Mẹ Tôi
Triều Giang
(Kính tặng các quả phụ, cô nhi, sau 34 năm chiến tranh chấm dứt, vẫn đang đi tìm hài cốt chồng và cha trong nỗi thống khổ và tuyệt vọng)
Bé Tim vừa ngả đầu ra ngủ sau khi bú một bình sữa no nê. Tôi lựa thế đặt bé xuống nôi nhẹ nhàng. Cậu bé cựa mình, cặp môi đỏ, nhỏ xíu, đẹp như thiên thần vẫn nhấp nhấp như còn đang bú. Sau môt cái cựa nhẹ. Tim lại chìm vào giấc ngủ. Tận cuối giường, anh Phương, chồng tôi cũng đang thở đều, nhè nhẹ trong một giấc ngủ say. Không có hình ảnh nào đẹp và hạnh phúc đến như nhiệm mầu đối với tôi bằng hình ảnh trước mắt; hai cha con một lớn, một nhỏ, giống nhau như hai giọt nước đang an bình trong giấc ngủ say. Tự bao giờ, họ đã quấn quýt lấy tôi, như một phần của tim óc, của hơi thở mà tôi không thể lìa xa?
Trời đã thật về khuya. Tôi xoay trở cố dỗ lại giấc ngủ nhưng không được. Tôi nghĩ đến mẹ tôi và lo lắng không biết bà có bằng an hay không? Hai ngày rồi tôi không nghe tin của Châu, người em trai kế của tôi còn kẹt ở Việt Nam. Mẹ tôi về Việt Nam vì gia đình của Châu sắp được định cư tại Mỹ và mẹ tôi muốn đi tìm mộ ba tôi lần cuối trước khi gia đình tôi không còn ai ngoài bà con xa còn kẹt lại quê hương Việt Nam.
Không phải đây là lần đầu tiên mẹ tôi đi tìm mộ ba tôi. Những ngày tháng cuối cùng trước khi gia đình chúng tôi đi định cư tại Mỹ vào năm 1994, tuy nghèo túng nhưng mẹ tôi cũng đã vay mượn để có đủ tiền lộ phí cho chuyến đi tìm mộ ba tôi tại vùng Thác Bà, chân dãy núi Hoàng Liên Sơn, nơi mà 13 năm trước, mẹ tôi đã được báo tin cho biết ba tôi đã chết trong lúc bị cầm tù ở đây. Mẹ tôi sợ rằng sau khi đi định cư tại Mỹ, không biết mẹ còn có dịp trở lại để đi tìm ba tôi hay không?
Tôi đã cùng đi với mẹ trong chuyến đi có thể nói rằng khổ cực như con đường đi đến a tỳ tại nơi thâm sơn, cùng cốc. Mỗi lần nhớ tới chuyến đi này, tôi đều sợ hãi đến rùng mình. Hai mẹ con từ Sàigòn đi xe đò ra Hà Nội, ngủ tại một nhà trọ tối tăm, và nồng nặc những mùi xú uế với những người đi buôn bán nói năng ồn ào, ngôn từ ngổ ngáo, trắng trợn lẫn đắng cay như chính thân phận của họ. Giữa khung cảnh này, hai mẹ con chúng tôi là hai hình ảnh lạc loài nổi bật khiến nhiều ánh mắt lom lom nhìn chúng tôi. Những ánh mắt tò mò nhiều hơn là ác cảm. Tôi chỉ cầu mong cho trời mau sáng để đi ra khỏi chỗ này. Mẹ tôi bắt chuyện với một bà để hỏi thăm đường. Bà đã tận tâm chỉ đường và còn cho địa chỉ của một người quen tại tỉnh Yên Bái để nhờ cậy.
