Thành phố quỷ!

 

Trời đang mưa lâm râm, tôi cố bước nhanh ra khỏi con hẻm nhỏ mà tôi vừa vào thăm người bạn cũ năm xưa đang bị bệnh nặng bên khu bến đò Thủ Thiêm.
Đêm nay bên khu Thủ Thiêm này lại bị cúp điện như vẫn thường bị cúp điện. Lúc này đã gần hai giờ sáng nên không còn phà chạy qua sông để tôi có thể về lại bên thành phố. Tôi thả bộ dọc theo mé sông để hy vọng kiếm được một chiếc ghe nào đó còn người thức khuya để nhờ chở tôi về bên thành phố. Tôi bước đi trong đêm vắng và nghe rõ từng tiếng chân của mình bước trên con đường. Thỉnh thoảng tôi bị hụt chân vào một cái ổ gà làm cổ chân tôi đau nhói lên và nước mưa đọng trong vũng đã làm cái quần của tôi ướt qua khỏi đầu gối. Tôi nghĩ mình thật ngu khi trong đêm vắng lại đi một mình ở một nơi mà từ mấy chục năm qua mình chưa một lần đi tới.
Hơn ba mươi năm trước, nơi đây nổi tiếng là xóm anh chị với đầy đủ những tệ nạn của xã hội. Không hiểu người bạn của tôi làm sao lại trôi giạt về cái xóm này, nhưng dù sao thì bạn tôi cũng còn khá hơn nhiều người trong thành phố lúc này không có cái nhà để mà trú thân.
Trời vẫn còn mưa, tuy chỉ lâm râm, nhưng tôi phải tìm cách về bên thành phố cho thật mau chứ không thì có thể tôi sẽ bị nhiễm nước mưa và bị bệnh thì sẽ không còn gì là vui thú trong những ngày còn lại ngắn ngủi trong thành phố này.
Chợt thấy có một bóng người từ xa đang đi về phía tôi, tôi đứng nép vào một thân cây để đề phòng. Bóng người đến gần cho tôi biết đó là một người đàn ông và khi còn cách tôi khoảng ba thước, bóng người đàn ông đó rẽ xuống bờ sông, nơi có chiếc xuồng đang được buộc dây vào một thành bờ đá. Không để cơ hội hiếm hoi và may mắn này vụt qua, tôi bước ra khỏi vùng bóng tối và lên tiếng:
- "Ông ơi, ông có thể chở tôi qua bên thành phố được không ông?"
Người đàn ông đứng sững như trời trồng nhìn tôi với đôi con mắt mở lên thật lớn một lúc rồi ông nói trong hơi thở dồn dập:
- "Trời đất quỷ thần ơi thầy làm tôi muốn đứng tim rồi đây. Tại sao thầy lại núp trong cái cây đó làm chi vậy?"
- "Tôi thấy ông từ xa nhưng tôi sợ nên tôi núp vào cái cây này."
Người đàn ông tự nãy đến bây giờ vẫn đưa tay vuốt lên ngực như để dằn lại những hơi thở dồn dập và hỏi tôi:
- "Thầy muốn qua bên thành phố hả? Bước xuống ghe đi rồi tôi đưa qua bển cho."
- "Dạ, cám ơn ông nhiều lắm."
- "Cám ơn cái quỷ gì. Thầy làm tôi muốn đứng tim luôn rồi đây."
- "Xin lỗi ông nghe, tôi không có ý làm ông sợ."
Khi ngồi vào trong lòng ghe tôi mới bình tĩnh lại nên muốn nói chuyện với ông như là cách để ông đừng hồi hộp nữa.
- "Khuya rồi ông chưa đi ngủ sao mà còn tính đi đâu nữa vậy?"
- "Tôi về Cát Lái, nhà tôi ở vùng Cát Lái chứ không phải ở đây. Thầy đi đâu mà giờ này thầy còn lang thang một mình vậy. Thầy không sợ ma hả?"
- "Dạ... cũng sợ lắm, nhưng tôi đi thăm người bạn lâu ngày mới gặp nên quên mất giờ về. "
Người đàn ông nhìn tôi nói rồi lặng lẽ chèo chiếc ghe ra giữa dòng sông. Tôi vừa mừng vừa muốn xóa tan sự im lặng nên lại hỏi chuyện tiếp:
- "Ở Cát Lái có gì đẹp không ông?"
- "Có nhiều cái đẹp lắm chứ. "
- "Ở đó có món ăn gì là "đặc sản" không ông?"
- "Có món chem chép hấp và món lòng bò cuốn bánh tráng chấm với mắm nêm. Hai món đó là
đặc sản của Cát Lái đó nghe thầy. Thầy có biết con chem chép không?Người ta còn gọi nó là con lồn tiên nữa đó vì xung quang mình nó có nhiều lông và... cũng giống lắm đó thầy. "
- "Con chem chép hay lồn tiên gì đó thì tôi cũng có nghe nói đến nhiều lần lắm nhưng tôi chưa được ăn lần nào cả. Tôi muốn tới đó thì tôi phải đi như thế nào hả ông?"
- "Nếu thầy muốn đến đó thì chiều ngày mai khoảng năm giờ thầy tới chỗ mà lát nữa tôi bỏ thầy lên bờ, tôi sẽ đưa thầy tới cái quán của tôi ở Cát Lái và thưởng thức các món mà tôi vừa kể với thầy đó. "
- "Ông có quán bán hai món ông vừa kể ở Cát Lái hả?"
- "Dạ. Thầy mà ăn hai món đó ở quán của tôi rồi thầy sẽ nhớ suốt đời luôn. "
Mừng quá nên tôi nhắc lại cho ông ta nhớ:
- "Vậy chiều ngày mai vào lúc năm giờ tôi sẽ chờ ông ở chỗ mà lát nữa ông bỏ tôi lên bờ phải không?"
- "Xin thầy đừng quên nhé. Tôi sẽ chờ thầy đó. "
Bước lên bờ, tôi muốn đi bộ từ bờ sông Sàigòn về khách sạn. Thành phố vào giờ này đã ngưng lại mọi sinh hoạt. Tiệm bánh mì Như Lan nổi tiếng của thành phố trên đường Hàm Nghi cũng đã đóng cửa từ lâu. Tôi thấy đứng lấp ló trong bóng tối bên những gốc cây ven đường là những người "cảnh sát cơ động"mặc bộ đồ bông hoa đã làm tôi nhớ đến những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong thời nội chiến Nam Bắc vừa qua. "Cảnh sát cơ động" tuy cũng khoát trên mình bộ đồ bông hoa nhưng thú thật sao tôi thấy họ yếu xìu chứ chẳng có vẻ gì là oai hùng cả.
Mới quay qua quay lại mà đã gần ba tuần trôi qua. Thời gian trôi qua mau quá và chỉ còn ba ngày nữa là tôi phải rời thành phố thân yêu này để về bên trời Âu giá buốt. Rồi công việc hằng ngày sẽ lại tiếp diễn cho đến kỳ nghỉ tới. Kỳ tới mình sẽ đi đâu đây?Chẳng lẽ cũng lại về Việt Nam nữa. Thật chán chết cho cái thành phố này, cái thành phố thân yêu của tôi ngày nào mà bây giờ tôi gọi nó là thành phố quỷ kể từ khi nó được thay tên mới. Không hiểu người ta dồn về đây làm chi mà nhiều quá nên đã làm cho thành phố luôn luôn bị kẹt xe, đầy bụi bặm và ô nhiễm. Có lẽ người ta nghĩ rằng ở đây dù sao cũng dễ thở hơn ở những vùng xa xôi và hẻo lánh, đỡ bị những"thằng trời đánh"hoạnh họe này nọ chăng.
