co vang


Liên lạc với chúng tôi
Email:

sanews@sanet.com.au
<

Adelaide
South Australia
Click for Adelaide, South Australia Forecast

 

  
Năm Thứ 14



A   A   A

Phật ơi, Thầy gạt con nè!

 

Thiện An Mặn

Xin thưa trước để mọi việc được phân minh: Chữ "Thầy" viết hoa một cách trịnh trọng ở đây không phải chỗ của những thầy dạy chữ, dạy võ, dạy nghề, dạy đờn, dạy nhạc, dạy ca, dạy múa hoặc thầy bói, thầy xúi hay thầy chạy v.v... Bởi những ông vừa kể, chẳng ai có được bộ chuông mõ trong thùng dụng cụ hành nghề!
Cho nên muốn nhận mình là Thầy trong bài viết nầy, phải là người tối thiểu có cái chuông bằng đồng nho nhỏ, cái mõ bằng gỗ con con, rành sáu câu cóc cóc bòn bòn, ê a phải suông vần bắt nhịp. Và cũng để rõ ràng thêm: Ai có duyên với Thầy, tôi xin chia xẻ, buồn vui tùy duyên hay nợ của mỗi người! Riêng tôi, gia đình bao đời cũng thờ Phật như ai, nhưng buồn bã để thú thật rằng: Vô duyên với các Thầy từ tấm bé đến ngày trên đầu hai thứ tóc.

