhắm lại nghỉ mệt. Trong tiếng máy nổ đều đặn, con tàu rung nhẹ dần đưa tôi vào "chốn lãng du"... Đang phiêu diêu nơi "chốn tang bồng" con tàu chợt rung động mạnh, tôi hé mở mắt ra nhìn: tất cả xung quanh con tàu bao phủ một màu mây trắng xóa, không biết đâu là trời đất... Mơ mơ màng màng, tôi tự hỏi, "Tàu bị lọt vô mây..., ai đang cầm lái đây?... Vertigo?". Những tư tưởng mơ hồ loáng thoáng trong đầu như tia điện làm tôi tỉnh hẳn người. Hốt hoảng tôi ngồi phắt dậy, tay chụp vội cần lái la to, " Ê... ê... chết... chết... chết..." vừa chưa nói hết câu, đột nhiên bầu trời trở lại trong sáng, dưới chân mặt biển xanh ngát một màu. Con tàu vừa bay xuyên qua một đám mây nhỏ. Sượng sùng tôi trả cần lái lại cho Hùng... Cũng nên biết trực thăng thường bay VFR (Visual Flight Rules), chui vô mây là điều bất khả kháng.
Cuộc đời hoa tiêu trực thăng gian khổ, năm tháng đương đầu với nhưng giờ bay dài đăng đẳng. Một ngày ngồi trên chiếc ghế bay bảy tám tiếng là chuyện thường khi hợp đoàn phải di chuyển cả tiểu đoàn bạn vào vùng hành quân. Ngồi trên ghế chai cả mông, mồ hôi đổ ướt đít đến mọc mụn.
Một lần khác trên thung lũng "Buôn Mì Gà" vào buổi trưa hè nắng gắt, hai chiếc guns bay vòng trên trời chờ hợp đoàn trở về bốc thêm quân, Hùng cầm cần lái tôi ngửa đầu vào lưng ghế nghỉ rồi ngủ thiếp đi. Bay vòng chờ trên cao, mỗi khi con tàu hướng về phía mặt trời, ánh nắng dọi thẳng vào mặt nóng như thiêu đốt, bỗng dưng đưa tôi vào một cơn ác mộng, mơ thấy con tàu đang bị bốc cháy dữ dội, lửa ngọn lan tràn đến cockpit hốt hoảng tôi ngồi nhổm dậy la làng: "Cháy... cháy... cháy...". Mở mắt ra, tim đập thình thịch tôi ngơ ngác nhìn khoang tàu, mọi sự vẫn bình thường, bên ghế trái "Hùng kiềng" đang im lặng miệng phì phèo điếu thuốc lá trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, rồi bật cười lớn... Biết là hố, tôi lấy tay áo quẹt lau mồ hôi đổ hột trên mặt, sửa lại thế ngồi, xong lui cui móc điếu thuốc lá châm hút, nhìn ra ngoài trời xanh, mây trắng không nói một lời...
- Sao ông thầy mình cần load thêm đạn không? Tiếng nói của Hội xạ thủ hỏi tôi.
- À... thôi có lẽ còn chừng đó xài đủ rồi, để coi tình trạng như thế nào đã. Chắc không lâu đâu, đánh vài vòng rồi về, tối rồi.
Phía sau tàu Hội xạ thủ đang ngồi bệt trên sàn lúi húi sửa khẩu súng bị kẹt, chiếc áo bay phập phồng gió lộng trong khoang tàu mở cửa. Anh Song mê vô ngồi trên thùng đạn đang ưu tư nhìn vào khoảng không. Một niềm cảm xúc dấy lên trong lòng thương cho những người bạn đồng hành gần gũi qua bao nhiêu năm chung chia tất cả những vui buồn khổ cực. Trong những giây phút mạng sống như chỉ mành treo chuông trên mặt trận họ cũng hứng chịu không khác gì hoa tiêu, nhưng họ đã không được đề cao hay tưởng thưởng tương xứng với những gì họ đã đóng góp. Phi đội trực thăng võ trang trong phi đoàn chỉ là một nhóm nhỏ, rất thân tình gần gũi với nhau, anh em biết tánh tình từng người một. Tr/s Song xạ thủ theo đạo Phật, theo tôi biết anh kỵ sát sanh, một con kiến anh cũng không muốn giết vậy mà tôi không hiểu tại sao anh lại xin vào phi đội trực thăng võ trang. Trong một phi vụ phía Bắc Gia Nghĩa, đang bay quan sát bãi đáp ở độ cao vài trăm bộ, bất chợt một tên VC từ bụi cây giữa bãi cỏ trống phóng như cắt hướng về bìa rừng. Tôi hét lớn: "Song, Song... bắn... bắn..." Hàng ngàn viên đạn tuông ra từ nòng súng cày lên mặt đất tung tóe xung quanh tên VC. Đạn vẫn tuôn ra như mưa Bấc, tên VC vẫn chạy mãi đến gần bìa rừng. Tay kềm con tàu, theo dõi diễn tiến qua khung cửa, tôi điên "tiết vịt" lên lắc mạnh cần lái, con tàu chao đảo. Tôi hét: "Hội... Hội... Hội... qua bên này bắn đi... nhanh lên..., coi chừng nó chạy mất... bắn như con c...". Nhưng đã quá muộn tên VC đã biến mất dạng dưới những tàng cây rừng rậm rạp... Tôi lầm bầm một mình trong intercom: "Mẹ... sợ sát sanh mà đòi đi bay guns..."
- Hổ tới đâu rồi, báo cáo... Giọng nói của Th/T Bính nghe trên tần số.
- Chừng vài phút sẽ đến Võ Định, OK, tôi thấy Charlie rồi....
Cao trên thung lũng đậm màu đêm xuống bên con sông Pokor uốn khúc phía Tây QL 14, chiếc trực thăng C@C như một chấm đen trong bầu trời sẫm tối. Phía Đông là căn cứ chỉ huy Võ Định của Lữ Đoàn 2 Dù nằm sát con lộ, phía Tây là rặng núi Ridge cao mờ mờ ẩn hiện.
- Hổ "hold" chờ phía Đông đồi Charlie, bạn sẽ cùng bốn chiếc gunships của phi đoàn 235 và 229 vào yểm trợ, chừng vài phút nữa họ sẽ có mặt...
Tôi cho con tàu bay vòng về phía Đông dãy núi trọc nhìn xuống cụm đồi phòng thủ của đồn Charlie hình yên ngựa. Từ cao tôi có thể thấy những trái đại pháo liên tục rớt trên mặt đất của đồn, nổ tóe lửa trong ánh hoàng hôn mờ ảo, trông lập lòe chớp lóe như pháo bông. Căn cứ hỏa lực này giờ hầu như đã thành bình địa, những công sự phòng thủ bị pháo nát, hòa lẫn với đất cát không nhận ra hình hài.
Tại căn cứ này, địch đã dùng chiến thuật công đồn đả viện, tiền pháo hậu xung. Chúng tiêu hao tất cả những tiềm lực chiến đấu của quân bạn bằng những trái đạn đại pháo, những trái đạn nổ chậm chui xuống đất rồi nổ tung phá nát hầm sâu. Một mặt chúng ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất là trực thăng bằng những khẩu phòng không bố trí xung quanh đỉnh núi hay những trái pháo đã được điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp.

Trong bóng chiều tà, từ đỉnh đồi Charlie nhìn thẳng xuống tới chân núi phía Đông tôi vẫn còn nhận rõ một khoảng đất cỏ cháy xém, ngay chính giữa là một khối sắt co dúm đen đủi, kế bên là một khúc đuôi trực thăng còn nguyên nằm lật ngược. Tất cả đó là những gì còn sót lại của một con chim sắt thuộc phi đoàn Thần Tượng đã gãy cánh cách đây mấy ngày. Hình ảnh còn mới mẽ của phi hành đoàn thân yêu đã ra đi trong bất ngờ, trong thảng thốt như một cuốn phim kinh hoàng bừng sống lại trước mắt tôi...
Mười giờ sáng hôm đó, năm phi hành đoàn Thần Tượng đáp tại bộ chỉ huy Dù ở căn cứ Võ Định, sát phía Đông QL 14. Chiếc Charlie do Th/t Khưu Văn Phát, phi đoàn phó, cầm lái. Vì Lữ đoàn Dù chỉ đóng quân tại những căn cứ cố định trên những tiền đồn cao điểm nên những phi vụ thường là tản thương hoặc tiếp tế. Năm chiếc tầu đã tắt máy, tôi bước xuống đi lững thững vào bộ chỉ huy dọc theo hàng rào kẽm gai con đường đất đỏ quanh co. Những chiếc lều dã chiến màu xanh cứt ngựa thật lớn, trên nóc đầy những cột "ăngten" chĩa thẳng lên trời, không xa đó đặt vài khẩu trọng pháo thỉnh thoảng nổ đì đùng... Vòng vo một khoảng nữa thì tôi đến căn trại của bộ chỉ huy Lữ Đoàn II Dù. Tôi bước vào lều, Th/T Phát đã có mặt với một vài vị sĩ quan bạn ngồi kế bên một cái bàn dài trải những tấm bản đồ xanh lơ. Kế đó Trung Tá Đặng Duy Lạc, một hoa tiêu A-37, Không đoàn Trưởng KĐ62/CT tại Nha Trang, đang nói chuyện với một sĩ quan cấp tá Dù. Sự hiện diện của Tr/T Lạc làm cho tôi rất ngạc nhiên. Tôi vừa đưa tay chào theo cung cách nhà binh vừa bước đến gần bên Th/T Phát kéo chiếc ghế trống ra ngồi, xong tôi ghé sát vào tai Th/T Phát hỏi nhỏ: "Ông Tr/T Lạc làm gì ở đây vậy?". "À, ổng chỉ lên thăm và ủng hộ tinh thần anh em thôi, chiều ông về lại Nha Trang rồi". Th/t Phát trả lời xong nói tiếp: "Ngồi tí rồi mình đi, sáng hôm nay chỉ có hai phi vụ tiếp tế cho Charlie. Bạn còn nhớ vụ tôi bị bắn ở Tiền đồn Sáu không? Phòng không đây nặng hơn nhiều, Hổ cẩn thận". "Thầy quá may đó, nhìn chiếc tàu bị bắn, tôi không hiểu sao Thầy về kịp đáp Phượng Hoàng an toàn được". Tôi đáp lời. Nhớ hình ảnh chiếc trực thăng khi đem về căn cứ, viên đạn 12 ly 7 xuyên qua sàn tầu, đâm lủng bình xăng đi thẳng lên làm một lỗ lớn trên trần tàu rồi bay thẳng lên trời, may viên đạn trúng tàu không phải là đạn lửa không thì con tàu sẽ nổ tan xác pháo. Tôi cảm thấy cuộc đời bay bổng của hoa tiêu trực thăng thật mong manh, mạng sống như chỉ mành treo chuông, trong những trận chiến sôi động này, tương lai chỉ đếm từng ngày một.
