banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

 

Cái Chết của Bác sĩ KRAINICK Mậu Thân

 

Elje Vannema

Nhóm nạn nhân dân sự ngoại quốc tại Huế lớn thứ ba là những người Đức. Sau bốn ngày chiếm thành phố, vào ngày mồng 4 tháng hai, ba người bận ka ki tới căn phòng của bác sĩ Krainick. Các người Đức cư trú một trong năm căn nhà tầng nhiều phòng ở của Đại học.
Dẫn đầu nhóm ba người là Lê Huy Chước. Trước đây y là một công nhân bệnh viện, công việc của y nhiều lúc do các bác sĩ Đức tài trợ. Bác sĩ Krainick, Discher, Alterkoster và bà Krainick đã ở Việt Nam nhiều năm. Discher là người tới sau cùng, mới hơn một năm. Các y sĩ này nổi tiếng không những ở bệnh viện mà cả ở trường y, rất được dân và sinh viên mến chuộng.
Dù công việc đa đoan và dù có sự chống đối của các đồng nghiệp người Việt và công chức chính quyền. họ đã tân trang lại phòng khám bệnh cùi và xây thêm một bệnh viện tâm thần. ông giám đốc bệnh viện đã nói với họ: "Tại sao các anh giúp những người đó? Bọn chung toàn là cộng sản cả".
Đã tám năm họ hoạt động ở vùng quê và trong các làng xã chung quanh thành phố, thường với sự trợ tá của các sinh viên thực tập. Tên tuổi của họ được nhiều người biết, ngay cả những người theo Mặt trận. Năm 1962 vợ chồng bác sĩ Krainick lập một phòng chẩn miễn phí 30 giường ở Đan Nghi, một địa danh sâu trong vùng đất Cộng sản kiểm soát... Họ tới đó đều đều mỗi cuối tuần để chẩn bệnh, thường bị cộng sản chặn đường nhưng không bao giờ bị bắt "bởi vì mấy ông ấy đi giúp người".
Cách đây hai tháng tôi cố thuyết phục bác sĩ Krainick rời Việt Nam. Có nhiều (dấu hiệu bất an cho các tỉnh phía bắc. Trên một chuyến ra Huế và Quảng Trị trong tháng mười một, ông mời tôi đi Đan Nghi để xem công việc phòng chẩn của ông. Khi rời Quảng Trị trở về tôi lọt vào một ồ phục kích. Một thiếu tá và một trung sĩ Mỹ từ hướng đối diện tới bị tử nạn. Như một phép lạ tôi và người y tá trợ lý may mắn thoát thân. Tôi báo cáo cho bác sĩ Krainick biết mình đã không tới Đan Nghi được, đồng thời cho ông hay có nhiều chuẩn bị ngấm ngầm cho một cuộc tấn công vào thành phố. Một lần nữa tôi thúc ông rời Huế.
Chúng tôi ở lại Quảng Trị hai ngày với các linh mục Việt Nam ở Nhà thờ chính toà. Các vị này cũng xác quyết như tôi. Nhờ có liên lạc mật thiết với dân chúng nên họ có nhiều nguồn tin và dữ kiện. Tôi gặp lại bác sĩ dân chót dịp cuối tháng mười một tại Đà Nẵng. Một dân nữa tôi nhắc nhở ông về cảm giác bất an sắp tới. Tôi bảo ông đã phục vụ khá đủ cho Việt Nam rồi, giờ nên hồi hương nghỉ ngơi. Nhưng ngoài tư cách là một thầy thuốc và giáo sư, ông còn là một con người rất mẫn cảm với một ý thức nghề nghiệp không ai sánh được. ông cho hay ông muốn đi nhưng bà vợ muốn ở lại. Đợi niên học hết thì hai ông bà sẽ trở về. Trước khi chia tay, tôi lặp lại quan điểm của tôi. Rồi chia tay. Tôi nhìn ông bước đi, cảm thấy bất lực vì không giúp được gì ông, nhưng nghĩ rằng đây là lần gặp cuối.