Đầu tiên là Thầy Cúng. Ông Huy Phương nói đúng, "Thầy cúng không có chùa". Nhưng thường thì Thầy cúng có Am. Chỉ hiểu đơn giản, thì Am đây là cái miếu nhỏ ngoài trời để thờ "hồn ma bóng quế" của khá đông gia đình người Việt theo đạo Khổng hay đạo Phật. Tối tối hoặc Rằm, Mồng Một, người ta ra đó thắp vài nén nhang để cầu khẩn hay tưởng nhớ "những người khuất mặt". Và chuyện tôi muốn kể lại đây là chuyện hai cái Am trong xóm.
Bên quê nhà, thời niên thiếu, xóm tôi trọ học không quá trăm nóc gia đã có tới hai Am: Am Thầy Nhỏ và Am Thầy Nậy. Chẳng biết tên thật của hai Thầy là gì, người ta chỉ quen miệng gọi thế do một Thầy lớn con, một Thầy nhỏ xác. Trước sân nhà của hai Thầy có hai cái Am. So với Am thường, chỉ đủ đặt bát nhang chén nước thì Am của hai Thầy đều khá lớn, bên trong thờ đủ tượng đủ hình, từ Phật ông Phật bà đến Quan Công Tào Tháo, vẫn còn chỗ dư sức đặt ba mâm lễ vật.
Nếu hướng ra con đường trước mặt, đứng ở nhà tôi trọ đưa tay mà tính thì một Am phía Bắc và một Am phía Nam. Ban ngày ban mặt có ai hỏi thăm người trong xóm hay ban đêm tối hù nghe tiếng la oai oái cháy nhà, ăn trộm, chồng bóp cổ vợ vì cái tội quay mặt vô tường rúm co người lại, hoặc vợ thiến của chồng bởi lấy thằng phải gió, quen thói mèo mả gà đồng..., cứ lấy Am của hai Thầy làm chuẩn để chỉ đường hay đoán việc xảy ra là ngay chóc, không sai nửa bước.
Cả hai Thầy mặt mày béo tốt hồng hào, con cái "xum xuê" nhờ vợ sanh năm một. Dĩ nhiên là hai Thầy cạo đầu láng bóng, ngày mặc áo nhà chùa và nghề độ nhật nuôi thân cùng gia đình của hai Thầy ngoài việc coi "ngày cữ tháng kiêng" là nghề đi tụng. Hai Thầy tụng đủ thứ: tụng cúng sao, tụng cúng hạn, tụng đám giỗ, tụng đám ma, tụng cầu siêu, tụng cầu nguyện, tụng cầu tài, tụng cầu hồn, và tụng luôn cả cầu hôn (nếu muốn). Thù lao giá cả cao thấp tùy bài bản, xa gần và tình trạng gia cảnh. Chuyện kì kèo trả giá bớt một bớt hai giữa Thầy và chủ cũng là chuyện rất thường. Có người giở mánh hù giá Thầy Nậy hạ hơn là Thầy Nhỏ phải nhẹ tay chém; Nghe giá Thầy Nhỏ chỉ "để lấy phước" thì Thầy Nậy lập tức: "mô Phật, tuỳ hảo tâm"! Và khi đôi bên đã okê thì tiền trao trước, cháo múc sau, Thầy tin chủ, chủ tin Thầy, không cần invoice, receipt.
Tới ngày cúng, Thầy mang mõ chuông kinh sách đến tụng. Chẳng ai biết kinh kệ của của các Thầy làu thông tới mức nào, chỉ thấy Thầy thường "vòng vô rồi lại vòng ra, Tụng kinh thì ít ê a thì nhiều". Đoạn nào bí quá Thầy chơi đi chơi lại: "Nam mô hất ra đá vô, hất vô đá ra...". Nếu còn bí tiếp, các Thầy lại đi vòng vòng, cóc cóc cheng cheng! đưa tay rẩy rẩy yếm bùa, làm phép... cho đến hết màn.
Tụng xong, lễ xong, Thầy không ở lại ăn cỗ, chấp tay xá chủ nhà vài xá, đi thụt lùi tới cửa mới quay lưng lại ra về. Hai vai Thầy lúc nầy nặng gánh, một bên thì chuông mõ bùa kinh và bên kia thì phẩm vật của chủ nhà nhờ Thầy đem về tạ Am với bề bộn oảng, xôi, và con gà luộc thật to như Thầy dặn trước. Và chính những con gà béo ngậy ấy đã làm bọn tiểu yêu chúng tôi sòm sèm, tính kế bày mưu ăn trộm.