Ngồi nói chuyện đôi ba câu xong, tôi đứng dậy bước khỏi lều hút thuốc lá. Trong ánh nắng chói chan, tôi để tầm mắt về hướng Tây, dãy núi Rocket Ridge đứng sừng sững bất động dưới bầu trời xanh. Đã mấy ngày nay tin tức cho biết Cộng Quân đang áp đảo căn cứ trên đỉnh núi, cố tình muốn dứt nọc trước khi tổng tấn công vào vùng Tân Cảnh, dưới trách nhiệm của Sư Đoàn 22 bộ binh. Những viên đạn đại pháo 130 ly, những trái hỏa tiễn 122 ly cùng với những súng cối 82 ly ngày đêm không ngưng nghỉ rót vào những căn cứ hỏa lực.
- "Lẹ đi, tao đá cái chết mẹ bây giờ!". Đang đứng dựa gốc cột dưới căn lều dã chiến bộ chỉ huy, tôi quay lại thấy một anh Tr/s Dù, đầu đội nón "bê-rê" đỏ đi kế bên một thằng bé cỡ mười sáu tuổi mười bảy tuổi, bận bộ đồ màu xanh cứt ngựa của lính chính quy Cộng Sản, tóc tai bơ phờ, mặt mày ngơ ngáo. Thấy tôi anh ngừng lại chào, tôi hỏi: "Anh đem nó đi đâu vậy?". "Dạ, tôi đưa nó đi cầu", xong anh nói tiếp: "Nó vừa mới bị bắt sống tối hôm qua đó, nó thuộc Sư Đoàn Thép, bộ chỉ huy cho chở về đây lấy tin tức. Tụi nó hết người rồi phải lấy toàn con nít hỉ mũi chưa sạch. Sư đoàn Thép bây giờ toàn thứ này nhiều lắm".
Nhìn khuông mặt non choẹt tái mét vì đã chui rúc trong rừng sâu nước độc, mỏng manh trong bộ quân phục xốc xếch, chân mang đôi dép quai râu, tôi thấy tội nghiệp cho những đứa trẻ "sinh Bắc tử Nam". Anh lính Dù đứng một lát xong dục: "Đi mày". Gật đầu chào rồi bước ra chỗ bãi đậu, tôi lửng thửng đi ngang qua hai chiếc trực thăng chở tiếp tế, mấy phi hành đoàn đang tập tụ trong khoang tàu binh xập xám chờ phi vụ.
"Ê..., bao lâu nữa thì đi?" Tr/u Vân bay chiếc số một đang ngồi trong khoang tàu hỏi vọng ra. "Sắp sửa rồi, chuẩn bị đi". Tôi vừa bước gần Vân thấy có Th/u Long đứng kế bên, tôi hỏi một câu nửa chơi nửa thiệt: "Sao Long, giải được bùa chưa?" Anh không trả lời chỉ nhếch mép cười. Nghe mấy người bạn kể lại vì tội dụ dỗ một cô gái Thượng ở Ba Mê Thuột, anh đã bị thư một cái dằm vào chân, mỗi đêm đều bị nhức nhối. Tôi nghe anh em nói tưởng họ đùa, nhưng khi gặp anh Long hỏi thì anh xác nhận chuyện đó có thật. Mỗi lần trong phi đoàn có phi vụ nào đi Ba Mê Thuột anh đều xin theo để gặp thầy pháp giải bùa chữa bệnh.
Từ ngày mặt trận bùng nổ, tôi bắt đầu cảm nhận rằng trong không khí chiến tranh càng leo thang, tâm tư anh em phi hành đoàn bắt đầu mang một nỗi e dè, lo lắng. Tối hôm qua, ở tại biệt đội, trong khi anh em tụ tập bàn tán xôn xao về tin của một chiếc tàu của phi đoàn bạn bị bắn nổ trên không trung. Tr/u Vân vừa mới lên từ Nha Trang, ngồi trong phòng tại biệt đội, anh tâm sự với một người bạn thân rằng vợ anh mới sanh, tiền bạc chẳng có nhiều, mặt trận càng ngày càng sôi động làm anh rất quan tâm... Trước khi đi ngủ anh móc tất cả trong túi lấy ra được mấy ngàn đồng, cùng với cái đồng hồ rồi bỏ tất cả trong hộc tủ, nhờ người bạn nếu anh có mệnh hệ gì thì giao lại cho vợ anh. Nghe câu chuyện tôi linh cảm như là một điềm xấu có thể xảy ra cho Tr/u Vân.
Từ căn lều bộ chỉ huy, Trung tá Lạc bận bộ đồ bay màu xám, chiếc nón lưỡi trai đen trên đầu với hai nhành dương liễu trắng trông rất phong độ đi song đôi với Th/T Phát, phía sau Tr/T Nhảy Dù đầu đội nón sắt tay cầm bản đồ và mấy người tùy tùng, tất cả đang tiến ra bãi đậu. Âm thanh o..o... quay máy của Charlie khởi đầu cho phi vụ tiếp tế. Hai chiếc trực thăng vừa quay máy, vừa nhận hàng của một chiếc xe cam nhông đậu kế bên hông. Những thùng bằng gỗ thông chứa đạn dược, C-Ration (khẩu phần ăn của nhà binh) cùng với những ống sắt đựng đại bác dùng để chứa nước được chất đầy trên bong tàu. Đợi tất cả cất cánh trước cho rộng chỗ, tôi từ từ nương con tàu nặng nề súng đạn rời khỏi bãi, vượt qua hàng rào kẽm gai và những cây "ăngten" cao nghệu. Nhìn xuống, những căn lều lúp xúp của trung tâm hành quân Dù Võ Định vây quanh bởi hàng chục vòng kẽm gai nhỏ dần dưới ánh nắng mai gay gắt...
Bay chừng năm bảy phút, tất cả hợp đoàn đã đến vùng, rặng núi Rocket Ridge nằm im lìm dưới bầu trời trong xanh. Chiếc C@C bay vòng trên cao độ nhìn xuống, căn cứ Charlie gồm ba cứ điểm phòng ngự từ Nam lên Bắc, điểm thấp nhất đồi 960 cũng là bãi đậu trực thăng làm nơi tiếp tế, rồi tới đồi 1020, cao nhất phía Bắc là đỉnh Charlie, 1050. Tất cả tạo thành một địa thế từ xa nhìn giống như hình yên ngựa. Tại cụm phòng ngự này đã bị Cộng quân mở hàng loạt trận địa pháo 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại, chúng cố dứt điểm căn cứ này với mọi giá. Tại cao điểm này chúng có thể kiểm soát tất cả những di chuyển cũng như hoạt động dưới thung lũng sông Pokor cũng như QL 14 chạy dài tới thị xã Tân Cảnh, mục tiêu trọng yếu đầu tiên trước khi tiến chiếm Komtum. Trước đó mấy ngày căn cứ hỏa lực Yankee phía Bắc Charlie đã bị thất thủ.
Vòng vây địch siết chặc, áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, sau những trận mưa pháo dữ dội, địch quân xung phong ào ạt vào căn cứ, sau bao lần đều bị đẩy lui bởi sức kháng cự mãnh liệt của những chiến sĩ Dù và sự yểm trợ của phi pháo. Sự kiên nhẫn của địch quân có giới hạn, chúng trở thành như điên cuồng lao đầu vào trước những mũi súng của quân ta, xác của những tên Cộng quân nằm la liệt ngoài những hàng rào phòng thủ, tan nát cháy đen vì đạn pháo binh cũng như bom napal của những chiếc máy bay khu trục. Tình trạng đạn dược lương thực nước uống cạn dần đến mức tối thiểu, nếu không được tiếp tế trong ngày hôm nay, Tiểu Đoàn 11 của Tr/T Nguyễn Đình Bảo sẽ không còn phương tiện để chống trả sức tấn công liên tục của địch.