Ngày định mệnh ấy. mồng 5 tháng hai, du kích và nằm vùng địa phương của Mặt trận lại tới. Lần này với chiếc xe buýt nhỏ hiệu Volkswagen, có hai bộ đội miền Bắc đi cùng. Thoạt tiên họ hỏi tìm một giáo sư người Việt, người mà hôm trước đó đã bảo với họ rằng đây chẳng còn người ngoại quốc nào nữa. Đoạn tiến ngay lên lầu nơi các người Đức ở. Họ bắt ba bác sĩ đi, để bà Krainick ở lại, nhưng bà quyết theo chồng. Bác sĩ Discher và Alterkoster thì chẳng phản đối gì. Đám đông dân tụ lại trên sân cỏ bao quanh toà nhà. Họ biết rõ các "tù nhân", những người họ không những tìm tới ở bệnh viện, mà thỉnh thoảng vẫn đến thăm tại nhà. Họ biết cuộc đời của những người kia chỉ có phục vụ nhân loại một cách vô vị lợi, dạy học và cứu vớt người bệnh. Bao nhiêu năm liên tục những người đó dạy sinh viên y khoa, chạy tiền nuôi bệnh viện, xây bệnh xá tâm thần và phong cùi, mở bệnh xá thí ở vùng quê cách thành phố 30 dặm. Bác sĩ Krainick được mọi người yêu mến và kính phục. ông làm việc tại Việt Nam đã gần 10 năm. Giờ thì đám đông chỉ biết đứng đấy nhìn xem, bất lực. Mặt tái xanh khi thấy ba bác sĩ và bà Krainick bị dẫn đi. Rồi họ tan hàng trong im lặng. Ai nấy âm thầm rút vào nhà mình, âu lo không biết bao giờ tới phiên mình...
Các bác sĩ đều là người công giáo và họ đã đến Việt Nam dưới thời ông Diệm. Sau khi ông Diệm bị lật đổ họ được khuyên nên rời xứ, nhưng lại dược mời sang ngay sau khi tình hình lắng dịu. Trong thời gian nổi dậy của các phật tử, bà Krainick có lần tham gia biểu tình chống lại các nhóm này và người ta nói là bà đã một hai lần tố giác cộng sản.
Bác sĩ Alterkoster quen biết ông trưởng ty cảnh sát và cũng đã tham gia biểu tình chống lại các cuộc xuống đường của các "Uỷ ban Tranh đấu Phật giáo". Bác sĩ
Discher, người tới sau cùng, và bác sĩ Krainick là hai người chẳng bao giờ nói tới chuyện chính trị. Bác sĩ Discher vừa đưa vợ con về Đức và mới trở lại Việt Nam trong tháng giêng 1968. Khi tới Hàng không Việt Nam đặt vé đi ngày 24 tháng giêng, người ta khuyên ông chớ nên ra Huế, vì tình hình không ổn. Nhưng ông cho hay ông phải có mặt với sinh viên, cho dù lúc đó còn đang là mùa nghỉ hè. Hàng không Việt Nam không bay. ông liền sang đi nhờ máy bay Mỹ ra Huế.
Những người bị bắt được đưa về Chùa Từ Đàm phía nam thành phố. Ngày hôm sau chuyển tới Chùa Tăng Quang, rồi tới một chùa nhỏ có tên là Tường Vân. Chùa này được bao bọc bởi vài căn chòi, nằm cách Tăng Quang độ một dặm. Cha Châu, một linh mục công giáo làm việc với tôi hồi còn ở trường Pelletier, ngày mồng 6 tháng hai được yêu cầu chuẩn bị "thúc ăn Mỹ" cho các bác sĩ Đức. Ngày 7 tháng hai, một ký giả Đức theo chân các thành viên của Tổ chức Cứu trợ Công giáo (ICC) cố vào tìm các bác sĩ tại căn nhà họ ở trước đây, nhưng bị lính Mỹ cản. Ngay cả vào để dọn đồ cũng không