Dĩ nhiên trước khi ăn trộm thì tên nào cũng phải lấm lét dò đường. Có lần chúng tôi lê la hỏi Thầy Nậy, cúng cho ai nhiều vậy Thầy? Từ tốn, đạo mạo, nghiêm trang, Thầy giải thích: Cúng chư phật thánh thần, cúng cô hồn các đẳng, cúng ma đói thập phương, cúng quỷ thèm tứ hướng. Chi vậy Thầy? - Thầy trả lời: Để các vong linh ăn no nằm thở, không còn sức quậy phá thế gian! Vậy là chúng tôi yên chí lớn! Vì đã cúng quỷ, cúng ma, thì chắc chắn hạng tiểu yêu thứ ba như chúng tôi dự phần tất vô tội vạ.
Bởi vậy những đêm Thầy cúng Am tụi nầy núp bụi ngồi canh. Muỗi đốt cứ đốt, chúng tôi vẫn một lòng mai phục, chỉ chực Thầy cúng xong quay lưng vô nhà là a-la-xô đột nhập. Nhưng lần nào cũng vậy, hết cúng Thầy chẳng chịu đi đâu, bắc ghế ngồi canh Am. Đến lúc hương tàn, Thầy gọi đàn con ra bưng mâm cỗ vào nhà! Không biết thánh thần ma quỷ có đại thắng không, chứ đám tiểu yêu nầy "từng bước từng bước thầm" ra về với thảm bại.
Không ăn được gà của Am Thầy Nậy, đêm khác chúng tôi đổi sang canh Am Thầy Nhỏ. Nhưng bài bản hai Thầy vẫn là một, nghĩa là cúng xong Thầy Nhỏ cũng bắc ghế đẩu ngồi canh. Nói ngắn gọn, là cả hai Thầy đều đi guốc trong bụng đám tiểu yêu. Coi bộ mộng xởn con gà cũng khó mà thành, nhưng chúng tôi vững tin rằng "có công canh me, có ngày được xực". Cho nên một đêm khác, nhân bất ngờ đi ngang, thấy trong Am nhang đèn đủ bộ, Thầy Nhỏ vừa ngồi canh Am vừa ngủ gật ngủ gà bên be rượu đã gần cạn, chúng tôi dừng lại mai phục, chờ Thầy say. Y như rằng, mười phút sau Thầy bước vô nhà, nằm ngay đơ trên phản gỗ. Vậy là tụi nầy bấm nhau: Dzô! Nhưng khi lẻn vào tới nơi mới úi chà chà, tài trị âm binh của Thầy cao siêu quá đổi: hai cánh cửa kiếng của Am, Thầy đã khóa cứng. Không hiểu ma quỉ thánh thần có lọt vào được bên trong không, chứ tụi nầy một phen nữa "từng bước từng bước thầm", buồn tênh ai về nhà nấy. Trong đám có thằng vừa đi vừa lầm bầm: "Thầy bảo rằng cúng cho ma, Thì ra Thầy cúng cho cha con Thầy".
Chuyện những Thầy cúng ấy đã gần năm mươi năm, kể nghe như ngồi ôn lại chuyện đời, chứ thật tình chẳng có ý nào khác. Vì đối với đám tiểu yêu chúng tôi thì vậy, không li cho một dịp, nhưng với bà con trong xóm thì hai Thầy lại lởi xởi, rộng tay. Ai gặp cảnh khó khăn, Thầy giúp; Ai gặp hoạn nạn, Thầy cứu; Thỉnh thoảng ai gặp cảnh neo đơn, Thầy tới dí bùa cho thành neo kép. Bởi thế mà làng xa xóm gần, người ta bảo nhau, có gặp vài đứa nhỏ trông giống con Thầy như khuôn đúc! Tuy là vậy, nhưng Thầy chẳng là phường gạt gẫm. Ai tin có vong hồn, Thầy cúng; Ai tin có ma quỷ, Thầy trừ; Không ai tin những thứ nầy, Thầy nằm nhà "hất vô đá ra, hất ra đá vô" cho vợ có thêm đứa nữa...