Từ ngày Cộng Sản khởi động cuộc chiến tại miền Nam, chiến thuật trực thăng vận đã được đem ra áp dụng lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới. Trực thăng vận đã hoạt động rất hữu hiệu trong chiến trường du kích chiến. Nhưng chiến tranh càng ngày càng leo thang, địch quân được tăng cường và trang bị thêm nhiều vũ khí tối tân hạng nặng, đặc biệt nhất là vũ khí phòng không. Trực thăng với tốc độ chậm dễ bị phương hại và đã trở thành những mục tiêu dễ dàng cho những loại súng cỡ lớn từ 12 ly 7, 37 ly và đặt biệt là những hỏa tiễn cầm tay như SA-7. Sự tổn thất chiến trường của ngành trực thăng càng ngày càng lên cao. Mấy ngày hôm nay những phi vụ tiếp tế đã gặp nhiều khó khăn trở ngại vì rừng phòng không và những trái đạn pháo kích chính xác địch đã điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp trực thăng, tôi cảm thấy bất lực trước hỏa lực cũng như khả năng của chiếc trực thăng võ trang này để bảo vệ hữu hiệu cho những người bạn đồng hành.
Chiếc tàu tiếp tế số một của Tr/u Vân bắt đầu vào "final". Triền núi trơ trụi vì đạn pháo bao ngày qua từ màu xanh cỏ uá đã trở thành màu đất đỏ lồi lõm những hố đạn pháo. Ba điểm phòng thủ đồi Charlie đã xơ xác hoang tàn gần như thành bình địa. Trong cái im lặng của sự chờ đợi nghe ngóng của địch, tôi cảm tưởng như tất cả những trái đại pháo đang chờ con tàu mong manh nay đi vào ổ phục kích. Tôi cho chiếc guns Hổ một bọc sau đuôi cánh trái, chiếc Hổ hai bên cánh phải. Từ sau lưng trên cao nhìn xuống tôi theo dõi chiếc trực thăng của Tr/u Vân chậm chạp hạ cao độ rồi từ từ đáp xuống trên vòng tròn nhỏ của bãi trực thăng, bụi đỏ bốc lên dưới sức gió của cánh quạt. Từ vị thế trên cao phía sau tôi nhìn xuyên qua cánh quạt trực thăng những người lính trên tàu đạp vội vã những thùng đồ xuống bãi... Bỗng trên bãi đáp không xa hai ba trái pháo nổ bung khói đen cùng bụi đỏ bốc lên đồng thời những tiếng súng nổ vang rền lên từ triền núi kế cận. Con tàu chậm chạp từ từ quay đầu lại chuẩn bị cất cánh, đồng thời trên tần số tôi nghe tiếng của Tr/u Vân đứt đoạn: "Charlie..., Charl... lie, ground...fi..ire..., ground... fi..ire... tầu... trúng đạn...". Từ những mỏm núi trọc mênh mông, những viên đạn pháo không biết nơi xuất phát, những viên đạn phòng không từ nhưng hang hóc của những ngọn đồi kế cận bắn tới tấp hướng tàu của Tr/u Vân. Phản ứng tự nhiên, tôi cắm đầu con tàu phóng những trái rockets rải rác trên triền núi. Những trái hỏa tiễn nổ lốm đốm trên sườn núi, tung lên những đám bụi đỏ, yếu ớt vô hiệu quả trước kẻ thù đang ẩn nấp sâu trong hang hố đâu đó.
Sau khi tác xạ xong tôi quay vòng lại nhìn tàu của Tr/u Vân vừa lên cao. Trên tần số tiếng la hốt hoảng của Th/tá Phát đang bay chiếc C@C: "Lead, lead... tàu bạn đang bốc khói nghe không trả lời?". Tôi nhìn theo chiếc lead đang lấy cao độ khỏi triền núi, làn khói đen bốc lên từ buồng máy. Phi hành đoàn vẫn im lặng. Không khí căng thẳng đến tột độ. "Lead, lead... tàu bạn bị cháy... đáp ngay... đáp ngay... dưới chân bạn có bãi đáp trống trên triền đồi dưới thấp." Giọng nói của Th/tá Phát đồn dập. Từ xa, cùng cao độ tôi thấy con tàu của Tr/u Vân lửa bắt đầu ngún lên thành ngọn bao trùm buồng máy. Lửa lan dần đến giữa thân tàu, hai người xạ thủ đang chồm về phía trước phòng lái... Tôi phụ họa: "Đáp... đáp... tàu cháy..., tàu cháy... đáp dưới chân đồi..., nghe không Vân". Cố đem chiếc gunship đến gần cặp sát con tàu đang bốc lửa mỗi lúc mỗi cao, khoang tàu mịt mù khói đen thấp thoáng hai anh mê vô xạ thủ chồm về phía cockpit để tránh sức nóng.
- "Đáp... đáp ngay... đáp xuống triền núi có Hổ cover đây... nghe rõ trả lời". Nhưng con tàu không còn liên lạc được với thế giới bên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi như hòn đá cuội, chạm triền núi vỡ bùng lên... Tất cả chỉ còn là một đống sắt cháy ngùn ngụt...
Trong cơn hốt hoảng phi hành đoàn chỉ muốn bay xa khỏi tầm sát hại của địch mà không ước lượng được tình trạng thiệt hại của con tàu đến khi quá trễ. Tôi cho con tàu lượn thấp xuống nhìn trong tuyệt vọng. Hai chiếc guns bay vòng tròn trên chiếc tàu bị nạn và sau đó được lệnh rời vùng, tôi ngoái đầu nhìn đám cháy vẫn mịt mù một lần cuối rồi chuyển hướng bay, nước mắt lưng tròng.
- Mãnh Hổ, đây Charlie... Bốn chiếc guns của hai phi đoàn bạn đã đến vùng, bạn dẫn năm chiếc vào mục tiêu.
Tôi ngước đầu nhìn, từ xa bốn chấm đen từng cặp một đang bay đến trên nền trời sẫm tối.
- Charlie, đây Hổ. Cho biết vị trí tác xạ chính xác. Tôi hỏi.
- Hổ đây Charlie. Hiện tại địch đã tràn ngập khắp mọi nơi, hai cao điểm thấp đã bị địch chiếm, chỉ còn đỉnh đồi Charlie đang còn giao tranh cận chiến. Bạn tự do oanh khích ngay trên căn cứ Charlie, nghe rõ trả lời... Tiếng Th/tá Bính vừa dứt trên tần số, tôi bàng hoàng không tin những gì mình vừa nghe được:
- Charlie đây Hổ, Th/tá muốn tôi đánh ngay vào đỉnh đồi?...
- Đúng năm...
Tiếng nói rõ ràng và khẳng định của C@C không còn làm tôi nghi ngờ gì nữa. Lần đầu tiên chứng kiến sự thất thủ của quân bạn ngay trước mắt. Căn cứ được đóng và bảo vệ bởi một lực lượng tinh hoa và kinh nghiệm nhất của QLVN/CH, đã từng chiến thắng bao nhiêu mặt trận, đã làm cho địch nhiều phen kinh hoàng khiếp đãm, giờ đây đang bó tay trước những đợt tấn công thí mạng của đối phương. Với sự hiểu biết hạn chế của một hoa tiêu trực thăng võ trang, tôi thường tự hỏi về chiến thuật của bộ chỉ huy khi để một đơn vị tác chiến như Nhảy dù sở trường trong việc tấn công và chủ động trong chiến trường phải đóng trụ tại một cao điểm. Thụ động chờ đợi địch là sở đoản của binh chủng Nhảy Dù, họ được huấn luyện để tấn công, không phải để giữ đồn. Trong giờ phút này không thấy bóng dáng của một chiếc khu trục trên bầu trời, chắc không cần thiết nữa. Quân bạn có lẽ đã dùng hết tất cả mọi khả năng yểm trợ, sáu chiếc trực thăng võ trang bây giờ chỉ còn là những vớt vát cuối cùng cố gây cho sự tổn thất tối đa cho địch trước khi chúng hoàn thành mục đích của chúng.
Lấy tần số của Charlie, tôi liên lạc được với bốn chiếc guns của phi đoàn bạn và tất cả sáu chiếc guns theo nhau đi vào vùng. Bầu trời đã tối lắm rồi, triền núi của ngọn Rocket Ridge mờ ẩn hiện sau nền trời đen xám. Từ trên cao độ tôi tiến gần vào mục tiêu, chỗ trũng thấp yên ngựa bãi đáp trực thăng cao điểm 960 là một trong ba cao điểm quen thuộc của cụm đồi Charlie, nơi mà Tr/U Vân và phi hành đoàn đã bị bắn, và lên theo triền dốc và phía Bắc và trăm bộ là cao điểm thứ hai 1020 đã bị địch chiếm, chỉ còn lại cứ điểm cao nhất 1050 Charlie do Tr/T Nguyễn Đình Bảo chỉ huy là đang còn giao tranh. Bay đến gần đỉnh núi cao vô tri giác đó tôi như đã cảm nhận được những trái lựu đạn đang chuyền tay nhau nổ tung trên những giao thông hào bể nát, những viên đạn súng trường bắn thật gần, những người lính Dù đan vật lộn với kẻ thù đông đảo, cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...