Qua sự chỉ dẫn của người đàn bà tốt bụng trong phòng trọ, hai mẹ con chúng tôi đã đến được Yên Bái và được người quen của bà ta cho ở trọ và hướng dẫn đi Thác Bà. Buổi sáng hôm đó, dù là mùa hè nhưng sương mù và khí lạnh từ núi bao phủ cả vùng. Đường đi đồi núi hiểm trở, trơn trợt. Có những đoạn đường dốc thẳng đứng. Đường chỉ là đường đất do những thổ dân ở đây đi nhiều đã trở thành lối mòn với những bụi rậm chằng chịt, gai góc. Cả hai mẹ con đã bị gai móc rách áo, toạc chân, máu chảy. Tôi và mẹ tôi đi những bước lập cập vì lạnh và vì đau. Có những đoạn đường khá hơn băng qua những nương rẫy của người Hmong trồng lúa hoặc hoa màu trên những luống đất được vun theo triền của ngọn núi tươi xanh trông đẹp như bức tranh vẽ. Nhưng trong hoàn cảnh của hai mẹ con tôi, cảnh đẹp trước mặt thật là một xa xỉ phẩm. Mẹ tôi đi thoăn thoắt theo người dẫn đường, Tôi hiểu đươc sự quyết tâm của mẹ. Niềm ao ước của mẹ là trước khi rời quê hương đất nước để đến một vùng đất hứa hẹn một tương lai tươi sáng với tự do và nhân phẩm mà mẹ con chúng tôi không thể có được trên chính quê hương của mình, mẹ muốn tìm được hài cốt của ba để đưa ông đến chốn yên nghỉ cuối cùng, mặc dầu bà vẫn bán tín, bán nghi không hiểu có thực là ba tôi đã chết hay vẫn còn sống và phải ẩn mình đâu đó?
Chúng tôi lội trong rừng rậm hết ba ngày. Dân cư ở đây thưa thớt nhưng chúng tôi gặp ai cũng hỏi thăm. Nghe ai nói ở đâu có mộ cũng tìm đến. Nhưng không tìm được tung tích gì. Mẹ tôi mệt lả và bắt đầu ngã bệnh, Tiền túi đi đường cũng đã cạn, mẹ và tôi đành phải quay về. Trên chuyến xe lửa về Nam từ Hà Nội, mẹ tôi bị cảm lạnh run lẩy bẩy từng cơn trong khi mồ hôi mẹ vẫn toát ra từng chập. Tôi ôm lấy mẹ khóc nghẹn ngào. Tôi thương mẹ, thương ba, thương các em tôi. Tôi không biết làm gì hơn là cầu nguyện với Phật Trời phù hộ cho gia đình tôi.
Là chị lớn nhất trong gia đình có 6 chị em. Khi tôi vừa bắt đầu có trí khôn thì mất nước. Ba tôi, một sĩ quan trong quân lực miền Nam Việt Nam, bị trọng thương trong một trận chiến trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 đang điều trị tại y viện Cộng Hoà, bệnh viện quân đội lớn nhất của miền Nam Việt Nam. Một ngưòi lính đã cõng ba về nhà sau ngày 30 tháng 4 vì bệnh viện không còn chữa trị cho ông nữa. Một tháng sau ông phải chống nạng đi trình diện học tập. Lúc ấy mẹ tôi đang mang bầu Út Hải. Mọi việc trong nhà, tôi đều chia xẻ với mẹ. Tôi như người bạn nhỏ của mẹ, giúp đỡ mẹ trong công việc thường nhật hằng ngày; ngoài việc đi học, tôi dỗ em, giặt áo quần, đi chợ v.v... Tôi làm tất cả những công việc này như một bổn phận dĩ nhiên, không quản ngại, không ca thán vì tất cả những thứ đó không có gì đáng kể so với những khốn khó, tủi nhục mà mẹ tôi phải gánh chịu, chỉ vì có chồng là "nguỵ, nợ máu của nhân dân, đang phải học tập".