Tóm lại, nghề Thầy cúng, chẳng qua cũng chỉ là nghề kiếm cơm như bao nhiêu nghề khác. Nghe đâu dưới sự dẫn dắt của sáng suốt của đảng ta, nghề Thầy cúng ở đất nước mình lúc nầy cũng khấm khá chẳng thua gì nghề làm đĩ. Nhưng đừng thấy vậy mà chê rằng đây là những nghề mê tín, đồi trụy. Vì cả hai nghề nầy cũng còn khá lương thiện so với cả vạn nghề ác đức đang hoành hành dưới xã hội chủ nghĩa đại bịp của đám con chau nhà Hồ. Nếu có chê chăng thì nên chê còn lắm người nhìn Thầy chùa mà tưởng rằng ông Phật sống hoặc chê hạng Thầy tu nam mô một bồ dao găm, láo thiên láo địa, buôn Phật bán Thánh chẳng gờm tay. Chuyện của hạng Thầy nầy thì hà rầm, nghe ra thật sự còn thất kinh hoảng vía, ớn ba sườn, muốn bịt mũi hơn cả cúm heo.
Nào là Thầy Hoà thượng cao tăng thích Phác Ghệ, mười lăm năm ròng rã dùng tiền "chúng sanh" cúng dường để bay qua bay lại Hiệp Chủng Quốc "cỡi ngựa xem hoa" cùng phật tử thuần thành Diệu Đức. A tòng với cao tăng nầy, đám Sa tăng, Trư bát Giái, cứ gạt bà con, là Thầy đang "Tây du" để thỉnh kinh như Thầy Tam Tạng ngày xưa. Nhưng tác nghiệp có ngày bị nghiệp tát và chuyện Thầy "cỡi ngựa (cái) xem hoa (mồng tơi) bị chúng sanh khui tét bèng beng. Lúc nầy Thầy ngậm ngùi bảo rằng chỉ là đến lúc phải trả nghiệp, thôi thì phàm tăng xin từ chức trụ trì để an nghiệp bản thân. Trước khi ra đi Thầy còn nháy nháy mắt, thốt lời thương tiếc dặn dò các đệ tử "Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan" nên lấy đó làm "kinh nghiệm chiến trường". Bởi vậy mà phật tử đã ròng rã khóc Thầy đến cạn cả tuyến nước mắt, khô cả cổ họng.
Thấy Thầy ra đi trong ăn năn hối cãi, nhiều Phật tử bảo ban nhau, thôi thì trăm chuyện bỏ qua cho Thầy. Vậy mà chỉ mấy tháng sau, Thầy hia mão trở lại chùa, chễm chệ tuyên bố rằng, ta đây Hòa thượng trụ trì nghe con! Ối Phật, ối Thánh ơi, Thầy coi chúng sanh như ngọn cỏ cọng rơm, Thầy gạt phật tử đến thế là cùng. Nhiều ông bà dở khóc dở cười, chẳng còn chút nước nào trong miệng để nhổ ra cho nó kêu cái phẹc!
Cao tăng Hòa thượng thứ hai, thích Kim Tiền. Ông nầy "dzui thiệt là dzui". Chắc lão lai tài tận, già rồi đâm nói trước quên sau, nên khéo dấu được cái đầu nhưng để cả hai chân lòi mẹ ra ngoài hết trơn trọi. Như mới tháng trước Thầy dạy phật tử trong chùa: Đã theo Phật tu hành thì đừng ôm lấy tham sân si, vậy mà tháng sau Thầy bắt phật tử phải để cháu của Thầy ở chức trụ trì. Không cho không chịu! Đứa nào chống đối, Thầy cho Exit no return. Rõ ràng là Thầy có xuống hết tóc để xuất gia, mặc áo cà sa ngay cả lúc nằm ngủ thì lòng Thầy vẫn chưa hết tục! Ông Huy Phương một lần nữa nói đúng, đáng cho ta tin: "Cạo đầu chưa hẳn là Sư!".
Còn nữa, mới hôm trước Thầy giảng: "Tiền bạc của cải đều là phù du, vô nghĩa..." thì hôm sau, Thầy khuyên "thiện trí thức" cúng vô thùng Phước Sương nhiều nhiều để tạo phước điền cho ngày xuống lỗ. Hôm đó tôi nghe mà không dám cười, chỉ lặng lẽ lui phía sau, rút ra một xấp, lúi húi ghi, lật đật bỏ vào bao thơ và lúi húi đút vô thùng! Xin đừng nghĩ tôi là thiện trí thức chơi ngu lấy tiếng, không phải tiền đâu, chỉ là xấp giấy và tờ nào cũng được tôi ghi bốn chữ của Thầy: Phù du, vô nghĩa! Không biết lúc khui hòm thấy vậy, cha con Thầy đã văng tục mấy lần!