Bây giờ sự chính xác của những trái rockets của sáu chiếc gunships không còn cần thiết nữa, tại bãi chiến trường này mảnh đất nhỏ hẹp nào cũng là mục tiêu. Sau khi thông báo cho những chiếc guns đang theo sau, tôi cho con tàu cỡ ngàn bộ trên đỉnh cao điểm cắm đầu xuống mục tiêu, những trái hỏa tiễn cháy bùng nối đuôi lao xuống đỉnh núi, theo sau những vệt lửa dài chạm đất nổ tung tóe lửa, khẩu minigun quay vù tuông nhưng viên đạn lửa nối đuôi nhau tạo một đường đỏ dài uốn éo trong ánh sáng mờ ảo. Theo sau những chiếc guns tuần tự phóng những trái rockets xuống đỉnh núi, những đốm lửa tóe lên bởi những trái rockets trong bóng đêm chập choạng như đánh thức rừng phòng không của địch. Chung quanh đỉnh đồi bỗng lấp lánh chấp chóa ánh sáng rực rỡ như cây Noel trong đêm Giáng Sinh, một rừng phi đạn lửa đỏ lao về hướng những chiếc trực thăng đang cắm đầu xạ kích. Tôi la lớn trong tần số: "Phòng không... phòng không... Break... Break... Break..." Nói xong tôi kéo ngược con tàu lên cao, những viên đạng lửa bay vút hướng lên bầu trời đen như những vì sao xẹt. Không cần thiết phải có sự chính xác nữa, tôi thông báo cho tất cả hợp đoàn guns xử dụng tất những đạn dược, rockets còn lại một lần cuối trước khi rời vùng. Từ khoảng cách khá an toàn xa tầm bắn của những khẩu phòng không, tôi kéo con tàu nhổng đầu lên phóng những trái rockets bắn vòng cầu như đạn pháo binh, những trái hỏa tiễn biến mất vào khoảng không gian mù mịt rồi rơi rớt rải rác trên đỉnh đồi tóe lửa. Những mũi súng cao xạ của địch tức thì phản ứng, từ triền núi lấp lánh ánh lửa phòng không, những viên đạn đỏ như mưa rào bay ngược về hướng những con tàu ẩn hiện trong bóng tối. Tất cả đều vô nghĩa. Trận đánh đã ngã ngũ. Những con chim sắt đang cố gắng thi hành phi vụ cuối cùng trong vô vọng. Ngọn đồi mang tên Charlie không còn nữa, chỉ còn lại là dư âm của những trận đánh kinh hoàng trong ngày tháng qua. Những người lính dù đã anh dũng chiến đấu tới giây phút cuối cùng với vị chỉ huy anh hùng của họ, Tr/tá Nguyễn đình Bảo.
- Hổ đây Charlie, các bạn có thể trở về căn cứ. Thông báo cho tất cả biết trong vòng mười lăm phút nữa sẽ có phi vụ B-52 đến trải thảm bom. Các bạn hãy mau rời vùng.
Tiếng nói của Th/tá Phạm Bính lạnh lùng trên tần số. Tôi quay đầu con tàu quay rời vùng giao tranh, những đốm lửa lập lòe trên ngọn đồi Charlie đang chìm dần vào bóng tối. Tr/u Nguyễn Tường Vân, Th/u Trần Văn Long và phi hành đoàn cùng tất cả những chiến sĩ Dù đã ở lại Charlie, mải mải... Xa xa, thành phố Pleiku đã lên đèn, một vùng ánh sáng lấp lánh, nhạt nhòa ẩn hiện, không biết vì đêm đen hay vì dòng lệ đã trào dâng lên khóe mắt?
"Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây. Đã vui chơi trong cuộc đời nầy. Đã bay cao trong vòm trời đầy. Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai. Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời. Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!"
Văng vẳng đâu đây âm thanh ì ầm rung chuyển bầu khí quyển của từ thảm bom của những chiếc pháo đài bay B-52 vang vọng...
Vĩnh Hiếu
Phi Đoàn 215 Thần Tượng
Giờ phút hấp hối cuả thành phố Đà Nẵng: Cuối tháng 3-1975
Phan Đức Minh
(Kính tặng bạn bè, chiến hữu đã từng sống và làm việc cùng tôi tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn này)

Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975 thật là hỗn độn, rối lọan. Quân đội và dân chúng từ các Tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, thành phố Huế đổ xô về, làm cho cái thành phố đã đông dân này càng thêm đông đảo. Cái Radio 4 băng tần tối tân nhất cuả Nhật lúc bây giờ lúc nào cũng ở bên cạnh tôi. Theo tin từ các Đài Phát Thanh trong và ngòai nước thật là lộn xộn, không giống nhau... Theo đài phát thanh Quân Đội, Sàigòn, VOA, BBC cũng như một vài đài khác cuả nước ngòai, tôi vô cùng kinh ngạc là Huế có lệnh rút bỏ mặc dầu chưa đánh nhau chi cả. Sao lạ quá như vậy? Tôi gọi điện thọai, hỏi mấy Ông bạn thân là Đơn Vị Trưởng trong vùng thì họ cũng trong tình trạng như tôi, không rõ đầu đuôi, tình hình ra sao hết.
Thành phố Đà Nẵng đông chật những người là người. Vấn đề an ninh, lộn xộn mỗi lúc một thêm gay gắt. Nhiều binh sĩ tức giận, bắn súng lên trời như những kẻ điên khùng vì không hiểu tại sao lại có lệnh rút lui, bỏ hết các trận tuyến gây nên tình trạng hỗn loạn thê thảm này trong khi chưa chạm địch, chưa đánh đấm chi cả. Xưa nay có bao giờ thế đâu! Tự nhiên không đánh nhau, mà chỉ biết bỏ chạy là làm sao? Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đòan I kiêm Vùng I Chiến Thuật, có lẽ là người duy nhất ở đây biết được chuyện này, do ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêu gọi vô Sàigòn gấp, họp các Tướng Lãnh, nhưng vào tới nơi thì chỉ có một mình ông gặp Tổng Thống Thiệu và nhận lệnh cuả vị Tổng Tư Lệnh quân đội: “Rút bỏ Quân Khu I!" Tướng Trưởng, một danh Tướng cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, thế giới biết tiếng, biết tên, chết điếng cả người nhưng... chẳng muốn hỏi tại sao vì ông cũng đoán biết: hỏi cũng vô ích, để rồi bỗng dưng khai tử luôn cả một Quân Đoàn (Army Corps) hùng mạnh cho nó tan hàng, xập tiệm, và cả Vùng I Chiến thuật bao gồm 5 Tỉnh: Quảng Trị, Thưà Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và 2 thành phố Huế, Đà Nẵng. Bộ Chỉ Huy Quân Trấn Đà Nẵng được lệnh rõ ràng cuả Tướng Trưởng: Bất cứ kẻ nào dùng súng đạn cướp bóc, xâm phạm tính mạng, tài sản của dân chúng trong tỉnh trạng rối lọan hiện nay sẽ bị các lực lượng an ninh, quân cảnh bắn hạ tại chỗ! Tuy có cấp chức được quyền ở cư xá do quân đội cung cấp, nhưng tôi có giấy phép dậy học ngoài giờ làm việc (chuyên dậy kèm Pháp và Anh ngữ cho rất đông học sinh Trung Học) để đời sống vật chất tốt hơn, đối với gia đình đông con như tôi, tránh được chuyện dính dáng đến tham nhũng, hối lộ, rồi làm “dê tế thần” cho tình trạng chính quyền và xã hội “lem nhem" thời đó. Vài em học sinh chăm chỉ vẫn còn lui tới: “Thưa Thầy! các lớp học ra sao, có học tiếp không hả Thầy?"
Tội nghiệp! Giờ này mà các em vẫn có thể nghĩ đến chuyện học hành. Tôi nói: “Thôi, chúng ta tạm nghỉ, khi nào yên tĩnh hãy hay. Các em nên tránh bớt việc đi lại ngoài đường phố trong lúc này, rất nguy hiểm.” Các em ra về, vẻ mặt buồn thiu…
Gia đình tôi ở trong một ngôi nhà nhỏ trong khu xóm đồng bào nghèo, nhưng có 2 cái sân đủ cho học sinh 3 lớp học tối mỗi đêm, thay phiên nhau đậu xe gắn máy và xe đạp. Lúc này, tôi dã đưa gia đình và di chuyển những gì cần thiết lên văn phòng Toà Án cho được an ninh vì có anh em Nghĩa Quân canh gác các cơ quan chính quyền.
Các ngân hàng đã đóng cửa, rất nhiều người cũng như tôi, khi nghĩ tới chuyện cần có số tiền phòng thân, đành chịu chết. Thôi, giữ sổ sách rồi vào Sàigòn hãy hay. Ôm tiền mặt lúc này càng thêm nguy hiểm. Có chi xài nấy vậy. Ai cũng nghĩ như thế để an tâm đối phó với tình hình trước mặt, ngày càng gay go, hỗn độn. Tôi điện thọai vào phi trường quân sự, định hỏi Thiếu Tá Trưởng Phòng An Ninh, không có, xin gặp Đại Úy Quang, cũng không có, chỉ có Trung Úy Bẩy trả lời, “Thiếu Tá ơi! Tụi nó pháo kích hỏa tiễn 122 ly của Trung Cộng cầy nát phi đạo rồi, máy bay của mình không đáp xuống được nữa, chỉ xài được trực thăng thôi. người đông nghẹt mà trực thăng không thấy đến chi cả!"
Tôi điện thọai sang Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I, hỏi thăm mấy Sĩ Quan thân thiết thì được hay: Tại Cảng Tiên Sa, tầu không đủ chuyên chở quân đội di tản cùng với gia đình cũng như đồng bào trốn chạy quân cộng sản đang tiến vào thành phố bằng nhiều ngả, bao vây chung quanh Đà Nẵng. Lệnh trên: rút bỏ Quân Khu I không đánh đấm chi cả thì tình trạng làm sao khác được! Địch pháo kích chung quanh Đà Nẵng ầm ầm...