Mẹ lúc ấy còn rất trẻ, tuổi vừa 30. Mặc dù đông con nhưng mẹ vẫn còn vẻ đẹp hút hồn của con gái Bình Dương; với cặp mắt lớn, lông mi dài cong vút, lúc nào cũng mở lớn như nai tơ. Chiếc mũi thanh tú dẫn đến đôi môi mọng đỏ ngọt ngào như cây trái của đất Bình Dương. Ba tôi yêu mẹ tôi thắm thiết với mối tình "cô hàng xóm" từ ngày hai người còn học trung học tại Sàigòn. Ba tôi học trung học Cao Thắng, còn mẹ học Trưng Vương. Nghe mẹ kể mối tình cũng nhiều gây cấn vì có hình bóng thứ ba của một anh học sinh Võ Trường Toản, đẹp trai, con nhà giàu, học giỏi theo đuổi mẹ tôi thật ráo riết. Nhưng mẹ đã chọn ba, vì theo mẹ: ba hiền lành, chân thật, và mẹ tôi luôn tìm thấy bình an và hạnh phúc khi gần ba. Người con trai kia học xong trung học đã đi du học tại Mỹ. Cũng có nhiều người thấy mẹ đẹp dọ dẫm đưa mẹ đi học hát để trở thành ca sĩ hay đóng phim. Mẹ chỉ cười từ chối. Ba hơn mẹ 3 lớp. Trước khi ba học xong bằng tú tài mẹ đã nghỉ học khi vừa xong trung học đệ nhất cấp, để chuẩn bị đám cưới. Cưới xong ba vào quân đội, mẹ ở nhà chăm sóc vườn măng cụt, sầu riêng và ông bà nội. Đời sống quân đội ít khi được ở nhà, Ba ra trường Võ Bị, được gửi đi các tuyến đầu xa để chiến đấu. Mỗi lần ba về phép là mẹ lại mang bầu. Cả 6 lần sanh, mẹ tôi đều ở trong cảnh "vượt cạn một mình"; Năm lần trước, ba tôi đóng quân ở những tiền đồn xa không về kịp. Lần cuối mẹ sanh thì ba tôi đang ở trong trại tù mà người ta gọi là "trại học tập".
Khi mẹ đi sanh Út Hải, tôi được đi theo. Dì Mai, em của mẹ từ Sàigòn đến giúp trông coi các em của tôi và ông bà nội. Viện bảo sanh của tỉnh nhỏ lúc ấy thiếu thốn đủ thứ. Những người giúp việc giặt giũ, nấu cơm và săn sóc em bé cho các sản phụ đã bỏ việc về nhà vì họ tin rằng "cách mạng đã giải phóng" họ. Họ bây giờ bình đẳng với mọi người và họ trở về xứ để được hưởng tự do, hạnh phúc của chính phủ mới đem lại. Viện bảo sanh chỉ còn có một bà mụ và đầy ắp những sản phụ. Không thuốc men, không người giúp việc. Việc sanh đẻ ở đây trở về thời cuả cuối thế kỷ 19. Sinh mạng của sản phụ và sản nhi được phó thác cho Trời. Ôm mẹ tôi trong cơn đau đớn quằn quại hơn 12 giờ đồng hồ, tôi sợ hãi đến đổ mồ hôi hột. Mẹ tôi cũng ướt đẫm mồ hôi vì những cơn đau dồn dập. Trong cơn đau, tôi nghe mẹ nghiến răng và rên nho nhỏ:
- Em đau quá anh ơi! Và... mẹ đau quá con ơi!
Tôi vừa sợ vừa thương mẹ. Tôi không biết làm gì hơn là ôm chặt lấy mẹ mà khóc. Tôi sợ rằng, nếu mẹ có mệnh hệ nào thì thật khổ cho mẹ và tôi phải làm gì để nuôi và bảo vệ các em? Tôi nghĩ tới ba tôi, không biết bây giờ ông đang đâu? Nơi chốn rừng thiêng núi thẳm nào? Ông có được bình an không? Vết thương của ông ra sao và ông có biết mẹ đang trong những phút nguy kịch? Mẹ đang đánh đổi mạng sống của chính mình cho một mạng sống mới. Toàn thân mẹ rung lên từng chập vì đau đớn như đã đến tột cùng của sự chịu đựng. Mẹ không ôm tôi nữa có lẽ vì sợ tôi sẽ bị ngộp thở. Bà ngồi xuống đầu giường của nhà bảo sanh, hai tay bám chặt lấy cột giường và vặn người trong từng cơn đau. Tôi dùng chiếc khăn lau mặt cho mẹ và nói với mẹ với giòng nước mắt:
- Mẹ ơi cố lên nghe mẹ! Con thương mẹ lắm!