được phép. Tôi bước tới cách nhà độ 15 mét thì một anh lính Mỹ chĩa súng vào người và nói "Ông kia... quay ra". Khi tôi bảo là tôi có quyền vào nhận diện dấu vết những gì đã xây ra, thì anh lính lầy súng bảo tôi đi. Họ bận rộn khiêng vác bàn ghế, tranh ảnh và một tấm gương ra khỏi nhà. Mãi tới đầu tháng tư thì Anh, một sinh viên y khoa, được một vị sư có tên là Châu báo cho biết có một ngôi mộ trong miếng đất nằm giữa cây cối, cách Chùa Tường Vân nửa dặm về phía nam. Anh và hai sinh viên nữa tới đó vào chập tối. Quá trễ nên ngày hôm sau quay lại, đào xác các thầy mình lên và chuyền về Sàigòn để hai bác sĩ người Pháp nhận diện. Vê sau bác sĩ Le Hir cho tôi hay có nhiều vết thương nơi đầu và mình, nhưng vết thương kết liễu là viên đạn xuyên qua đầu và ót Tháng năm, Toà đại sứ Đức ở Sàigòn chính thức thông báo là các công dân của họ bị hành quyết.
Họ bị giết tại chỗ hay ở Chùa rồi được chuyển ra đây? Tại sao mồ họ được tìm thấy quá trễ như thế? Quân cộng hoà đã tái chiếm vùng này từ ngày 26 tháng hai. Thế tại sao không người lính nào để ý tới mộ này trong khi vị sư đã biết nó từ lâu? Chùa Tường Vân có kiến trúc đẹp. Nó không bị phi sơ chút gì, trong khi ngôi chùa nhỏ hơn nơi giam giữ các bác sĩ và vùng chung quanh bị phá nát bới bom đạn suất trong thời gian từ 21 tới 26 tháng hai. Các nạn nhân ở đâu khi chiến trận xây ra? Dân làng ở gần Chùa bảo không hay biết chi cả. Tôi hỏi bằng tiếng việt một ông 50 tuổi khi hai người đứng một mình trên đống gạch đổ nát của Chùa thì ông ta tỏ ra ngập ngừng rồi im ngay. Ông chỉ sang bà già nhà bên. Bà này, cô con gái đứng tuổi của bà và một cô gái trẻ với đám con trả lời rằng họ nằm miết dưới hầm nên không hay biết gì cả. Có lẽ họ không hay biết gì thật. Mà cũng có thể họ biết nhưng không muốn bị phiền lụy bởi chính quyền hoặc Mặt trận. Có thể, Mặt trận răn đe họ phải im. Sau này Sư Châu kể rằng một trong các chú tiểu của ông thấy người ta đào hố và nghe thấy tiếng súng. Ngày hôm sau chú đi ra xem. Quá sợ nên mãi mấy tuần sau mới dám hé môi.
Bị bắn sát từ sau gáy và đầu nên xương mặt họ một phần bị bung ra - đó là số phận dành cho họ. Ngày 13 tháng tư hài cốt của họ từ biệt Việt Nam. Linh cửu được đưa ra phi trường trên chiếc xe do bốn ngựa kéo. Theo sau là 250 sinh viên y khoa Huế và Sàigòn, đội đưa tang và đội quân danh dự của Quân lực việt Nam Cộng Hoà. Sinh viên cầm biểu ngữ nói lên lòng biết ơn công lao các bác sĩ. Một biểu ngữ ghi: "Đại học Huế không quên các giáo sư người Đức". Trước khi linh cửu được đưa lên máy ban, nghi lễ tiễn biệt diễn ra thật cảm động. ông Trân, Thứ trưởng Bộ giáo dục kỹ thuật và cao đẳng phát biểu: "Bao nhiêu năm tôi đã tham dự nhiều buổi lễ ghi nhớ các anh hùng hy sinh cho Tổ quốc, nhưng chưa bao giờ cảm động như hôm nay khi tiễn biệt những người dân sự này đã chết cho lý tưởng cao cả vì tha nhân và nhân loại".