Một chiếc xe hai bánh lạng qua lạng lại trước mặt tôi như mời chào. Cô gái ngồi phía sau anh chàng mặt mày coi cũng sáng sủa đấy nhưng đây chỉ là "hàng" thường thôi. Hơn hai tuần qua tôi đã chứng kiến cái thành phố thân yêu của tôi ngày nào nay có những dịch vụ thật trời ơi đất hỡi. Người nhân viên khách sạn nơi tôi trú ngụ thời gian qua đã gạ tôi: "Nếu anh muốn có người làm vợ một ngày, một tuần, hoặc dài hơn nữa đều có hết... mà giá cả cũng thật mềm. Bảo đảm dắt đi phố là... hết ý".
Thân phận người phụ nữ Việt Nam trong một thành phố quỷ đang bị xem như những món đồ chơi cho một giai cấp giàu sang mới. Người phụ nữ Việt Nam bây giờ đã được giải phóng cho ngang hàng với loài thú vật khi phải trần truồng như con nhộng để cho người ngoại tộc chọn như người ta chọn súc vật vậy. Tôi luôn tự nhủ với mình là đừng ham muốn chi những cái đó vì bây giờ khó mà biết được những gì sẽ xảy ra nếu người ta biết mình đã lâu lắm mới trở về lại thành phố này.
Tôi ghé vào một cái bar. Giờ này chỉ những quán bar ở khu Tây ba lô này là còn mở cửa. Tôi kêu một chai bia ướp lạnh. Những cô gái ế khách ngồi bàn đối diện nhìn tôi cười làm quen. Tôi cười chào lại và mời các cô uống bia. Các cô hỏi xin tôi thuốc lá. Tôi không hút thuốc đã lâu nên tôi kêu cho các cô một gói thuốc lá thơm.
Ngồi uống hết hai chai bia và tán dóc với các cô gái một lúc, tôi đi về khách sạn khi chỉ trong giây lát nữa đây thôi một ngày mới lại bắt đầu.
***
Bến phà Thủ Thiêm không lúc nào mà không đông người. Tôi đến đây trước nửa tiếng đứng
nhìn cảnh sinh hoạt và nhìn lượng người qua lại bến đò mà nhớ lại những ngày xa xưa thường vào mỗi chiều cuối tuần cùng người yêu hoặc bạn bè đi ngang qua bến đò này để tới một quán nước dừa đằng xa kia ngồi tâm sự và hóng mát. Bên kia là vùng đất hoang vắng với nhiều đồng ruộng mà tôi chưa một lần nào có dịp qua bên đó nên tôi không biết nó hoang vắng như thế nào. Bây giờ thì người tứ xứ tràn vào thành phố quá đông nên những thửa đất hoang ngày xưa bên đó nay đã được tính bằng mấy cây một mét vuông.
Tôi lửng thửng thả bộ tới nơi hẹn. Người đàn ông có chiếc ghe và có cái quán ở Cát Lái đã
chờ sẵn tự bao giờ.
- "Chào ông, ông tới đây lâu chưa?"Tôi vừa cười vừa hỏi.
- "Tôi mới tới thôi thầy ạ. "
Bước xuống ghe, tôi thấy ông đã kê sẵn một cái ghế có lưng dựa. Tôi ngồi vào cái ghế và quay mặt lại nhìn ông định hỏi chuyện. "Ông lái đó" khoảng trên dưới sáu mươi lăm tuổi. Có lẽ ông là dân quê còn theo xưa nên thường gọi những người ăn mặc lịch sự và có vẻ học thức là thầy. Hôm nay ông không dùng chèo mà đã gắn một cái máy đuôi tôm nhỏ vào sau chiếc ghe. Chiếc ghe lướt trên mặt sông thật nhẹ nhàng vào một buổi chiều mát mẻ như buổi chiều hôm nay làm tôi thấy thật sảng khoái. Dọc hai bên bờ sông Sàigòn bây giờ cũng đã được dựng lên những tấm bảng quảng cáo to lớn như những ngày xa xưa. Nhà cửa thì có khác nhiều, được dựng lên nhiều hơn và cao hơn. Con sông Bạch Đằng chiều hôm nay sao tôi thấy nó như nhỏ hẹp hơn ngày xa xưa, nhưng với một buổi chiều mây trời quang đãng, với không khí khá trong lành làm tôi cũng không còn thắc mắc nhiều về nó.
Lối sống của người dân bây giờ không khác gì của thời còn nội chiến xâm lăng từ phương Bắc. Người dân sống thật hối hả. Kiếm tiền thật hối hả bằng đủ mọi cách. Yêu nhau cũng thật hối hả. Chỉ có khác là trước kia trai gái yêu nhau bằng tình yêu chân thật phát xuất tự con tim thì bây giờ phần nhiều yêu nhau bằng tiền. Trai gái muốn tìm một người yêu chân thật như trước kia không phải là chuyện dễ dàng nữa. Những cô nữ sinh viên là những người mà trong tôi luôn xem là "con nhà lành" thì giờ đây... chỉ có trời mớì biết là họ nghĩ gì và muốn gì khi cuộc sống hôm nay tạo cho con người tính thích đua đòi hưởng thụ. Tin tức trên các báo từng thông tin có những cặp trai gái yêu nhau thắm thiết và rồi sau một thời gian anh chàng dụ bán người yêu vào các động để làm gái, hoặc giết chết để cướp của mà nhiều khi chỉ là đôi ba trăm ngàn đồng tiền... quỷ. Người bạn bệnh hoạn của tôi ở Thủ Thiêm đã tâm sự với tôi:
- "Đất nước của chúng mình bây giờ đã tan nát hết rồi... kể từ ngày đen tối của ngày và đêm ba mươi. Cả nước đều do những kịch sĩ đóng vai ác và đểu điều hành nên mọi người đều đã sống và đối xử với nhau như những kịch sĩ. Chắc anh cũng đã nghe những câu chuyện thật đau lòng là chỉ vì tiền mà cha mẹ ông bà cô bác dì chú anh em ruột thịt v. v. trong gia đình đã hãm hại, gạt gẩm nhau để sinh tồn. "
Tôi nhớ có lần đã đọc trong một cuốn sách của một tác giả nào đó có viết về một người rất nổi tiếng của miền Nam là ông Hồ Hữu Tường, trong đó ông Tường đã nhận định là : "Cộng Sản chỉ là sự ngu dốt cộng với tính xảo trá bất tận. Lịch sử phát triển của đảng cộng sản Việt Nam chính là lịch sử của những cuộc thay đào đổi kép nhưng không đổi tuồng. Thay đổi đào kép chỉ nhằm mục đích dối gạt dư luận là tuồng đã đổi. Chính sách hòa hợp nhưng không hòa giải là vở tuồng mới. Tuồng cũ là tuồng chuyên chính vô sản. Vở tuồng này ngay từ đầu đã đi ngược lòng dân, đã xa rời thực tại... "