Mẹ tôi lấy một tay xoa đầu tôi, tay kia vẫn vặn chặt chiếc cột giường theo cơn đau. Bà nói đứt quãng:
- Tội... nghiệp... cho... con!
Út Hải cuối cùng đã chào đời với bộ mặt thâm tím và chiếc đầu dài thòng. Tiếng khóc khàn khàn của Út Hải khiến mọi người như trút được gánh nặng. Ba ngày ở trong nhà bảo sanh sau đó, mẹ tôi phải tự giặt giũ. Bà không muốn cho tôi phải làm công việc này. Tay bà cong vì lạnh mỗi khi nhúng vào nước. Những ký ức này đã ghi sâu vào tâm khảm của tôi và nó luôn hiện về mỗi khi tôi nhớ tới mẹ.
Khoảng 2 năm sau khi sanh Út Hải, mẹ nhận được giấy báo tử cho biết ba tôi đã chết trong trại cải tạo, tại vùng thượng du Bắc Việt. Mẹ tôi không tin vì người đưa giấy báo tử có đưa thêm di vật gồm một chiếc sơ mi trắng và chiếc quần tây xanh của dân sự. Mẹ tôi nói với chúng tôi: bộ quần áo xa lạ này không phải của ba tôi. Do đó, ông có lẽ chưa chết. Ông có thể trốn trại hoặc mất tích. Họ báo tử vì họ không tìm được ông. Mẹ tôi đã tin như vậy và chúng tôi cũng tin như vậy. Bao năm mẹ tôi ngủ ở bộ tràng kỹ kế bên cửa sổ, với hy vọng có một đêm nào đó, ba tôi về gọi cửa. Nhiều lần nửa đêm thức giấc, tôi thấy mẹ soi đèn ra ngoài tìm kiếm vì có lẽ mẹ đã nghe tiếng động khả nghi nào đó. Sáng hôm sau thấy mắt mẹ đỏ và đục ngầu vì mẹ đã khóc thật nhiều và ngủ thật ít.
Đời sống của mẹ và 6 chị em chúng tôi lúc đó chỉ có khốn khổ và tủi nhục. Huê lợi của vườn măng cụt và sầu riêng ngày xưa dư để nuôi sống gia đình. Chính quyền mới với chính sách kinh tế xã hội chủ nghiã 5 năm đầu, đã bắt nông dân ở đây đốn hết những cây sầu riêng, măng cụt, trái dâu, bòng bong, trái bơ... để trồng lúa và khoai loang, khoai mì. Họ tập họp dân lại và tuyên bố rằng; những cây trái này thuộc loại "cây trái tư bản" cần phải triệt hạ để trồng cây lương thực. Người dân ở đây ai cũng biết lợi tức của cây trái lớn gấp bốn, năm lần lúa gạo và cây trái đã là nét đặc thù hàng nhiều trăm năm của Bình Dương. Nhưng lúc ấy ai dám chống lại lệnh của chính quyền là đồng nghĩa với chọn án tử hình cho mình và biến gia đình thành đối tượng bị trù đập không còn đất để dung thân.
Hai mẫu vườn cây trái trong rẫy của gia đình bị tịch thu vào hợp tác xã. Chỉ còn một sào đất là khuôn viên của căn nhà gồm 9 người: 7 mẹ con chúng tôi và ông bà nội. Họ nói thẳng với chúng tôi: "chính quyền cách mạng rộng lượng khoan hồng", với diện "ngụy quân, ngụy quyền" lẽ ra chúng tôi phải đi kinh tế mới.