Còn chuyện gần như tiếu lâm nầy nữa, tôi đọc trên báo mới đây. Nghe đâu vì mất nhiều "phù du, vô nghĩa" quá, nên Thầy hăm he sẽ kiện người ta về tội đã làm Thầy loss income! Trời đất phật thánh quỉ thần! Có bôm bốp vỗ hai lỗ tai đến cả chục lần e rằng cũng không lọt nhĩ! Bởi đây là lần đầu tiên trong đời, nghe Thầy chùa nói chuyện thất thu! Càng ngộ hơn nữa, Thầy cứ ra rả dạy người ta học theo gương Phật bà Quan Âm Thị Kính. Tức nếu gặp oan khiên cứ tụng kinh gõ mõ Phật sẽ chứng cho, oan khiên sẽ tiêu tán thoòng tức khắc. Vậy mà đến lúc gặp nạn Thầy chẳng thèm cầu xin đức Phật, chỉ một lòng tin nơi Thầy Kiện của thế gian. Thế là sự tình đã rõ như ban ngày, cho dù Thầy có tu đến mấy bậc cao tăng thì chuyện đời Thầy vẫn không "gác bỏ ngoài tai" như Thầy dạy.
Còn việc nhờ Thầy Kiện ra tay cứu độ tức phải có tiền. Tôi không tin có Thầy Kiện nào chịu uống nước phông ten để làm công quả tạo phước điền như những con cừu non của Thầy bấy lâu nay. Vậy là "Thầy chùa gom, Thầy kiện đớp". Đau thì chắc có đau đấy, nhưng "không mầy đố Thầy làm đếch gì được" nên phải cắn răng đưa cho Thầy xúi nộp cho Thầy kiện. Lại khỏi cần lý luận dài dòng, tiền bạc chẳng bao giờ là phù du, vô nghĩa phải không Thầy? Từ nay xin Thầy mở lượng hải hà, đừng xí gạt chúng con thêm nữa tội lắm nghe Thầy?
Cao tăng đã vậy, trung tăng nào chẳng thua gì. Xin bà con kiên trì đọc tiếp, ráng bình tĩnh nghe tôi tâm sự: Cách đây mấy tháng, hai Thầy thượng tọa thích Quảng Bá và thích Bảo Dại, đường xa vạn dặm từ phương Đông đằng vân xuống phương Nam cứu độ đàn anh, khi nghe Thầy Quảng Độ lật mũ ni, chỉ mặt rằng, bấy lâu nay mấy cụ chỉ là phường tiếm danh, ảo ảo mờ mờ gạt bà con tỵ nạn! Hôm đó các Thầy lớn bé chụm nhau lại, "nhất trí" khua tay lớn tiếng, khẳng định rằng, Thầy tu không làm chính trị, nên ta đây không theo phe Quảng Độ-Huyền Quang. Vậy mà sau đó, mới đây thôi, một lô chính chị gia, nhân sĩ, thượng sĩ, hạ sĩ... tập họp ngay trong chùa để chụp hình đăng báo, hô hào chống cộng hà rầm! Rồi nghe đâu lần nầy quý Thầy xuống nữa, lập mưu bày kế để lấy lại income cho đàn anh bằng cách khua chuông gõ mõ tỏ ra thương tiếc Ngài Huyền Quang. Đúng nghĩa là những Thầy chạy! Nhưng thưa Thầy, bà con Nam Úc đã rành sáu câu, đã chạy Thầy lâu lắm rồi Thầy ạ!
Tính kể tiếp cho bà con nghe nữa về mấy Thầy đại đức tiểu tăng thích viên nầy, thích hòn nọ, đêm hôm kéo tới chùa người ta đòi chuông đòi mõ, nhưng khi viết tới ngang đây tôi lại giựt mình: Mẹ kiếp, nói lang man kiểu nầy, không chừng chúng lại ghép cho cái tội "cấu kết với các lực lượng thù địch phản động..." để làm Thầy loss income thêm nữa!". Cho nên tôi phải vâng lời vợ, đành đoạn xếp giấy bút, tắt đèn đi ngủ.
Leo lên giường, nhắm mắt thì có nhắm, nhưng ngủ thì quá khó. Mõ, chuông, xôi, gà và Thầy, cứ lẩn quẩn trong đầu. Mà cái gì đã in trí, thì ngủ sẽ nằm mơ và đêm đó tôi mơ thấy Phật hiện về.
Mừng như bắt được vàng bốn số 9, tôi quên cả thưa gửi, tía lia hỏi Phật:
- Tại sao, tại sao, tại sao, các ngài lường gạt chúng con tùm lum như thế?
- Ngài nào cho Qua biết? Phật vừa cười vừa hỏi.