Hơn ba mươi năm tôi mới trở lại thành phố này và thật hụt hửng khi thấy mình đã thật sự bị mất tất cả. Mất hết không còn gì! Cả cái tên thành phố cũng mất luôn. A!Cái này thì không. Tuy thành phố tạm thời bị mất tên trên các văn bản giấy tờ nhưng khi nói chuyện với nhau thì mọi người vẫn gọi nó với cái tên thật thân thương như tự muôn thuở nào. Tôi đã chứng kiến có một anh xe ôm thật hóm hỉnh khi đón khách ở Chợ lớn đã hỏi khách: " Hồ chí Minh?" Người khách cũng hóm hỉnh không thua kém gì anh xe ôm nên trả lời lại "Không, Võ Nguyên Si ". Rồi cả hai cùng cười.
Nhìn qua "ông lái đò", thái độ của ông có lẽ cam chịu với số phận, với cuộc sống hiện tại. Mà không an phận, không cam chịu chứ còn làm gì được hơn khi tuổi của ông đã về chiều. Thấy tôi nhìn, ông nhoẻn miệng cười nhe ra cái hàm răng chỉ còn có hai cái.
Chợt nhớ ra tôi hỏi ông:
- " Đêm nay bác đưa tôi trở về lại đây chứ?"
- "Dĩ nhiên rồi!Thầy đừng có lo, nếu thầy thấy vui thì tôi có phòng đầy đủ tiện nghi cho thầy nghỉ qua đêm trong nhà tôi. Còn nếu thầy muốn về thì tôi sẽ đưa thầy về. "
- "Có làm phiền gì bác không?"
- " Có gì mà phiền chứ, tất cả cũng chỉ là công việc để kiếm miếng cơm đắp đổi qua ngày mà thôi thầy ạ. "
Trong một lúc vui hứng tôi đã nhận lời đi đến đây, bây giờ nghĩ lại mới thấy mình quá phiêu lưu. Đất nước này không còn một con người nào để mà tin tưởng nữa. Mọi người đã nói láo một cách nhuần nhuyễn, đã biết dối gạt lẫn nhau từ hơn ba mươi năm qua nên đã quá quen rồi và khi làm những việc đó họ không tỏ một chút gì là ngượng ngùng và bối rối. Hằng ngày hằng tháng hằng năm lúc nào người dân cũng bị dối gạt bằng những lời hứa hẹn không đi đôi với việc làm nên mọi người luôn trong thế thủ và đối xử lại với nhau cũng bằng những trò lừa dối. Những người như tôi nếu để lộ ra mình không phải là người ở đây thì sẽ bị chú ý nhiều hơn và rồi sẽ bị nhiều phiền lụy. Nghĩ lại tôi thấy cũng thật ngộ nghĩnh và không hiểu là mình nên nói làm sao đây. Từ nước ngoài về thành phố thì nói là về, khi rời thành phố để đến nơi mình đang sống thì cũng nói là về. Người ngoại quốc đến đây là có đi và có về, còn mình thì cả hai nơi cũng chỉ có về.
***
Cuối cùng thì tôi cũng đến được cái quán của "ông lái đò" sau khoảng hơn một tiếng đồng hồ trên sông nước. Cái quán của ông không lớn lắm. Nó nằm cheo leo một mình bên cạnh bờ sông và con đường đất. Ghe gần cập bến, "ông lái đò" chỉ cái quán cho tôi thấy và nói thêm:
- "Quán hôm nay đóng cửa vì những người phụ giúp tôi xin về quê thầy ạ. Nhưng tôi luôn
có sẵn những món đặc sản để thầy và tôi lai rai. "
Khi "ông lái đò"và tôi bước lên thềm nhà thì xuất hiện trước cửa một cô gái rất đẹp và còn rất trẻ, khoảng trên dưới mười tám tuổi. "Ông lái đò" giới thiệu đó là đứa cháu nội của ông tên Loan ở đây để phụ giúp ông trong việc mua bán hàng.
Khoảng hai mươi phút sau cô Loan dọn ra trên bàn hai món mà "ông lái đò"gọi đó là đặc sản. Tôi phải công nhận hai món này quả thật là ngon tuyệt trần. Món chem chép, hay lồn tiên được cô Loan ướp với nhiều loại gia vị lạ và sau đó hấp với bia. Món lòng bò thì sau khi được luộc sơ qua rồi cũng được hấp với bia, và món ăn này khi ăn được cuốn với bánh tráng cùng với rất nhiều loại rau sống và chấm với mắm nêm được pha chế thật đặc sắc không còn nặng mùi. Tôi đã ăn một bữa ăn thật ngon miệng và cũng uống thật nhiều rượu.
Hơn một giờ đêm thì tôi được cô Loan hối thúc đi ngủ mặc dầu lúc đó tôi chưa buồn ngủ. Cô Loan cho biết là cô còn nhiều công việc phải làm trong đêm nay. " Ông lái đó" không thể đưa tôi về thành phố được nữa vì ông đã uống quá nhiều rượu và đang say ngất.
Khoảng hơn ba giờ sáng tôi chợt thức giấc và muốn đi tiểu. Đến lúc này tôi mới để ý là căn phòng mà tôi đang ở khá đầy đủ tiện nghi như trong một khách sạn mini mặc dù nó đang nằm cheo leo ở một con đường hoang vắng và bên cạnh một dòng sông.
Trời đêm nay rất trong sáng và có nhiều sao. Tôi muốn nhìn bầu trời và hít thở cái không khí trong lành ở một vùng xa thành phố và cũng để nhìn xuống dòng sông nên tôi ra đứng ngoài hành lang. Trước mắt tôi đang diễn ra một hoạt cảnh làm tôi phải hai lần dụi mắt để nhìn cho rõ hơn và để tin rằng những cảnh diễn ra trước mặt tôi là có thật. Một nhóm người khá đông đảogồm đàn bà, đàn ông và có cả trẻ nhỏ nữa đang lặn, mò để tìm kiếm một cái gì đó dưới lòng sông. Những người đang ở dưới dòng sông đó hết lặn xuống rồi lại trồi lên mà tôi cố nhìn thì không thấy họ vớt được một vật gì cả, vả lại hầu hết mọi người không có một ai cầm theo một vật dụng gì để đựng hứng. Tôi đứng nhìn hoạt cảnh đó khoảng gần một tiếng đồng hồ thì đoàn người lũ lượt kéo nhau lên bờ. Trong đoàn người đang lũ lượt lên bờ và tản mát ra mọi phía để về nhà thì tôi nhìn thấy có cả "ông lái đò"và cô Loan nữa. Hai ông cháu đang vừa đi vừa nói chuyện với nhau cho tới khi đến trước cửa nhà thì tôi nghe "ông lái đò" giục cô Loan mau đi nghỉ để lát nữa ra chợ cho kịp mua hàng và đừng làm ồn vì: "đừng để chuyện này cho thầy đó biết. "Tôi bước lùi lại phía sau hai bước để hai ông cháu cô Loan không phải ngại ngùng khi phát giác ra tôi đang đứng nhìn.
Tôi ôm nỗi thắc mắc này lên giường và trằn trọc mãi với những câu hỏi trong đầu cho đến khi tôi chìm vào một giấc ngủ thật sâu.