 

 

 

Huyền Thoại của một vụ Sát Nhân

Vũ Hải (SGT)

Đêm hôm đó cô bé Polly Klaas 12 tuổi vô cùng sung sướng và hồi hộp chờ đợi hai cô bạn thân nhất là Kate và Gillian được phép đến ở lại qua đêm tại nhà của cô. Từ chiều Klaas đã lăng xăng chuẩn bị mọi thứ cho các bạn như chăn màn, thức ăn mà hai cô bạn ưa thích và cả những trò chơi cho buổi tối hôm đó. Mẹ của Klaas là Eve Nichol hạnh phúc nhìn con gái bồn chồn đợi bạn và ngạc nhiên nhận ra rằng con gái của mình mới 12 tuổi mà đã to cao và xinh đẹp như một thiếu nữ dậy thì. Khi trời gần tối, Klaas ra phía trước nhà ngồi ngóng bạn và chẳng bao lâu Kate đến, rồi cả hai cùng ngồi tán chuyện líu lo và chờ đợi Gillian. Tuy nhiên Klaas không ngờ rằng trong công viên phía bên kia đường có một người cũng đang nôn nóng chờ đợi cô.
Hắn là Richard Allen Davis, 42 tuổi, một tên dâm tặc chuyên nghề bắt cóc hiếp dâm đã sống hầu như gần hết nửa cuộc đời của hắn trong các nhà tù trọng án. Theo dõi Polly Klaas liên tục trong nhiều ngày qua, nay hắn ngồi ẩn mình trong công viên mắt nhìn chằm chằm vào thân hình nảy nở của cô bé Klaas, vừa hút cần sa vừa uống rượu và tính toán kế hoạch cho một tội ác mới. Khi Gillian đến, cả ba cô bé sung sướng ôm nhau nhảy nhót và sau đó kéo nhau vào nhà, biến buổi tối thành một cuộc vui tưng bừng. Khi đêm đã khuya, bà mẹ Nichol đưa đứa con trai vào phòng mình ngủ và dặn dò ba cô bé không nên thức quá khuya. Kate, Klaas và Gillian tiếp tục chơi trò trang điểm và bôi trát đủ thứ mỹ phẩm của Nichol lên những khuôn mặt son trẻ và hạnh phúc.
Khi Klaas rời khỏi phòng để đi lấy túi ngủ cho hai bạn thì tên Davis đã đứng sừng sững ngay trước cửa phòng của cô tự hồi nào. Hắn dí con dao to bản, sắc như nước, vào cổ của Klaas và dọa sẽ cắt cổ Klaas nếu cô chỉ cần kêu lên một tiếng nhỏ.
Sau đó Davis trói gô hai cô bé Kate, Gillian, trùm mấy chiếc bao gối vào đầu của hai cô và bảo hai cô bé đếm từ 1 đến 1000 thì sẽ thấy Klaas quay trở lại an toàn. Tuy nhiên vĩnh viễn chẳng bao giờ Klaas quay trở lại...
Hai tháng sau người ta tìm thấy thi hài thối rữa của Klaas trong một cánh rừng hoang. Cô bé đã bị cưỡng hiếp và bị thắt cổ chết thê thảm. Thủ phạm của vụ án là Richard Allen Davis, sinh ngày 2 tháng 6 năm 1954, đã bị bắt và bị tuyên án tử hình ngày 5 tháng 8 năm 1996. Ngay khi bị tuyên án, Richard Davis đã có hành động chửi thề ngay tại tòa bằng cách dơ hai ngón tay giữa của hai bàn tay về phía quan tòa. Sau đó, Richard Davis còn tàn nhẫn và bỉ ổi tuyên bố trước tòa, "Khi tôi hiếp con nhỏ Klaas, nó la lên bảo tôi đừng có làm vậy giống bố nó! Nó sợ lắm!" Trước những cử chỉ và ngôn ngữ tàn nhẫn, bỉ ổi của Richard Allen Davis, chánh án Thomas C. Hastings khi tuyên án tử hình, đã nói: "Mỗi khi phải tuyên án tử hình cho bị cáo, tòa đều thấy vô cùng khó khăn và ngần ngại. Nhưng qua cách hành xử của bị cáo hôm nay, tòa thấy việc tuyên án tử hình bị cáo đã trở nên dễ dàng hơn".
Vụ án mạng xảy ra tại California năm 1993, tuy nhiên cái chết của Klaas đã gây thành một cơn bão tố chính trị tại Hoa kỳ và lan sang cả Úc mà hậu quả của nó vẫn còn tồn tại mãi cho đến hôm nay.