Mẹ tôi câm lặng đốn những cây trái trong vườn, những gốc cây lớn trồng đã mấy chục năm đang sai oằn những trái cũng phải chặt xuống. Tôi thấy mắt mẹ đỏ au nhưng khi chị em chúng tôi hỏi thì mẹ nói là mắt mẹ bị bụi. Cây chặt thành những đống củi lớn là chất đốt cho gia đình. Trước đây gia đình vẫn nấu bằng bếp lò dầu nay không còn dầu nữa. Nấu cơm vì thế thật cực vì khói và bụi. Mẹ đánh những luống khoai và mì chung quanh nhà. Đất không phân và không thích hợp với loại cây thực phẩm này nên cho củ nhỏ bé, khẳng khiu trông mà tội nghiệp. Huê lợi không bao nhiêu, Gia đình tôi dù ăn khoai, ăn mì nhưng vẫn đói quanh năm. Mẹ tôi bán dần đồ đạc trong nhà. Khi ông nội tôi mất thì mẹ tôi phải bán chiếc tủ thờ để lại từ nhiều đời, để lo việc chôn cất. Mẹ tôi mỗi lần nhắc đến ông nội vẫn còn xót xa vì những ngày cuối đời của một trong những nhà khai phá đất Bình Dương mà phải chết trong thiếu thốn tột cùng. Ước mơ nhỏ bé trước khi lìa đời cũng không thể có được. Ông luôn thèm ăn ngọt, nhưng gia đình lúc đó khoai sắn cũng không đủ no, làm gì có tiền để mua chè nếp với đậu trắng và nước dừa cho ông? Những giờ cuối cùng ông không la mắng nhưng vẫn nói trong cơn mê sảng:
- Bây đâu, có đứa nào lấy cho ông chén chè nếp!
Bà nội tôi cũng mất khoảng một năm sau đó, mẹ tôi bán luôn cỗ tràng kỹ để trang trải ma chay. Mẹ tôi và chị em chúng tôi trải chiếu nằm ngủ trên sàn xi măng mỗi tối để ngủ. Tôi còn nhớ sau khi bà nội tôi mất, gia đình càng ngày càng túng quẩn. Mẹ tôi vay mượn khắp nơi. Hầu như tất cả những nơi quen biết có thể vay nợ được, mẹ tôi đã vay. Có người không muốn hoặc không thể cho mẹ tôi vay nữa vì mẹ tôi không có cách gì để trả và người dân Bình Dương lúc đó ngoài những người có quyền thế, người nào cũng nghèo xơ xác. Các em tôi và tôi lúc nào bụng cũng đói meo và chúng đã bắt đầu lớn để có thể đi tìm kiếm tất cả những gì có thể ăn được hoặc biến thành đồ ăn được. Thằng Hoàng, con Hằng lén theo một nhóm con nít đi ra bãi rác lượm ve chai và bao ni lông để bán kiếm tiền. Hôm mẹ tôi biết được vừa buồn, vừa giận, Bà vừa khóc, vừa la mắng và cấm không cho hai đứa tiếp tục. Cũng ngày hôm đó, Út Hải bị sốt. Trong nhà không còn có gì gía trị để bán. Mẹ tôi chỉ còn chiếc nhẫn cưới, Ngồi bên cạnh mẹ và Út Hải, tôi thấy tay phải của mẹ nắm chặt chiếc nhẫn cưới trên ngón tay trái, đôi mắt đẹp của bà thật buồn, cái buồn tang tóc không thể diễn tả được. Sau một cái mím môi, mẹ tôi nói với tôi:
- Oanh coi chứng em, mẹ ra chợ mua thuốc.