Tôi được cô Loan lay dậy nhiều lần nhưng tôi không làm sao có thể nhấc nổi cái đầu như bị đeo hàng tấn đá. Trong tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, tôi nghe rõ "ông lái đò" thúc giục cô Loan đi lấy khăn nóng lau mặt cho tôi và tôi nghe ông nói với cô Loan là có lẽ tại tôi uống nhiều rượu quá.
Tôi chỉ ngồi dậy được vào lúc trời đã tối. Đầu tuy còn nhức, nhưng tôi đã khá tỉnh táo.
- "Thầy dậy ăn miếng cháo chem chép cho tỉnh rồi tôi đưa thầy về lại thành phố. "
- "Bây giờ là mấy giờ rồi?" Tôi hỏi.
- "Bẩy giờ hơn. "
- "Tại sao tôi lại có thể ngủ một giấc ngủ dài như vậy được?"
- "Dạ, có lẽ thầy bị trúng gió. Tôi và con Loan đã cạo gió cho thầy và cho thầy uống thuốc cảm rồi. "
Trong lúc đang ăn tô cháo chem chép rất đặc biệt và rất ngon, tôi mơ màng nhớ lại chuyện mà tôi đã chứng kiến đêm qua. Tôi không hiểu là có nên hỏi hai ông cháu cô Loan cái thắc mắc này không. Họ tìm gì dưới dòng sông đó mà cùng với nhiều người cùng tìm nhưng tôi không thấy ai vớt được một vật gì cả. Lúc nhìn đoàn người lặn hụp dưới lòng sông thì tôi hoàn toàn tỉnh táo thế nhưng ngay sau đó tại sao tôi lại có thể ngủ một giấc ngủ quá dài như vậy được.
"Ông lái đò" lại giục tôi ăn cho mau để ông đưa tôi về. Tôi chợt có một quyết định là tôi phải ghé lại người bạn bên Thủ Thiêm để nhờ bạn tìm cho ra lý do mà tôi muốn phải biết rõ vì dù sao thì hôm nay cũng là ngày cuối cùng và ngày mai tôi phải rời xa thành phố này rồi. Tôi không còn thời gian để tìm hiểu sự việc được nữa.
Người bạn nghe câu chuyện tôi thuật lại đã làm bạn tỉnh hẳn người ra. Bạn tôi suy nghĩ nhiều
lắm và hứa là sau khi tôi rời khỏi thành phố bạn sẽ đến vùng đó để tìm hiểu.
***
Sài Gòn ngày... tháng ... năm...
Bạn thân mến,
Như đã hứa với bạn, sau khi bạn rời khỏi thành phố, cái thành phố mà một thời bạn, tôi và các bạn của bọn mình đã có những tháng ngày thật vui và thật nhiều kỷ niệm bên nhau... mà bây giờ bạn gọi nó là thành phố quỷ. Có lẽ cách gọi của bạn, theo tôi và rất nhiều người, cũng đúng một phần nào đó bạn ạ!Ma quỷ là những hình bóng mà loài người chúng ta chỉ tưởng tượng ra và rồi kinh sợ nó thì ngày nay những hình bóng đó đã đội lốt con người và hiện diện nhan nhãn ở khắp mọi nơi mọi chốn trong cái thành phố này, hay nói cho chính xác hơn thì nó nhan nhãn ở khắp cả cái đất nước này.
Hồi xưa bọn mình thường nhìn những con người có những hoạt động mà họ thường tự xưng là hoạt động đối lập, nhưng thật chất, dù rằng có nhiều người không ý thức được hành động họ đang làm là tiếp tay cho những con người đã nhân danh một chủ nghĩa của ngoại bang đòi giải phóng cho dân tộc chúng ta và bọn mình đã kết luận họ là bọn sâu bọ, bọn quỷ sứ lên làm người .
Những tưởng dân tộc mình sẽ không bao giờ bị lãnh đạo bởi một bọn đội lốt người nhưng tâm tính lại là của loài quỷ, thế mà nó đã xảy ra cho dân tộc mình. Khốn nạn thay!
Đêm hôm trước ngày bạn chuẩn bị ra phi trường để tạm rời khỏi cái thành phố quỷ này, bạn nhờ tôi đến vùng Cát Lái để tìm cho ra điều bạn thắc mắc. Bạn khen thật nhiều về cô Loan, bạn còn nói cô Loan giống cô Hà bạn của bọn mình năm xưa ở Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt và bạn lại còn ởm ờ là có thể cô Loan và những người trong đêm đó là những bóng của loài ma quỷ. Thế mà nó lại đúng đấy bạn ạ!
Tôi, sau khi đã sáu ngày liên tiếp. Tôi nhắc lại với bạn là sáu ngày liên tiếp tôi đến đúng cái địa điểm mà bạn đã tả thì được biết toàn khu vực đó không có một cái quán nào bán hai cái món mà bạn đã không tiếc lời khen ngợi.
Qua lời thuật lại của những dân cư tại Cát Lái thì ở cái khúc sông mà bạn đã ngủ qua đêm cứ mỗi năm và vào một ngày nào đó - hình như đúng vào cái ngày mà bạn đã đến và ngủ lại - người dân nơi đây vẫn thường được chúng kiến cái cảnh tượng ma quái là vào quá nửa đêm thì xuất hiện rất nhiều bóng người thi nhau lặn hụp dưới lòng sông để mò tìm những vật gì đó nhưng rồi cuối cùng thì mọi người đều trở lên bờ với hai bàn tay không. Người dân nơi đây tin rằng đó là những oan hồn vì nỗi oan nghiệt mà chưa siêu thoát được đã hiện về để tái diễn lại cái ngày mà nhà cầm quyền này đã nhẫn tâm gạt họ sau khi đã lấy hết của cải để tổ chức cho họ ra đi bán chính thức nhưng rồi nhà cầm quyền này đã cho đục thủng các chiếc tàu đó hoặc cho nổ và chìm giữa lòng sông.
Nếu đúng như những lời người dân thuật lại thì cách gọi của bạn về cái thành phố này là thành phố quỷ quả thật là chính xác. Phải là người có "cơ duyên" lắm nên bạn mới "may mắn" được gặp ma gặp quỷ hiện ra cho thấy mà không bị nhát hoặc bị hại.
Tôi và những người còn ở lại thành phố này đã không được cái "cơ duyên" như bạn nên mỗi ngày phải gặp toàn là một lũ quỷ sống ác ôn hành hạ và hoạnh họe đủ điều.
Một vị sư có cho tôi biết là ông đã làm lễ cầu siêu cho các linh hồn đó nhiều lần rồi nhưng chỉ khi nào kẻ gây ra tội ác biết hối lỗi và có hành động sám hối thì khi đó các linh hồn kia mới siêu thoát được!
Lần sau nếu bạn quay lại thành phố này, hy vọng là tôi sẽ không bị những trở ngại ngoài ý muốn để tôi không rời bạn một bước nào để cả hai chúng ta cùng dạo khắp trong thành phố quỷ để bạn xem quỷ lộng hành ra sao.
Hẹn tái ngộ cùng bạn tại thành phố quỷ trong một ngày không xa.
Thân ái. /.
Topa