Tôi gọi sang Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Khu. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng vẫn còn ở đó. Là bạn thân với nhau từ hồi còn nhỏ, lưu lạc giang hồ, mãi sau này mới gặp lại nhau và lần sau cùng là ở Đà Nẵng. Tôi chở tất cả gia đình trên chiếc xe jeep, gồm nhà tôi và 7 đứa con, đứa con gái lớn sức khỏe yếu kém, đứa con trai kế 16 tuổi, đứa con gái út mới được 6 tháng, vợ tôi phải bồng ẵm trên tay, đến Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đòan. Lúc đó là chiều ngày 28 tháng 3, tôi gọi cậu tài xế trung thành và can đảm, Binh nhất Túc, mà tôi đã đích thân đến đơn vị hành chánh quản trị địa phương, lựa chọn rồi hỏi han về tình trạng khó khăn khiến hắn can tội đào ngũ. Tôi liên lạc với đơn vị gốc của hắn, nhận cho hắn làm tài xế vì Tòa Án có xe nhưng không đủ quân nhân tài xế. Sau này, tôi thấy hắn tận tâm, chu đáo và trung thành, nên tôi nói với đơn vị đề nghị cho hắn lên Hạ Sĩ, mong ngày nào nào đó không xa, cho hắn lên hạ Sĩ nhất thì đồng lương cũng đỡ khổ cho gia đình. Tôi bảo: “Thôi, cậu lo cái xe cho tốt, đầy đủ xăng nhớt rồi cho cậu về lo chuyện gia đình, Tôi lái lấy cũng được. Đây, chìa khóa văn phòng và tất cả những gì của gia đình tôi trong đó, nếu tôi đi khỏi thì tất cả là của cậu. Cậu ở lại lo cho gia đình. Vợ con cậu cũng cần đến cậu trong lúc hỗn lọan này. Đem những thùng, hộp thực phẩm khô, sữa hộp chia cho anh em Nghĩa Quân. Tôi sẽ cho lệnh họ: khỏi canh gác nữa! Tòa chỉ còn tôi là Sĩ Quan cuối cùng ở đây, anh em Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thì ở trại gia binh rồi. Cho họ về lo thu xếp, bảo vệ gia đình.”
Tôi bắt tay cậu tài xế, Hạ Sĩ Túc. Cậu tài xế cứ nắm chặt lấy tay tôi, nói trong nghẹn ngào “Em không nỡ để Thiếu Tá và Cô đi một mình với các em như thế này. Cứ để em đi theo, thầy trò mình sống chết có nhau, gia đình em đông người, nhiều bà con, dân địa phương, em là binh sĩ nên không có gì khó khăn nhiều như Thiếu Tá. Thiếu Tá đi được rồi, em trở lại với gia đình cũng được, không sao cả!"
Tự nhiên tôi thấy mắt mình nhòa đi trước tấm lòng của cậu tài xế trung thành và can đảm, luôn luôn nghĩ đến tôi, và gia đình vì chúng tôi: một Sĩ Quan cấp Tá, Phó Ủy Viên Chính Phủ Toà Án Quân Sự Mặt Trận Quân khu I và một binh sĩ luôn sống với nhau như người trong một gia đình ruột thịt đã nhiều năm, nhiều tháng. Tôi bảo: “Túc! Cậu phải nghe tôi, về trông coi, bảo vệ lấy gia đình trong lúc này! Tôi tới Bộ Chỉ Huy Pháo Binh bây giờ. Ông Đại Tá Chỉ Huy Trưởng còn ở đó!"
Hạ Sĩ Túc, cậu tài xế rời nắm tay tôi rồi đứng nghiêm, giơ tay chào nghiêm chỉnh: "Kính chúc Thiếu Tá, Cô, cùng các em ra đi bình an!"
Tôi thấy rõ cậu tài xế can đảm và trung thành bật khóc. Chắc chắn là hắn khóc cho gia đình tôi trong cơn nguy biến, mà tôi bắt hắn phải ở lại. Trên đường, một chiếc xe Jeep chạy ngược chiều với tôi, trên có 4 Sĩ Quan Thủy Quân Lục Chiến, tuổi còn trẻ nhưng đều đeo lon Cấp Tá, rất quen thuộc, tôi chạy chậm lại, giơ tay vẫy chào, và hỏi to, “Có chi lạ không?" Mấy Ông bạn cũng giơ tay vẫy. Một anh bạn người Nam la lớn: “Đù má nó! Anh coi: chiến tranh kiểu chi lạ! Tụi này có bao giờ bỏ chạy như thế này đâu! Lại mấy thằng Mỹ với thằng Thiệu... đem con bỏ chợ, âm mưu buôn bán xương máu tụi mình đây thôi!...”
Gia đình Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh đã vào Sàigòn ít hôm trước, Ông còn ở lại vì Tướng Trưởng và Bộ Tư Lệnh Quân Đòan vẫn còn ở Đà Nẵng. Đang ăn cơm tối với nhau thì điện thọai reo. Sĩ Quan trực chạy vào báo cáo: Thưa Đại Tá! Có lệnh của Trung Tướng mời Đại Tá sang ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn! Ông Đại Tá bắt tay tôi và mấy Sĩ Quan thuộc quyền của Ông đã tụ tập về đó: “Chúc Anh Chị, quý vị các cháu và tất cả bình an." Ông còn dặn tôi trong lúc vội vã quay đi “Anh cho Chị và các cháu ngủ tạm trong hầm của tôi, rất tốt! Nếu thiếu chỗ thì giường của tôi trong phòng kia..."
Sau này, toi biết là Ông cùng Bộ̣ Tư Lệ̣nh Quân Đoàn sang sân bay trực thăng Non Nước để̉ ra tàu Hải Quân cuả Mỹ chờ ngoài biển.
Tôi mặc nguyên quân phục tác chiến, với khẩu súng Colt - 12 bên mình, chỉ bỏ cái mũ sắt 2 lớp ra, rồi ngả lưng xuống giường thiu thiu ngủ chập chờn. Điện thọai reo, Sĩ Quan trực chạy sang: Thưa Thiếu Tá, Bộ Tổng Tham Mưu tại Sàigòn cho hay: 5 chiếc Tầu Hải Quân đã được lệnh lên đường, ra Biển Mỹ Khê, Đà Nẵng chuyên chở quân đội, gia đình và dân chúng. Tầu sẽ tới nơi vào khuya đêm nay hay sáng sớm mai...
Tôi đang mơ mơ màng màng trong giấc ngủ nặng nề thì có người đánh thức tôi dậy và nói trong sự vội vàng, "Thiếu Tá! Thiếu Tá! Mình phải đi ngay, rời khỏi nơi này vì tin tức cho hay quân cộng sản Bắc Việt đã tới rất gần thành phố, không gặp sự kháng cự nào cả..."
Tôi đánh thức gia đình, vợ con rồi tất cả lại lên chiếc xe Jeep với ít đồ đạc gọn nhẹ tùy thân, nhắm hướng Bãi Biển Mỹ Khê phóng đi, sau khi bắt tay vội vàng vài Ông bạn Sĩ Quan Pháo Binh. Xe chạy được một quãng khá xa, chừng dăm cây số, bỗng đứa con gái lớn cuả chúng tôi kêu thất thanh: “Cái va-li da cuả Mợ đâu rồi?"
Trong số đồ đạc mang theo thì cái va-li da đó có chút ít tài sản còn lại đáng giá hơn mấy cái va-li đã nằm trong xe Jeep để sống, do bà nhà tôi và đứa con gái lớn, vốn tính cẩn thận, trông coi cho chắc ăn. Mọi người trên xe nhận ra là trong lúc vội vàng di chuyển, chính cái va-li đó đã bị bỏ lại ở trại Pháo Binh vưà rồi. Chết thật! Tôi lái xe quay lại ngay lập tức, nhưng khó khăn vì người di chuyển quá đông. Chạy trở về trại Pháo binh, vẫn còn 2 cậu lính gác, tôi đậu xe ngay cửa phòng vừa rời ban nẫy, chạy như bay vào trong. May quá! (cái may đầu tiên) Chiếc va-li đã được lôi từ trong hầm gia đình tôi ṭam trú lúc trước, nhưng chưa đem lên xe, vẫn còn nằm trơ một mình sau cánh cửa lối lên phòng tôi nằm. May mà còn lính gác, nếu không thì dân chúng quanh đó và bọn cướp phá cơ quan, công sở đã tràn vào vơ vét tất cả những gì còn ḷại, và cái va-li “quan trọng nhất cuả gia đình tôi" cũng mất tiêu rồi. Nếu nó bị mất thì không biết sau này gia đình tôi cầm cự ra sao với cuộc sống đổi đời với trăm ngàn khổ cực. Trời Đất đã cứu gia đình tôi. Đứa con gái lớn lần này tay lúc nào cũng để lên cái va-li vừa tìm lại được. Tôi lái xe ra cổng, anh em binh sĩ vẫn còn canh gác. Tôi nói lớn: “Anh em về đi, lo chuyện gia đình, doanh trại không còn ai nữa!"