Tôi hiểu rằng mẹ thương tiếc kỷ vật cuối cùng của ba nên mẹ buồn đến thế. Những lần bán đồ trước đây mẹ cũng buồn, nhưng tôi không thấy mẹ buồn một cách lạ lùng như vậy. Khi mẹ tôi về, tôi thật ngạc nhiên vì thấy mẹ tươi tỉnh hầu như không có chuyện gì. Mẹ không chỉ mua thuốc cho Út Hải mà mẹ còn mua nửa con gà và một ít gạo. Các em tôi vây quanh lấy mẹ để xem mẹ nấu cháo gà. Nồi cháo gà thả hơi thơm phức quanh nhà. Đã lâu lắm rồi chúng tôi không được ngửi mùi thơm nồng nàn của cao lương, mỹ vị này nên chúng tôi hít hà chờ đợi. Mẹ tôi dọn mâm ra và múc cháo vào chén cho tất cả mọi người. Các em và tôi đợi cho mẹ làm xong và bắt đầu lời cầu nguyện cho ba và cho ông bà nội. Mẹ tôi đọc xong lời nguyện, bỗng bà lấy tay bịt mặt và khóc thảm thiết. Tôi và các em tôi ngơ ngác nhìn mẹ vì không biết chuyện gì đã xảy ra. Bé Minh, kế Út Hải không chờ được nữa, lấy muỗng xúc cháo đưa lên miệng. Mẹ tôi giựt lấy chiếc muỗng, liệng xuống bát cháo và la lên:
- Không! Các con không được ăn! Mẹ xin lỗi các con! Mẹ xin lỗi các con! Oanh đâu, giúp mẹ đổ hết cháo ra vườn. Đổ ngay đi!
Các em tôi nhìn mẹ vừa sợ hãi, vừa tiếc vì không được ăn cháo gà. Một bữa ăn thịnh soạn bất ngờ đến, rồi bất ngờ đi. Tôi đi đổ nồi cháo và khóc ngất vì thương mẹ và thương các em. Tôi không hỏi, nhưng tôi đã hiểu mẹ tôi đã làm gì. Trong cơn cùng cực, mẹ muốn tìm đường giải thoát cho mẹ và cho tất cả chị em chúng tôi bằng nồi cháo độc. Tôi biết được điều này và nhủ lòng; nếu mẹ tôi quyết định ăn cháo và cho các em tôi ăn, thì tôi cũng sẽ ăn để cùng với mẹ và các em thoát khỏi đời sống cơ cực, khốn khổ này. Có lẽ trong giây phút cầu nguyện trước khi ăn, mẹ đã tỉnh trí và có quyết định ngược lại.
Sau cái ngày kinh hoàng ấy, mẹ tôi như được truyền lực từ một bàn tay vô hình nào đó. Mẹ dùng tiền bán nhẫn để sắm cái lò và đôi quang gánh mỗi sáng ra đầu chợ chiên bánh chuối bán. Tiền kiếm được không bao nhiêu nhưng cũng đắp đổi qua ngày. Dù cực khổ, mẹ tôi vẫn cố gắng cho các con đi học. Tôi đã lớn và nhiều lần muốn bỏ học vì nhà trường lúc đó là nơi dạy dỗ cho học sinh phải biết thù hận; thù hận Mỹ "ngụy" và thù hận tư bản chủ nghĩa. mặc dù đối với trí óc trẻ thơ, chúng tôi không thấy Mỹ "là đáng ghét", và "ngụy" thì là tiếng họ đã dùng để gọi chính chúng tôi và gia đình chúng tôi thì làm sao mà thù được? Họ cũng dạy chúng tôi phải yêu bác Hồ, các lãnh tụ Cộng sản, và yêu Xã hội Chủ nghiã. Chúng tôi không biết rõ "bác" Hồ là ai và những lãnh tụ thì thật xa lạ. Với xã hội chủ nghiã thì không riêng gì chúng tôi, mà cả các thầy cô giáo đều chẳng biết nó là cái gì? Đối với những học trò có cha hoặc người trong gia đình thuộc diện "ngụy" như gia đình tôi đã là cái gai trước mắt của ban giám hiệu nhà trường và các cán bộ đoàn. Những buổi họp chúng tôi phải ngồi trơ mặt ra để các đoàn viên và ban