 

 

Có ma hay không?

Hoàng Phong

Có Ma hay không có Ma? Ma là gì? Ma ở đâu? Ma có làm hại được ta hay không? Phải trừ Ma như thế nào?... Đó là những câu hỏi có thể nêu lên cho ta, vì trong số chúng ta đây, có thể có người chưa hề "gặp Ma" bao giờ, nên tò mò cũng muốn biết xem Ma ra thế nào, hoặc có người đã từng "thấy Ma" nên vẫn còn bị Ma ám ảnh, muốn biết xem cái thấy của mình, hay là cái con Ma đó có thật hay không.
Vậy ta hãy xem quan điểm của Phật giáo về Ma như thế nào. Tôi xin trình bày bài viết ngắn này thành hai phần. Một phần nặng về định nghĩa và lý thuyết dựa theo Kinh điển, một phần "bàn rộng" và "tán rộng" những gì đã ghi trong Kinh sách. Dù sao, đây cũng là một bài viết ngắn, dưới hình thức một bài báo, không có chủ đích giải quyết hết vấn đề và thật sự ra cũng khó rứt bỏ hay đuổi bỏ con Ma ra khỏi đầu chúng ta lắm.

1. Phần thứ nhất: Định nghĩa về Ma
Ma là gì? Chữ Ma do chữ Phạn "Mâra" mà ra. Tiếng Tây tạng là bDud, tiếng Nhật là Hajun, tiếng Hán là Mo, nhưng người Trung Hoa thường âm từ tiếng Phạn và gọi là Ma-la, vần "r" không có trong tiếng Trung Hoa nên người Trung Hoa thường gọi là Ma-la thay vì là Ma-ra. Kể dài dòng ra như thế để thấy rằng không phải chỉ có người Việt Nam ta mới "thấy" Ma.
Kinh sách định nghĩa chữ Ma (Mâra) là "Quỷ sứ cám dỗ", một thứ "Quỷ tinh ranh" tượng trưng cho những xu hướng tâm thần bấn loạn và lầm lẫn, cản trở con đường tu tập của một hành giả.
Trong Phổ diệu Kinh (Latitavistara), bộ Kinh kể lại cuộc đời của Đức Phật, cho biết Ma đã từng dùng mọi xảo thuật ma quái để quấy nhiễu và cản trở không cho Vị Phật tương lai là Thích Ca Mâu Ni đạt được Giác ngộ. Trong đêm trước khi Ngài thành Phật, Ma dẫn ba con ma nữ đến quyến rũ Ngài, lại đưa ma quân đến để ném đá như mưa vào Đức Phật. Ma đòi Phật phải nhường ngai lại cho hắn, vì hắn nhất định bảo rằng không có gì chứng nhận Phật đã đạt được Giác ngộ. Phật liền dùng tay phải chạm xuống mặt đất, mặt đất liền bị chấn động và rung chuyển ầm ầm, chứng minh cho sự Giác ngộ đích thực của Ngài. Ma liền biến mất như bị phù phép vậy.
Như vừa kể trên đây, ta có ma nữ, ma quân... vì thế ta cũng có Ma vương. Ma vương cũng là cách dịch khác của chữ Mâra. Ma vương là Vua các loài Thiên ma, ngụ ở cảnh trời gọi là Tha-hoá Tự-tại thiên (Paranirmitavasavartin), tức là cảnh trời thứ sáu trong cõi Dục giới, tức là cảnh giới thấp nhất trong Tam giới. Ma vương có phép thần thông, chuyên dùng ma thuật để phá rối, ngăn cản sự tu tập của những vị Bồ-tát. Ma vương còn có tên là Ma vương Ba-tuần, tức là tên của Tha-hoá Tự-tại thiên vương.
Vậy theo Kinh sách, có bao nhiêu thứ Ma tất cả? Thật ra Ma nhiều lắm, nhưng tựu trung được phân loại ra làm bốn thứ Ma. Cách phân loại lại khác biệt nhau giữa Thừa Kinh điển (Sutrayâna) và Kim cương thừa (Vajrayâna). Vì thế cộng lại có đến tám thứ Ma (Bát ma).
Theo Thừa Kinh điển (Sutrayâna) bốn loại Ma (Tứ ma) là:
1. Ma của cấu hợp (Skandhamâra): đó là thứ ma quái làm cơ sở cho khổ đau và cái chết mà ta phải gánh chịu trong cõi luân hồi. Con ma đó gọi là "con ma của cái chết". Kinh sách tiếng Hán gọi là Ấm ma, Uẩn ma, hay Ngũ chúng ma.
2. Ma của dục vọng (Klésamâra): bao gồm những dục vọng, ham muốn, thèm khát, đẩy ta vào những hành vi tiêu cực, tạo ra nghiệp xấu, thu ngắn kiếp nhân sinh, đưa ta vào vòng khổ đau của cõi luân hồi. Đó là "con ma gây ra cái chết", kinh sách gốc Hán gọi là Phiền não ma.
3. Ma của thần chết (Mrtyumâra): đó là sự hủy hoại, cứu cánh tất nhiên của sự sinh, hậu quả của bản chất cấu hợp của mọi hiện tượng, tức là hiện tượng Vô thường. Con ma này có tên là "con ma vô thường", kinh sách tiếng Hán gọi là Tử ma.
4. Ma của những con trời (Devaputramâra): bao gồm những thứ ma làm cho ta đãng trí, phân tâm, xúi dục ta bám níu vào ảo giác của những vật thể bên ngoài, cản trở sự tu học. Đó là "con ma bấn loạn", kinh sách tiếng Hán gọi là Tha-hoá Tự-tại Thiên tử ma, gọi tắt là Thiên ma, tức thần thánh tay sai của Thiên-hóa Tự tại vương.