- Dạ thưa quý Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức!
Phật ngớ ra:
- Qua chẳng biết những ngài nầy. Có phải ý cậu muốn nói là đám quỷ sứ không?
- Dạ thưa không. Ấy là các Thầy trong chùa!
À, thì là các Thầy của cậu! Thôi thôi chớ có dông dài nữa, Qua biết hết rồi, khỏi cất công kể lể! Giờ Qua nói cho cậu nghe, Qua đây còn bị chúng bán đứng bán ngồi, nhằm nhò gì cỡ mấy cậu! Tin không?
- Dạ không tin.
- Nghe đây: Những chuyện nhỏ người biết kẻ không, Qua chẳng nhắc tới làm gì, chỉ nói những việc lớn để cậu khỏi nghĩ rằng Qua nói láo. Cũng trên quê hương của mấy cậu thôi, chẳng đâu xa, người ta tu hành đâu muốn gây gổ với ai, vậy mà năm 63 chúng muợn danh Qua để giết cho bằng được Diệm; Rồi năm 66, chúng xưng là thầy nầy thầy nọ, khiêng Qua đem dụt ngoài đường, bắt ngồi đó mấy đêm mấy ngày đánh nhau với xe tăng thiết giáp của Thiệu Kỳ Loan; Rồi bây giờ, lấy quyền Bác Đảng, chúng gom tiền của bá tánh, lấy đất của dân, xây cái nhà thật to, đặt tên là Đại Quốc Tự ở Bình Dương. Cả Qua lẫn vua Hùng các cậu bị nhốt chung trong đó. Khó chịu nhất là cả hai bị giao cho thằng chó Minh ngồi canh me chình ình trước mặt, muốn rời nửa bước cũng bị hắn cản đường. Phật tử muốn nói gì với Qua, với vua Hùng, hắn đều nghe hết!
- Nhưng thưa Ngài đó là chuyện trong nước. Con muốn nói tới ở hải ngoại nầy nè!
- Ah, ở đây hả? Nhiều chuyện cười ra nước mắt lắm! Cậu ra mấy chỗ bán chậu kiểng ế ẩm mà coi, chúng bắt Qua ngồi đó năm nầy qua tháng khác, mùa hè nóng nứt mỡ, còn mùa đông thì lạnh tới xương! Còn trong chùa, cậu có biết lâu lâu các Thầy đè cổ Qua ra bắt tắm, hứng lấy nước tắm ấy đưa cho mấy cậu uống, bảo rằng tiêu trừ bệnh tật không? Cậu nên la to cho bà con biết, chúng xạo đấy! Qua đâu phải là viên thuốc trị bá bệnh của mấy chú Sơn đông mãi võ! Không tin Qua, coi chừng uống vào có ngày té re tháo tỏng, chết không kịp ngáp! Còn Qua, cậu biết không, nhiều bữa cũng bị cảm lạnh thấy mồ!
- Vậy thì Ngài có giận không?
Phật cười thoải mái:
- Nói cho cậu biết mà suy gẫm vậy thôi, chứ thật ra Phật ấy có phải là Qua đâu mà giận với hờn. Không tin mấy cậu cứ lật đít lên mà xem, toàn Made in China không hà.
- Mô Phật! Vậy mà lâu nay con tưởng là Ngài, cúi đầu còng lưng lạy chết mẹ chết cha..., Từ nay chúng con phải làm sao đây Phật ơi? Kiện được không? Tôi gào lên như đứa trẻ bị ăn hiếp.
Một đám mây trắng hiện ra, Phật lững lơ... Trước khi biến mất, Ngài dạy:
- Đừng la lớn, mất giấc ngủ người chung quanh. Chả có gì khó, Qua hỏi cậu, chỗ các Thầy làm ăn, léng phéng tới đó chi cho bị gạt? Thôi thì cứ làm như Qua, Tu rị tu rị ta bà ha! Làm ngơ làm ngơ là xong chuyện! Còn kiện hả? Đừng chơi dại để tránh vỏ dưa đạp vỏ dừa, đám Thầy kiện nó đớp còn thầy chạy hơn hơn cả đám Thầy chùa nó gạt!
Thiện An Mặn

 

 


 

 


 

Những Bài Trước:
————————————————————————


 

 


Published on Fridays - Tuần Báo Việt Ngữ phát hành mỗi thứ Sáu
Postal Address: P.O. BOX 276 Kilkenny, South Australia. 5009
Telephone: +614 8347 7586 - Fax: +618 8347 0727