giám hiệu phê phán, miệt thị cha mình là "những kẻ bán nước, có nợ máu với nhân dân", chúng tôi còn được ngồi đây là do sự "khoan hồng của đảng và nhà nước...". Học đường vì thế đã trở thành nơi hận thù, ganh ghét, lọc lừa với không khí của một nhà giam với những con mắt luôn theo dõi, rình rập không biết lúc nào mình sẽ xập vào nanh vuốt của họ. May mắn thay, có một số bạn đồng cảnh ngộ và một ít thầy cô cũ vẫn ngầm hiểu nhau và cảm thông với nhau. Châu, em trai của tôi nhiều lần đã không chịu được cảnh ngồi nghe một đòan viên trong lớp mắng cha mình là "thằng phản quốc" đã đứng lên phản đối trong lớp học và khi ra khỏi lớp Châu đã đánh trả tên đoàn viên này khi hắn cố tình xô Châu xuống rãnh nước. Ban giám hiệu đã phạt Châu nghỉ học một tuần lễ. Châu nhất định không chịu trở lại trường. Năm đó Châu mới học lớp 8. Sau khi nghỉ học, Châu đi tập vá xe đạp với chú Tư, một người bạn hàng xóm của ba. Mỗi sáng Châu thức dậy sớm xách hộp đồ nghề ra đầu chợ vá lốp xe đạp cho khách để giúp mẹ và gia đình.
Vài năm sau mẹ tôi được người bạn cho biết là có chương trình cho vợ và con cái các tù nhân cải tạo bị chết trong tù có thể làm đơn xin đi Mỹ. Mẹ phải đi vay nợ để làm đơn cho gia đình với lời hứa là nếu được đi sẽ bán căn nhà để trang trải nợ nần. May mắn có chú Tư mới liên lạc được với người con đi Úc đã gửi tiền về giúp nên chú nhín lại một phần để cho mẹ tôi vay. Mắc một món nợ lớn mới có tiền lo xong hồ sơ. Khi vào phỏng vấn mẹ tôi và các em nhỏ được chấp thuận. Riêng tôi và Châu đã trên 21 tuổi được phỏng vấn riêng, Tôi khai: học xong trung học, không được vào đại học vì lý lịch có cha là "ngụy quân", không nghề nghiệp nên được chấp thuận. Châu thành thật khai nghề nghiệp là vá lốp xe đạp nên họ ghi là "có nghề nghiệp" và bị gạt ra. Có nhiều người mách mẹ tôi nên làm đơn khiếu nại. Mẹ tôi còn băn khoăn chưa biết phải làm gì thì Châu nhất định xin ở lại. Châu nói rằng gia đình đã thiếu nợ quá nhiều không nên vay thêm. Châu ở lại để giữ nhà cho gia đình và biết đâu ba có ngày sẽ trở về? Gia đình qua đó khi đủ điều kiện thì bảo lãnh Châu qua sau, cũng không muộn. Mẹ tôi thương Châu luôn chịu thiệt thòi không đồng ý nhưng Châu năn nỉ mãi mẹ tôi đành chịu.
Sang đến Mỹ nhờ có trợ cấp nên tất cả chị em chúng tôi đều vùi đầu vào sách vở. Mẹ tôi nhận đồ may từ sáng tới khuya để giúp cho ngân quỹ gia đình. Người đàn ông trước đây từng yêu mẹ thiết tha tìm đến gặp mẹ. Ông ta đã ly dị với người vợ Mỹ và thiết tha muốn lập lại cuộc đời với mẹ. Mẹ tôi từ chối và nói rằng: Mỗi người có cái số. Mẹ tôi chấp nhận và bằng lòng với số phận của bà. Bà không hối tiếc hoặc oán trách bất kỳ ai. Tôi hiểu rằng mẹ vẫn còn yêu thương ba trọn vẹn dù mẹ đã trải qua bao nhiêu giông bão nghiệt ngã vì mẹ đã chọn ba, một người trai gắn liền đời mình với đất nước, quê huơng.