Theo Kim cương thừa (Vajrayâna) bốn thứ Ma lại được định nghĩa như sau:
1. Ma xiềng xích (tiếng Tây tạng: thogs-bcas-kyi bdud): con Ma này rất hung tợn và lộ liễu, gây ra phiền não, binh tật và chướng ngại bên ngoài. Đây là con Ma của sự bám níu và ghét bỏ đối với những vật thể và hiện tượng chung quanh. Kinh sách tiếng Hán gọi là Phiền não ma.
2. Ma thả lỏng (tiếng Tây tạng: thogs-med-kyi bdud): đó là ba thứ nọc độc chính và năm thứ nọc độc phụ, tức là những dục vọng chính yếu và thứ yếu, những tư tưởng hay tư duy bấn loạn chưa được khắc phục, xâm chiếm tâm thức ta và gây ra khổ đau. Kinh sách gốc tiếng Hán gọi là Tâm ma.
3. Ma khánh hỷ (tiếng Tây tạng: dga' -brod-kyi bdud): đó là con ma đội lốt hân hoan, vui thích, con ma của sự tự mãn, tự đại, thỏa mãn với chính mình, xem mình là đặc biệt hơn cả mọi người, bám níu vào những "kết quả" và "kinh nghiệm" thiền định của mình, cho đấy là đúng và trở nên hãnh diện. Kinh gốc tiếng Hán gọi là Thiện căn ma.
4. Ma kiêu căng (tiếng Tây tạng: snyems-byed-kyi bdud): đó là ma ngạo mạn, tự mãn, tự kiêu. Đấy là bản chất căn bản của con ma mang tên là cái "tôi", cái "ngã". Kinh gốc tiếng Hán gọi là Tam muội ma.
Có sách còn phân chia ra làm mười thứ Ma (Thập ma), như vậy ngoài tám thứ ma đã kể trên còn có:
Thiện trí thức ma: tức là những kẻ thông hiểu được đạo lý, nhưng tham tiếc đạo lý ấy mà giữ nguyên cho mình, chẳng chỉ dạy cho kẻ khác.
Bồ-đề Pháp-trí ma: là những kẻ tuy đã phát lộ được trí tuệ, nhưng vẫn còn chấp trước làm che lấp mất chính đạo.
Đã nói đến danh từ và định nghĩa thì cũng mạn phép người đọc kể ra cho hết:
Ma cảnh: khung cảnh do ma quái tạo ra để phỉnh gạt và ngăn trở người tu hành.
Ma chướng: những chướng ngại, ngăn chận việc tu hành và sự thăng tiến của trí tuệ.
Ma duyên: còn gọi là ác duyên, tức là những xui khiến đưa đến nghịch cảnh, bất lợi hay độc hại.
Ma đàn: là sự bố thí của ma, không phải là của người. Đó là sự bố thí của những kẻ mang lòng tà, lòng tham, cầu danh, cầu lợi mà bố thí, sợ oai lực của ma quỷ mà bố thí, muốn tránh tại nạn mà bố thí. Chữ này nghịch nghĩa với chữ Phật đàn, tức là bố thí mà không biết là đã bố thí, không biết bố thí cái gì và bố thí cho ai, bố thí chỉ vì lòng từ bi vô biên mà thôi. Bố thí như thế còn gọi là Bố thí Ba-la-mật.
Ma đạo: đường đi của ma, chốn lui tới của ma, còn gọi là ma giới, tức cảnh giới của ma.
Ma lực: sức mạnh tiêu cực, kích động những hành vị xấu hay hung ác.
Ma nghiệp: nghiệp ác.
Ma ngoại: là những kẻ phỉ báng, chê bai Đạo pháp.
Ma Phạm: (Mâra hay Brâma) tức là Ma vương ở cõi Phạm vương, gọi tắt là Ma Phạm. Chữ Ma vương đã được giải thích trên đây, đó là Thiên-hoá Tự tại vương, còn Ma Phạm hay Phạm vương hay Phạm thiên vương là Chúa tể của cõi Ta-bà này, quyền lực của Ma Phạm vượt lên đến chỗ cao nhất trong cõi Sắc giới, cai quản và điều hành cả thế giới này. Kinh điển còn gọi "Ngài" là Ngọc Hoàng Thượng đế.
Ma thiền: phép thiền định tà ma, sai lầm, liên hệ với ma quỷ, đi ngược với chánh đạo.
Ma thuật: nói chung là những hành vi mê tín, dị đoan, phản khoa học.
Ma sự: chữ này rắc rối lắm, đại cương là những sự việc, những hành vi sai lầm, ngăn cản sự tu học và con đường chánh Pháp. Kẻ thực thi ma sự, là những kẻ chạy theo lục trần: yêu sắc đẹp, thích tiếng êm tai, ưa thích mùi thơm, miếng ngon, thích đụng chạm và sờ mó những gì ưa thích, ước mong những cảnh huống thích nghi. Ma sự cũng là việc làm của những người tu hành phá giới, chạy theo danh lợi, sắc dục. Ma sự cũng có thể dùng để chỉ người ngồi thiền mà ngủ gục, bám vào những cảnh hiện ra khi thiền, cảm thấy bấn loạn, thấy cảnh dữ mà bỏ thiền. Người xuất gia mà thực thi ma sự tức là còn ham thích luận bàn thế sự, chiến tranh, tình yêu nam nữ, xu nịnh những hàng cư sĩ hay người lui tới chùa có của cải, cúng dường nhiều, hoặc vướng vào phép bói toán, đoán số mệnh, ếm ma, trừ quỷ...