Trời đất! Đường xá ban đêm mà lúc này đông nghẹt những người là người, di chuyển bằng đủ mọi cách. Tất cả đều hướng về phía Cảng Tiên Sa và bãi biển Mỹ Khê. Tôi lái xe, khẩu Colt-12 đeo trước ngực, kiểu Sĩ Quan Đức, đã lên đạn, khoá chốt an toàn, khẩu M-16 đã lên đạn sẵn, cũng khóa chốt, để ngay bên cạnh. Đứa con trai lớn nhất 16 tuổi, có mặt trong xe cũng đã được tôi chỉ dẫn để sử dụng khẩu tiểu liên hạng nhẹ Carbin M-2 để đề phòng trường hợp bị bọn bất lương, tấn công, cướp bóc trong khi hỗn lọan. Trông cảnh người xe xuôi ngược thật là kinh hoàng, trong khi đó quân cộng sản vẫn pháo kích vào thành phố Đà Nẵng nổ ùynh! ùynh!… rải rác đó đây.
Cái xe Jeep của tôi đang chạy bỗng dưng chết máy, nằm ỳ ngay cạnh đường. Thế là làm sao! Còn đang lúng túng thì hai binh sĩ cầm M-16 từ cống trại lính bên kia đường tiến đến xe tôi dòm ngó, xem có chuyện chi mà lại dừng xe ngang xương trong dòng người đang chẩy xuôi ra hướng bãi biển. Một binh sĩ chào tôi: "Thưa Thiếu Tá! Sao Thiếu Tá lại ở đây vào lúc này?". "Xe tôi chết máy rồi!" Cậu binh sĩ kia cũng chạy lại rồi la to: "Đại Úy Sinh! Ra mau! Thiếu Tá Phó Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Mặt Trận đây nè!" Đại Úy Từ Khánh Sinh, Đại Đội Trưởng nhẩy dù, bị thương tại mặt trận, sau được đưa về đây làm Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, dưới quyền cuả tôi. Đại Úy Sinh, quân phục tác chiến chỉnh tề, mũ sắt 2 lớp, giơ tay chào tôi nghiêm chỉnh như thường lệ. Chúng tôi bắt tay nhau trong khi tôi nói: “Hay nhỉ! Sao cái xe của tôi lại chết máy ngay ở chỗ này? Nếu nó chết máy ở chỗ khác thì làm sao đây?" Tôi nghĩ thầm trong bụng: Đây là điều may mắn thứ hai cho chúng tôi trong cơn hỗn lọạn kinh hoàng. Anh Sinh kêu mấy binh sĩ ra đẩy cái xe của tôi vào trong sân trại, rồi ra lệnh cho một Thượng Sĩ: “Lấy cái xe dự trữ cuả mình, lo xăng nhớt đầy đủ rồi giúp gia đình Thiếu Tá chuyển đồ đạc sang, chớ lúc này mà xe cộ lộn xộn là nguy hiểm lắm."
Tôi cảm ơn Đại Úy Sinh, bắt tay viên Thượng Sĩ già rồi vào văn phòng, có vài Sĩ Quan trong đó. Sau vài phút hỏi han tình hình, tôi hỏi Đại Úy Sinh :Anh em bị giam giữ còn bao nhiêu người?" - "Thưa Thiếu Tá: gần 1 ngàn!" - "Việc ăn uống của họ tới ngày hôm nay ra sao?" - "Hôm nay thì vẫn còn, nhưng ngày mai thì chưa biết, gạo mình còn, nhưng liệu nhà thầu cung cấp thức ăn có còn liên lạc nữa không." Suy nghĩ thật nhanh vài giây rồi tôi quyết định: “Quân cộng sản đang tiến vào Đà Nẵng mà không đánh nhau chi cả. Nhân danh Sĩ Quan cấp chức cao nhất của 2 Tòa: Mặt Trận Vùng I và Tòa Thường Trực Đà Nẵng, hiện cá mặt tại đây, tôi ra lệnh thả hết tất cả quân phạm không phân biệt Đại hay Tiểu Hình… En temps de guerre! En cas de force majeure! (trong trường hợp chiến tranh! Trong trường hợp bất khả kháng) chúng ta có quyền làm bất cứ cách nào để bảo vệ sinh mạng của ngần đó con người, đã từng là quân nhân như chúng ta. Họ cũng có thân nhân gia đình đang đợi chờ họ. Anh Sinh cho thư ký đánh máy biên bản theo lời tôi đọc “Lệnh thả hết quân phạm"... Tôi sẽ ký tên với tính cách người ra lệnh, và tất cả Sĩ Quan có mặt cùng ký tên với tính cách nhân chứng, hiểu biết quyết định này. Sau này vào Sàigòn, chúng ta có giấy tờ trình Nha Quân Pháp và Bộ Quốc Phòng là những cơ quan mà hai Toà Án chúng tôi trực thuộc. Sáng sớm mai, chúng ta sẽ thả hết…
***
Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ của Quân Lao hầu như vẫn còn có mặt đông đủ tới giờ phút này. Đại Úy Sinh vốn gốc Sĩ Quan nhẩy dù cho nên làm việc rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Bộ phận cấp dưỡng, dọn cơm tối lên cho mấy anh em Sĩ Quan chúng tôi, vừa ăn, vừa bàn bạc công việc phải làm sáng mai. Một Hạ Sĩ Quan đi xe gắn máy từ Cảng Tiên Sa trở về, báo cáo: Cảng Tiên Sa rất đông người, tầu bè di chuyển không đủ, rất khó khăn, địch thỉnh thoảng lại nã vài trái hỏa tiễn gây chết chóc và thương tích cho bà con… Đại Úy Sinh bảo anh em lo cơm tối cho gia đình tôi và chỗ nghỉ ngơi qua đêm. Tình “Huynh đệ chi binh" những lúc như thế này mới thấy nó cao quý làm sao! Tất cả đều coi nhau như ruột thịt một nhà. Thật là phúc đức cho gia đình tôi: trong suốt những ngày rối loạn, di tản, chúng tôi may mắn vẫn có chỗ ăn, chỗ ngủ đàng hoàng, không thì khổ cho đám con trẻ biết mấy, nhất là đưá con gái út mới được ̉6 tháng, nhà tôi còn phải bồng ẵm trên tay và lo những bình sữa và biết bao nhiêu thứ cho một đưá bé như thế.
Hôm sau, trời còn sớm lắm, nhưng tất cả chúng tôi đã thức dậy. Tất cả Sĩ Quan chúng tôi cùng binh sĩ trong trại kéo nhau xuống phía khu vực nhà giam. Tôi ra lệnh: tất cả binh sĩ súng M-16 lên đạn, đứng thành 2 hàng, các Sĩ Quan đứng sau lưng, tôi cho mở cửa nhà giam, rồi dùng loa phóng thanh cầm tay nói lớn: Nhân danh Sĩ Quan có cấp chức cao nhất của Tòa án quân sự Mặt Trận Vùng I và Tòa án quân sự Thường Trực Đà Nẵng hiện có mặt tại đây, tôi ra lệnh thả tất cả anh em ngay lúc này để trở về lo cho thân nhân gia đình trong tình hình khẩn cấp hiện nay…
Nhiều anh em quân phạm còn nhìn nhau có vẻ ngơ ngác vì họ không biết rõ tình hình bên ngòai. Tôi nói tiếp: Anh em trật tự ra ngòai theo hướng dẫn của 1 Sĩ Quan, xếp hàng 10 người một, cứ đủ 6 hàng thì ngưng lại, ngồi xuống, khi có lệnh hô của 1 Sĩ Quan thì 2 hàng đứng dậy, theo tiếng hô thứ hai là cả 20 người chạy ra khỏi cổng trại, về nhà. Bất cứ ai gây lộn xộn, làm mất trật tự, hay đang chạy mà quay đầu lại hoặc dừng lại bất cứ vì lý do gì, sẽ bị bắn gục ngay tại chỗ! Nghe rõ chưa? Tất cả anh em đều reo mừng và thi hành lệnh một cách nghiêm chỉnh…

Công việc “thả tù" đã xong, tôi thở phào nhẹ nhõm, họ cũng là người, từng là quân nhân dù có phạm tội, họ cũng có thân nhân gia đình đang trông đợi trong hòan cảnh khó khăn, nguy hiểm này, chỉ sợ có sự rối lọan xẩy ra khi anh em nóng lòng, sốt ruột rồi làm càn, ai cũng muốn thóat ra khỏi nhà tù càng sớm càng tốt. May mắn là việc đó đã không xẩy ra. Ăn sáng qua loa xong, tôi cho lệnh tập họp tất cả Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ cuả Quân Lao. Quân số gần như đông đủ hoàn toàn. Với giọng nói trộn lẫn sự xót xa trong lòng, dù rằng cuộc đời cuả tôi đã quen với xót xa, đau khổ, chia lià từ khi 15 tuổi, phải bỏ trường trung học ở Hải Phòng để lăn mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp, địch bắt hai lần, rồi 23 năm lính chống cộng sản, từ Binh Nhì, không theo học trường Sĩ Quan nào cả mà lên Thiếu Tá, với chức vụ hiện tại, tôi nói “Vận nước bắt chúng ta phải bỏ cuộc một cách đau lòng. Chúng ta đã làm hết bổn phận cuả những quân nhân. Bây giờ, không còn cách nào khác hơm nữa, tôi khuyên anh em nên trở về ngay, lo cho gia đình trong cơn hỗn loạn. Súng đạn cá nhân, anh em tùy nghi tìm cách thủ tiêu, ai không làm được thì để vào trong kho súng chắc chắn kia, Sĩ Quan tiếp liệu khoá kỹ lại, không để lọt vào tay những kẻ xấu, dùng nó làm hại người dân vô tộ trong lúc hỗn loạn này. Còn các Sĩ Quan, anh em mình tạm chia tay ở đây và mong có ngày gặp lại. Xin chúc tất cả anh em bình an!"