Khi còn ở Việt Nam, nhờ vào đống sách kỹ thuật mà ba tôi để lại và mẹ tôi luôn khuyến khích chúng tôi học và dạy lẫn nhau. Mẹ tôi nói ba tôi luôn ước mơ khi đất nước thanh bình ông sẽ làm kỹ sư để chế tạo nhiều máy móc và để phát triển ngành kỹ thuật cho đất nước. Ông từng thiết kế máy nổ và làm những chiếc máy bơm nước trong vườn cho ông nội. Khi chiến tranh chấm dứt, mơ ước của ông không có cơ hội để thành tựu. Ông đã bị bắt, bị giam cầm cho tới chết chỉ vì ông từng là sĩ quan cho quân đội cũ. Cũng nhờ đống sách của ba và sự khuyến khích của má, 6 năm sau đến Hoa Kỳ, 4 chị em chúng tôi lần lượt ra trường kỹ sư. Út Hải cũng mới ra trường cách đây hai năm với ngành điện toán. Chúng tôi đã biến giấc mơ của ba thành sự thật. Chỉ tiếc rằng chúng tôi chưa có cơ hội để giúp đất nước.
Cách đây không lâu. một viên chức cao cấp Việt Nam đến Mỹ kêu gọi Việt Kiều về giúp quê hương và trách rằng những người bên này không biết yêu thương và chỉ biết hận thù. Chị em chúng tôi bật cười khi nghe những câu nói đầy khôi hài đó. Chính họ đã dạy chúng tôi phải hận thù và đày đọa chúng tôi tới tận cùng của thù hận. Họ đã trút hết hận thù vào đầu hàng chục triệu trẻ thơ, thiếu phụ và người dân miền Nam. Khi chúng tôi ở trong tay họ thì chúng tôi là chuột, là bọ đáng khinh, đáng ghét. Khi chúng tôi sang xứ người mới đươc hơn chục năm, bỗng chúng tôi trở thành rồng, thành phụng mà họ đang kêu gọi hãy yêu thương và trở về để kiến thiết đất nước mà họ đã và đang vơ vét đến xác xơ. Họ thực sự, có biết thế nào là yêu thương?
Không ngủ được vì những ý nghĩ miên man trong đầu và nỗi nhớ mẹ khôn nguôi. Tôi trở mình cho đỡ mỏi. Anh Phưong vẫn đang ngủ say và bé Tim vẫn thở đều đặn. Qua cửa sổ, tôi thấy bóng trăng rằm đã xuống thấp. Ánh sáng mờ mờ như không gian đầy sương khói của vùng rừng núi Thác Bà của buổi sáng sớm hôm nào tôi và mẹ tôi đã ở đó để tìm mộ ba. Giấc ngủ như đang chập chờn đến với tôi. Bỗng, chuông của chiếc điện thoại trên bàn ngủ reo vang. Tôi giật mình chụp vội lấy điện thoại vì không muốn tiếng chuông đánh thức bé Tim và anh Phương. Tôi giật thót người và tự hỏi: Ai gọi vào giờ này? Chắc không phải là tin lành. Sau tiếng "hello" của tôi. Tôi nghe tiếng nói như nấc nghẹn của Châu từ nửa vòng trái đất ở đầu giây bên kia:
- Mẹ bị té xuống vực khi đang leo một ngọn đồi ở Thác Bà. Em chụp tay mẹ nhưng không kịp. Em và toán người đi cùng đã vớt được mẹ nhưng bà ngộp nước quá lâu không cứu kịp. Chị thu xếp về ngay để lo cho mẹ.
Chiếc điện thoại trên tay của tôi rới xuống. Đầu tôi như có cả bầu trời xập thẳng vào. Tôi thấy như trước mắt, mẹ tôi đang nằm bất động ở đó, thân phủ đầy khói sương của vùng Thác Bà. Mẹ tôi, trước bao phong ba, bão táp của cuộc đời, mẹ đã yêu thương đến hơi thở cuối cùng của mẹ. Mẹ tôi đã tìm được ba tôi, và không còn ai trên đời này có thể chia cắt họ được nữa. Tôi khóc nấc lên:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi!
Triều Giang
Tháng 4/2009
|