2. Phần thứ hai: Bàn về Ma
Trên đây là những gì Kinh sách nói về Ma, định nghĩa và phân loại về Ma. Dựa trên đó ta thử phân tích, tổng kết, tìm hiểu thêm về Ma, xem Ma ra sao, Ma thật sự là cái gì? Tiếp theo, ta rút tỉa từ những phân tích ấy, từ những hiểu biết ấy để ứng dụng vào cách cư xử và thái độ của ta đối với Ma.
Ma hay Mâra là một biểu tượng trong Phật giáo và cả Ấn Độ giáo, dùng để chỉ một vị trời hay vị một thần đứng vào hàng đầu, cao siêu và mạnh hơn hết, giống như định nghĩa của chữ Ma Phạm vừa nói trên đây. Tên của Ma có nghĩa là thần chết. Ma là chúa tể của mọi dục vọng, thèm khát, ham muốn, mọi thứ khoái lạc do thân xác. Đó là Chủ nhân ông của thế giới vật chất và hiện tượng. Trọng trách và bổn phận của người Chủ nhân ông này là phải điều khiển và canh chừng sự vận hành của thế giới đang diễn biến chung quanh ta.
Ma không những tượng trưng cho dục vọng hiển hiện như vừa kể mà còn tượng trưng cho những thèm khát tiềm ẩn bên trong ta, không bộc lộ ra ngoài, chúng thuộc về bản năng, phát sinh từ những tâm thức có thể rất tinh khiết, từ những nghiệp sâu kín và những cấu hợp của thân xác. Con Ma này nằm trong thịt da của ta, trong tâm thức ta, trong sự vận hành của cơ thể ta.
Ma còn mang một cái tên nữa mà ít Kinh sách nói đến, đó là con ma Ái dục (Kâma, xin đừng lầm lộn với karma), đó là sự yêu mến, lòng yêu thương, nôm na là tình yêu. Con ma Ái dục ấy là một thứ bản năng, tinh anh của sự sống, luôn luôn "canh chừng" và "chăm lo" cho ta. Con Ma đó hiển hiện một cách tuyệt vời, thật đẹp, nó làm phát sinh ra mọi hình tướng. Con ma đó hiến dâng cho những hình tướng biến động do chính nó tạo ra, mọi thứ lạc thú và mọi cảnh giới tuyệt đẹp thuộc vào thế giới luân hồi, tạo ra mọi thứ hạnh phúc của thế tục.
Vấn đề mấu chốt và gay go là Ma không bao giờ chú ý đến hậu quả của những thứ mà nó đã tạo ra. Nó rất hào phóng, cho không tiếc tay, tham bao nhiêu nó cũng cho, "yêu" hay "bám níu" bao nhiêu nó cũng sẵn sàng tiếp tay. Nhưng hậu quả của những ảo giác ấy do nó đem tặng cho ta chỉ là khổ đau mà thôi. Điều này Ma không cần biết. Ma cho ta lạc thú, nhưng đồng thời cũng tập cho ta thèm khát lạc thú. Điều này có nghĩa là Ngũ uẩn quen dần với với những lạc thú ấy, lệ thuộc vào những lạc thú ấy và bị kích động bởi những lạc thú ấy. Ma vừa là kẻ sáng tạo và đồng thời cũng là kẻ phá hoại là như thế đó.
Khi nhìn Ma dưới khía cạnh này, ta sẽ hiểu ngay là ma ở đâu. Ma ngự trị chính trong đầu của ta. Ma nằm sẵn trong tâm thức ta, trong da thịt ta, trong sự vận hành của thân xác và tâm trí ta. Nói cách khác Ma không nằm bên ngoài ta, không có ta thì cũng không có Ma. Ma quân hay những đạo binh ma chính là sự thèm khát nhục dục, chán nản, buồn bực, đói khát, bám níu, tham lam, chiếm giữ, lười biếng, đờ đẫn, sợ hãi, nghi ngờ, hận thù, tiện nghi, kiêu căng, tự kiêu, yêu thương một cách ích kỷ, tự mãn với cái "tôi" của chính mình v.v... và v.v... Tất cả những thứ này được Kinh sách phân ra làm tám thứ hay mười thứ ma: Uẩn ma, Phiền não ma, Tử ma, Thiên ma, Tâm ma, Thiện căn ma, Tam muội ma... như đã đề cập trong phần thứ nhất của bài viết.
Để tránh cách nói tổng quát, siêu hình của giới trí thức hay học giả, ta thử đưa ra một vài ví dụ thực tiễn hơn của những con người bình dị như chúng ta đây. Chẳng hạn khi ta bước vào một căn phòng tối, ta thấy trong một góc phòng có một con Ma, tóc xõa, mặt xanh mét, đang nhe răng trợn mắt... và cười với ta. Nếu ta bình thản, từ tốn, không khiếp sợ, tiến thẳng đến con Ma, ta sẽ không thấy nó khi ta đến gần. Vì đấy chỉ là những ảo giác do ta tạo ra trong đầu hay do bóng tối mờ ảo nuôi thêm trí tưởng tượng của ta. Nếu như ta vẫn "không dám" tiến đến