Tôi bắt tay thật chặt từng Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ... Vài binh sĩ bịn rịn không nỡ rời chúng tôi trong khung cảnh đau đớn như thế này. Họ vẫn còn đứng nghiêm, giơ tay chào theo quân cách rồi mới tan hàng, theo nhau từng nhóm một. Mấy đứa con đã lớn cuả tôi đứng đằng xa, cạnh chiếc xe Jeep, trông thấy cảnh đó cũng hiểu được nỗi đau lòng cuả lớp người cha, anh, những quân nhân chúng tôi, cho nên chúng nó cũng nước mắt sụt sùi. Khi mọi người đã tan hàng, ai lo việc nấy, Đại Úy Sinh, chỉ có một mình ở trại, lên xe cùng gia đình tôi. Anh lái ra phiá bãi biển Mỹ Khê. Có mấy chiếc tầu Hải Quân từ trong Nam kéo ra thật, nhưng đậu hơi xa, nước cạn không vào gần được. Trên tầu đông đặc những người là người và khắp mọi chỗ nơi bãi biển, người từ khắp nơi dồn về sao mà đông thế. Cả lính lẫn dân, kẻ lội nước, kẻ đi đủ loại ghe thuyền, cố gắng bơi ra ra tới chỗ tầu đậu. Cầu thang lên tầu không đủ để đưa số người đông đặc như kiến leo lên. Người ta phải dùng đến những cái thang dây dùng trong trường hợp khẩn cấp, nhưng người vẫn chen chúc leo lên, hành lý mang theo rơi rớt xuống biển mỗi lúc một nhiều, rồi đến lúc có những người vì chen chúc, xô đẩy, đuối sức cũng rớt xuống biển đều đều. Những tiếng kêu gào thất thanh càng làm cho cảnh tượng thêm rùng rợn. Nhiều người trên bờ biển khóc thét lên làm cho những đứa con nhỏ cuả tôi cũng oà lên khóc theo. Tôi bảo Đại Úy Sinh “Mình không thể để cho những đứa trẻ thơ như thế này cũng phải cḥiu cảnh thê thảm đó!" Anh Sinh bảo tôi “Bọn mình tránh ra phiá này, tôi có thằng đàn em ở trong xóm đằng kia. Nó có chiếc ghe dìm dưới nước. Nó và bọn mình đi ghe ra phiá ngoài xa, lên chiếc tầu ở tít ngoài kia mới được."
Chiếc xe Jeep cài số nhỏ, ì ạch lăn bánh trên cát, chở đông người chúng tôi tới phiá cách xa đó một khoảng, gần một xóm nhỏ lơ thơ mấy nóc nhà tranh, nhà lá. Anh Sinh chạy vụt vào trong xóm rồi ra ngay cùng với một cậu nghiã quân. Chiếc ghe được lôi ở dưới nước lên, đủ chở ngần đó con người, tuy có chút nguy hiểm về an toàn. Đành liều vậy, chớ biết làm sao! Cậu nghiã quân nói: "Thiếu Tá và Đại Úy thay quần áo dân sự đi vì em biết tụi du kích và đặc công nằm vùng đang ra công khai hoạt động để kiểm soát tình hình, phiá sau quân đội đánh chiếm thành phố Đà nẵng va vùng chung quanh, ngăn chặn đồng bào di tản, ṭụi nó hung hăng lắm!
Tôi đã từng có kinh nghiệm khi đi kháng chiến, đứng trong hàng ngũ cuả cộng sản gần 7 năm, công tác trong các văn phòng cơ quan lãnh đạo vì có chút chữ nghiã và có người anh ruột đỡ đầu, che chở, cho nên tôi biết rõ Sách - Lược (Policy & Strategy) cuả cộng sản là đánh chiếm một vùng hay một xứ sở, quốc gia nào thì bắt buộc: quân tác chiến làm xong nhiệm vụ, lập tức lực lượng bình định (Pacificatory forces) phải kiểm soát an ninh, trật tự, đè bẹp, diệt tan mọi sức kháng cự hay nổi lên làm loạn sau này... Chúng tôi chuyển đồ đạc trên xe xuống bãi cát rồi tôi đưa chùm chìa khóa xe cho một người đàn ông ngoài 50 tuổi dáng hiền lành, đứng cạnh đó, không rõ ông ta thuộc lọai người gì. Tôi bảo: Nếu chúng tôi xuống ghe đi được thì Bác lấy chiếc xe này, đem về biến cải đi mà xài! Chúng tôi chuẩn bị bước xuống chiếc ghe của cậu nghĩa quân, đã được tát sạch nước, nhưng lúng túng vì đông người, có đám con nít, với đồ đạc... Từ phiá làng xóm gần đó, bọn du kích và quân chủ lực miền (regional forces) của Tỉnh Đội Quảng Nam - Đà Nẵng đã chia nhau từng toán nhỏ đi lùng soát, ngăn chặn tại các điạ điểm trọng yếu, mà bãi biển Mỹ Khê, Sơn Trà, núi Non Nước v.v... là những điểm chúng đã chú ý. Mấy tên du kích chiã súng tiểu liên AK- 47 cuả Liên Sô và cả M-16 của quân Việt Nam Cộng Hoà bỏ lại, quát om xòm: “Không có đi đâu hết cả! Quay về ngay, không thì... bắn hết!" Chúng nổ vài loạt súng vào chiếc thuyền nhỏ và bắt chúng tôi quay lại. Thật là buồn lẫn tức giận vì Đại Uý Sinh từng là Đại Đội Trưởng Nhẩy Dù, còn tôi thì đã từng lăn lộn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Tây bắt 2 lần, rồi 23 năm trong Quân Đội Cộng Hoà từ Lính hạng bét leo lên cấp Tá, từng coi bọn du kích này như bọn... chó chết, nhưng lúc này chúng nó là kẻ thắng trận và đang cầm tiểu liên xung kích trong tay. Tôi nói nhỏ vớ Sinh: thôi quay lại! Tôi nhìn lũ trẻ mặt mũi lo sợ, kinh hoàng mà lòng đau xót không cách nào nói hết được...
Khi trở lại chiếc xe thì Bác “nhà quê" đang ngồi ở ghế tài xế và cho xe nổ máy. Loay loay mà chẳng biết làm cho chiếc xe nổ máy. Tôi nói với Bác ta: “Thôi, cảm ơn Bác, chúng tôi không đi được, cần xe chở nhà tôi và các cháu về thành phố kẻo trời chiều đã muộn, ở giữa bãi biển mênh mông thế này, đằng kia người đen như kiến vẫn đang lên tầu và vẫn... đang rơi rụng xuống biển như sung, như lá bay thế kia, coi bộ không được rồi, nhất là các cháu nhỏ như thế này. Bác ta vui vẻ đưa lại chùm chià khoá cho tôi và bước xuống nhường chỗ cho Đại Uý Sinh và tôi chuyển đồ đạc trở lại trong xe. Đây lại thêm một điều may mắn cho chúng tôi. Xong việc, tôi bảo anh Sinh lên lái xe, tôi ngồi bên cạnh còn nhà tôi và các cháu ngồi hết ở phiá sau. Đại Uý Sinh ngồi lên cầm tay lái, tôi quay lại nói với người đàn ông hiền lành, gần như không thấy nói năng gì cả: Cảm ơn Bác nghe! Cầu chúc Bác bình an! Trong khi Đại Uý Sinh cài số nhỏ, lái xe ì ạch lăn trên bãi cát, tìm lối lên bờ, tôi nói với anh Sinh: May mà tay này hiền lành, thật thà, mở xe mấy lần máy không nổ, nếu nổ máy, liệu anh ta có biết lái nó đi đâu không, và chúng tôi cả bọn đang đứng ở giữa bãi biển mênh mông, với nhiều đe doạ, nguy hiểm, không biết sẽ ra thế nào khi trời đã dần dần ngả bóng về chiều, trong khi anh Sinh chỉ mở máy một cái là xe nổ máy tức khắc, xe tốt, để dự trữ cuả đơn vị anh Sinh kia mà, chớ gặp anh chàng kia là thứ dữ thì thật là khổ sở vất vả cho gia đình tôi với đám con phần nhiều còn nhỏ, đồ đạc lỉnh kỉnh...
Xe đã tìm được lối lên đường, quay trở lại lối cũ phải qua Quân Lao Đà Nẵng. Trời đất! Doanh Trại Quân Lao Đà Nẵng của Đại Uý Sinh lúc này đông nghẹt bà con, dân chúng ở đâu kéo đến tạm trú, chắc bà con cũng định nhắm hướng bãi biển Mỹ Khê, Tiên Sa, nhưng thấy trời đã sắp tối nên kéo nhau vào đây. Anh Sinh lái xe vào trong, đậu trước hai căn phòng cửa chắc chắn, khoá bằng những chiếc khoá đặc biệt cho nên không có ai vào đây. Mấy anh em binh sĩ của anh Sinh, nhà ở liền đó, biết được chúng tôi đã quay trở lại Quân Lao, liền chạy đến, xem có thể giúp đỡ được gì chăng. Đến lúc này mà anh em vẫn còn nghĩ đến chúng tôi, thật là tình “Huynh Đệ Chi Binh" đúng là bất diệt... Lúc này theo tin tức thì quân cộng sản đã vào kiểm soát thành phố Đà Nẵng. Chúng tôi cũng như bao nhiêu Sĩ Quan, quân nhân từ Quảng Trị dồn về vùng đất này hầu hết đã bị dồn vào chỗ chết, nhưng biết làm sao, đành theo vận nước..

Qua một đêm khó khăn, khắc khoải ở Quân Lao Đà Nẵng, đơn vị cũ cuả Đại Uý Sinh, anh Sinh lo cho chúng tôi là một chuyện, lo cho gia đình, nhà tôi và lũ con còn nhỏ, cũng như cho chính anh với tương lai tối tăm trước mặt, thật là kinh khủng.
Trời sáng lúc nào không biết. Tôi nói Đại Úy Sinh kiếm một lá cờ Phật Giáo, lúc này dễ dàng kiếm ra thứ đó ở chỗ đông người vì lúc này Thầy Thích Trí Quang “Chuyên viên tôn giáo vận" của Cộng Sản Việt Nam từ 1946, là nhân vật quyền hành lớn lao, người dân miền Nam ai cũng phải biết lúc này vì ông lãnh đạo “thành phần thứ ba" ngoài hai lực lượng khác cao hơn: cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đứng đầu là Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ, rồi đến Thủ Tướng Huỳnh Tấn Phát, nhưng thực ra tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo cuả Bộ Chính Trị Trung Ương cộng sản Hà Nội. Nhân vật Thích Trí Quang kêu gọi: Các Bác Sĩ trở về bệnh viện của mình làm việc vì số thương vong quân đội, dân chúng quá nhiều, kêu gọi quân nhân của Nam Việt Nam đem súng đạn đến nạp tại sân chùa trong thành phố, thị trấn, và ra trình diện Uỷ Ban Quân Quản khi có lệnh... Bà con nói: Sân Chuà Tỉnh Hội Đà Nẵng ở đường Ông Ích Khiêm là một cái núi chất đầy súng đạn, nhiều nhất là súng M-16 trang bị cho các lực lượng võ trang chính quy của Nam Việt Nam, còn vứt rãi rác khắp hang cùng, ngõ hẻm thì không kể. Tất cả chúng tôi lại chất đồ đạc lên xe trở vào thành phố Đà Nẵng, là vùng đất chết lúc này, nhưng biết làm khác được! Xe ra khỏi cổng trại với chiếc lá cờ phật Giáo to tổ chảng bay phất phới. Xe chạy sắp tới ngã ba rẽ vào thành phố Đà Nẵng và đi Huế thì mấy chú bộ đội chủ lực của Tỉnh Đội Quảng Nam (tôi đoán thế) mũ tai bèo, súng AK-47 từ bên cạnh đường nhẩy ra chặn xe lại và yêu cầu Anh Sinh và tôi buớc xuống khỏi xe. Thấy mấy tên bộ đội non choẹt, nếu trước đó ít lâu thì cứ một chiến binh lính Dù cuả anh Sinh là dư sức “xơi tái" một lúc cả 3 tên bộ đội "bé choắt" này trong 30 giây đồng hồ, tôi chơi nước liều hét to: “các anh trông lá cờ trước mũi xe kia! Lệnh cuả Ban Quân Quản Đà Nẵng và Thầy Thích Trí Quang sai chúng tôi liên lạc khẩn cấp với Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng xin xe cộ ra bãi biển Tiên Sa chở bà con, đồng bào bị thương nằm la liệt ngoài đó, chậm không đưa về bệnh viện là chết hết!" Mấy chú bộ đội ngơ ngáo nhìn nhau rồi khoát tay: “Thôi đi mau lên!". Chạy vào phiá thành phố rồi, tôi mới bảo Đại Uý Sinh: Moa không hét toáng lên như vậy là chúng nó bắt hai anh em mình xuống ngồi tập trung ở bãi cỏ rồi, lúc đó nhà tôi và lũ trẻ này sẽ ra sao! Xe chạy vào trung tâm thành phố thì bọn tôi thấy cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt Trận Giải Phóng miền Nam đã đầy ngập thành phố, khắp chốn hang cùng ngõ hẻm. Mau thật! Một nhóm các em học sinh, trong đó có cả học sinh của tôi mấy hôm trước, đã bị lùa ra đầy đường phố, mỗi nhóm có kèm hai, ba tay súng đặc công chỉ huy, làm công tác tuyên truyền, kêu gọi bà con trở về thành phố đã được giải phóng! Hai em học sinh chạy lại bên tôi nói: Thưa Thầy! Thầy đưa Cô và các em về nhà, và có cần đi đâu trong thành phố nữa thì Thầy cứ việc đi thoải mái. Xong việc, xin Thầy giao xe lại cho chúng em vì lúc này Thầy cũng biết rồi, thành phố cần quản lý và sử dụng tất cả mọi thứ xe cộ, nhất là của quân đội cũ. Tôi bảo một em biết lái xe, nhẩy lên ngồi phiá sau, chật chội, anh Sinh lái đến một gia đình quen biết ở gần đó rồi giao tay lái lại cho tôi. Sau cái bắt tay từ giã xót xa, nhưng đầy tình “chiến hữu", chúng tôi vẫy tay chào nhau khi tôi lái xe thẳng đến Toà Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I. Tôi rút chià khoá xe, nắm trong tay, rồi nhẩy xuống, chạy ào vào văn phòng cũ cuả tôi. Trời đất! Một cảnh hoang tàn, hỗn độn diễn ra ngay trước mắt tôi: Bao nhiêu hồ sơ, giấy tờ của văn phòng, cộng thêm cái đống sách 501 cuốn của tôi sưu tầm, góp nhặt cả 2 chục năm nay nằm lung tung, bừa bãi, ngổn ngang như một đống rác. Đã xót xa cho vận nước, tôi càng thêm xót xa cho cái cảnh này. Chán quá, tôi quay ra xe quên cả lượm lại mấy cuốn Tự Điển Việt, Pháp, Mỹ, Anh dầy cộm... là những thứ cộng sản có thấy tôi giữ, tôi cũng chẳng sợ gì.
Nhẩy lên xe, tôi đưa cả gia đình về nhà cậu tài xế cách đó không xa. Tôi vừa đậu xe trước cửa nhà cậu tài xế và bước xuống thì cả hai vợ chồng Hạ Sĩ Túc từ trong nhà chạy nhào ra ôm lấy tôi, khóc oà lên mà chẳng nói chi cả. Một lúc sau, vợ chồng hắn mới buông tôi ra mà hỏi: “Làm sao bây giờ đây hả Thiếu Tá?" Tôi vỗ vai hai vợ chồng cậu tài xế trung thành, đầy tình nghiã mà nói: “Rồi sẽ tính!", chúc anh chị và các cháu bình an, may mắn, tôi phải đi ngay, cho nhà tôi và các cháu nghỉ ngơi kẻo mệt mỏi quá rồi. Tôi lái xe đến nhà người cháu họ ở ngay mặt đường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng ở tạm cho được an toàn trong lúc thành phố đang còn hỗn độn như thế này. Tôi chạy sang nhà ông anh họ ở gần đó, hỏi chià khoá vì tôi đoán thế nào đứa cháu họ cũng giao chià khoá nhà cho Chú nó là anh họ của tôi. trước khi kéo nhau chạy vào Sàigòn từ sớm vì Mẹ và anh chị em cuả nó đều ở Sàigòn. Gặp anh chị tôi, mọi người nhìn nhau sao mà buồn thảm trong cái cảnh này, không nói ra nhưng ai cũng hiểu: Tôi là Sĩ Quan cấp chức khá cao, đi tù mút mùa là cái chắc, còn gia đình anh chị tôi có tiếng là giầu có, buôn bán thành công cả thành phố này ai mà không biết, coi như “Tư Sản" hạng nặng rồi.
Mở được khoá cửa vào nhà, đưa gia đình, đem đồ đạc vào trong xong, tôi trở ra trao chià khoá xe cho em học sinh đã lớn, hình như đã học lớp 12, chừng 18 tuổi, rành chuyện lái xe và nói: đây chià khoá xe, Thầy giao lại cho em đem về cho cơ quan có trách nhiệm! Em nhìn tôi rồi hơi cúi đầu: chào Thầy, em đi! Chúc Thầy Cô và các em mọi điều may mắn...
Tôi quay vào trong nhà, ngồi xuống cái Sô-pha nghỉ ngơi cho bớt căng thẳng đầu óc và cho lại sức, sẵn sàng chờ đón một tương lai đen tối mà tôi đã biết trước, trong khi ngoài đường phố, xe bắc loa thông tin, xe chở công an, bộ đội đi lại phô trương lực lượng chiến thắng, ngã ba, ngã tư đường phố chỗ nào cũng có vài chú bộ đội, ngơ ngáo, mũ tai bèo xách AK-47 đi lại, còn bọn cộng sản nặm vùng, đặc công, cùng bọn “cách mạng giải phóng theo đuôi mới được 2 ngày" buộc mảnh vải đỏ ở canh tay chạy loăng quăng khắp chốn, cứ như ngày hội, trong khi các cửa nhà hai bên đường phố, bà con đóng kín mít, thỉnh thoảng có người hé mở nhìn ra ngoài coi xem “cách mạng giải phóng" làm ăn như thế nào... tương lai rồi đi về đâu. Có điều chắc chắn là sẽ tối tăm, mù mịt cũng như nhiều vụ bắt bớ, tịch thu tài sản, cướp bóc vơ vét trắng trợn và nhiều hình thức chết chóc sẽ xẩy ra...
San Diego, Califronia
Phan Đức Minh
Những Bài Trước:
_______________________________________________
|