gần, ta cứ bật đèn lên, thì con Ma cũng biến mất. Nhưng nếu ngược lại, ta hét lên một tiếng, "vắt giò lên cổ" mà chạy, thì nhất định con Ma sẽ đuổi theo, và nhất định ta sẽ không thể nào chạy nhanh hơn nó được, vì chính ta cõng nó mà chạy. Nó ở trong đầu của ta, trong thân xác đang nổi da gà của ta. Tệ hơn nữa, có thể ta lại đem chuyện "thấy ma" ấy mà vừa thở hổn hển, vừa kể như thật với người khác, tức là ta giới thiệu con Ma mà ta thấy cho một người thứ hai. Người này có thể vừa thích thú vừa sợ sệt mà đón rước nó, đem cất giữ nó vào trong đầu. Người này lại kể cho người thứ ba, người thứ ba lại kể cho người thứ tư. Mỗi lần như vậy thì con ma mà ta thấy lại trở nên hung tợn hơn và khiếp đãm hơn một chút, mắt nó trợn to hơn, răng nó dài hơn, và nó cười rùng rợn hơn. Biết đâu sau một vòng, người nghe sau cùng lại vô tình kể lại cho ta nghe về con ma này, có thể ta còn sợ nó hơn cả con ma ta từng thấy "thật" trước đây.
Phật có đưa ra một ví dụ dễ hiểu. Khi bước ngang ngưỡng cửa lúc nhá nhem tối, ta thấy một con rắn. Ta hoảng hốt và giật lùi lại. Nhưng nhìn kỹ thì đấy chỉ là một cuộn dây thừng. Con rắn ở trong đầu ta. Con Ma cũng ở trong đầu ta là như vậy. Khi ta ngủ mê, ta thường chiêm bao "thấy ma". Ta hét lên hay la ú ớ... Giật mình thức dậy, ta không thấy ma. Khi ngủ, ta nhắm mắt, nằm trên giường và trong gian phòng tối om, làm gì ta có thể dùng mắt mà thấy được. Cái thấy ấy là do tâm thức của ta thấy, hình ảnh con ma hiện lên từ tiềm thức ta, từ nơi a-lại-da-thức (âlayavijnâna) của ta, sinh khởi từ những xúc cảm bấn loạn và tiềm ẩn trong ta, từ những nghiệp sâu kín của ta.
Tóm lại, và cũng xin lặp lại, con Ma nằm trong tâm thức ta, trong tâm trí ta và trong tâm linh ta. Tại sao? Vì Ma được sinh ra từ những tư tưởng của ta. Nó chính là Chủ nhân ông của mọi tư tưởng. Chính nó, xuyên qua quá trình vận hành của ngũ uẩn (skanha), đã làm phát sinh ra tư tưởng của chính ta. Những tư tưởng đó gồm có dục vọng và thèm khát, lôi theo những hành vi nhắm vào mục đích làm thoả mãn những thèm khát và dục vọng đó. Hậu quả đưa đến là khổ đau. Trong đầu ta, Ma luôn luôn nhắc nhở ta phải bảo vệ cái tôi, cái ngã của ta, và tùy theo từng người, nó dùng cách quát nạt, ra lệnh hay vỗ về bằng những tiếng êm ái hay hét lên the thé..., mục đích để in đậm trong tâm trí ta sự hiện diện của cái ngã.
Ma là cái ngã đang thống trị ta, làm cho ta tham lam, ích kỷ, xúi dục ta, nịnh hót ta, biến ta thành đốn mạt, nói dối và quỷ quyệt. Ma không phải chỉ biết doạ nạt suông mà thôi. Những hành vi của Ma làm phát sinh ra Thế giới luân hồi (Samsara). Thế giới luân hồi nằm trong sự kiềm tỏa của Ma, và Ma lại nằm trong tâm thức của ta. Vì thế có thể nói Ma chính là một hình thức của Vô minh hay một cách nói để so sánh với Vô minh. Chính Ma đã tung hoành trong tâm thức ta, tạo ra u mê, lầm lẫn và khổ đau. Chính Ma kích động để ta tạo nghiệp.
Chu kỳ của sự sống là cách vận hành của bánh xe luân hồi do Ma tạo ra, và đó cũng là sự vận chuyển của cái ngã. "Tỉnh thức" hay "Giác ngộ" tức là nhận thức được quá trình đó, sự vận chuyển đó là không thật, chúng chỉ là ảo giác, chỉ là Ma, chỉ là Vô minh mà thôi.
Tóm lại và để kết luận, ta không thể đuổi con Ma ra khỏi phòng, ta cũng không thể chạy trốn nó được, mà ta phải đuổi con Ma ra khỏi đầu ta. Ta không thể dùng bùa chú, phù phép hay nghi lễ để đuổi Ma. Ta phải đuổi Ma bằng cách tu tập, bằng cách khắc phục Vô minh, đem đến cho ta một tâm linh minh mẫn, an bình, trong sáng và rạng rỡ, không còn bóng dáng một con Ma nào cả.
Hoàng Phong

 


 

 

 

_________________________________________________________

Nhũng Bài Trước ---------------------------------------------