Trước đó một năm một vụ sát nhân khác cũng xảy ra tại California. Lần đó nạn nhân là cô thiếu nữ Kimber Reynolds từ trường trở về nhà và dừng xe tại một siêu thị để mua mấy món đồ cho gia đình. Khi cô thiếu nữ bước ra xe thì hai tên côn đồ chận cô lại và đòi Reynolds đưa hết ví tiền cho bọn chúng. Là một cô gái can đảm Reynolds kiên quyết từ chối và một trong hai tên cướp là Joe Davis, 25 tuổi, một tên từng nhiều lần vào tù ra khám, đã rút ra một khẩu súng 37 ly và bắn xuyên sọ của Reynolds ngay tại chỗ. 26 tiếng đồng hồ sau Reynolds từ trần trong bệnh viện. Đau đớn cực độ trước cái chết của con mình, Mike Reynolds quyết định vận động quốc hội California thông qua một đạo luật mới chống tội phạm. Vài ngày sau khi chôn cất con gái, Mike mời nhiều luật sư, chính trị gia và những nhà hoạt động xã hội đến dự một buổi barbecue trong sân nhà của mình và họ đã bàn đến việc bỏ tù chung thân những tên côn đồ với ba lần phạm trọng tội.
Khởi đầu luật này gọi là "Luật bất quá tam" (Three strikes law), có nghĩa là chỉ ba lần phạm tội là coi như một phạm nhân vĩnh viễn bị cách ly với xã hội, bất kể lần thứ hai, lần thứ ba phạm nhân phạm tội nặng hay nhẹ. Dù vận động ráo riết với niềm tin rằng xã hội sẽ an toàn hơn với luật tù bắt buộc nói trên, nhóm vận động của Mike Reynolds gặp phải sự đáp ứng hời hợt của công chúng. Trong vòng 150 ngày nhóm của ông cần phải thu được 400 ngàn chữ ký của công chúng để trình cho quốc hội tiểu bang California, nơi "Luật bất quá tam" được xem xét để có thể biến thành luật chính thức của California. Tuy nhiên sau nhiều tuần vận động, nhóm của Mike chỉ xin được có 15 ngàn chữ ký. Trong hoàn cảnh khó khăn đó cái chết của Klaas đã làm bùng lên sự căm giận của dư luận và chỉ trong vòng vài tuần sau khi tên Davis bị bắt và xác chết của Klaas được tìm thấy, Mike đã nhận được 800 ngàn chữ ký ủng hộ "Luật bất quá tam" mà nhóm của ông đã vận động từ một năm qua.
Lúc đầu khi Mike gọi điện đến cho cha của Klaas là Marc để nói về "Luật bất quá tam", Marc không ngần ngại ủng hộ ngay và chính ông nội của Klaas là Joe cũng đồng ý rằng xã hội cần phải loại bỏ những tên tội phạm sau khi chúng phạm tội ba lần. Tuy nhiên ngay sau đó ông già Joe là người đầu tiên nhận ra tính chất bất công của dự luật. Mặc dầu đau đớn và căm thù tội ác trước cái chết thương tâm của cháu, ông Joe nhận ra rằng nếu luật bất quá tam trở thành luật chính thức thì đa số những kẻ bị đạo luật này bỏ tù sẽ là những kẻ vi phạm những tội danh không bạo lực và chính tầng lớp thanh thiếu niên Mỹ da đen sẽ là đối tượng chính của đạo luật nói trên. Ông Joe cho biết không thể so sánh việc đứa cháu gái của ông bị bắt cóc với việc chiếc máy radio của ông bị đánh cắp được. Bắt cóc và hãm hiếp, giết người là bạo lực trong khi ăn trộm vặt không phải là bạo lực và chính những người ủng hộ luật bất quá tam chỉ nhắm vào thành phần tội ác bạo lực mà thôi.
Quan điểm của Joe khiến ông xung khắc dữ dội với con trai là Marc, tuy nhiên cuối cùng Marc cũng tự hỏi liệu dự luật bất quá tam nói trên có thực sự giải quyết được tội ác bạo lực của xã hội hay không. Sau khi nói chuyện với thống đốc của tiểu bang California là Pete Wilson, được vị thống đốc giải thích những tai họa do dự luật trên có thể gây ra cho những người phạm tội chẳng phải là bạo lực, Marc thay đổi hẳn quan điểm và bắt đầu phát biểu chính thức chống lại dư luật nói trên. Marc nói người ta đã lợi dụng cái chết thảm thiết của con gái ông để ban hành một đạo luật bỏ tù tất cả mọi người. Tuy nhiên chắc chắc con gái ông ở dưới suối vàng chẳng bao giờ ủng hộ một đạo luật hồ đồ như thế. Marc nhấn mạnh ông muốn con gái ông trở thành một biểu tượng của công lý, của sự thật chứ không phải là một biểu tượng của sự trả thù, của sự dối trá và hồ đồ.
Tuy nhiên dư luận đã bị cuốn hút vào cuộc tranh luận và lửa đã bị đổ thêm dầu. Những chính trị gia có quan điểm chống lại dự luật tù bất quá tam, cảm thấy áp lực khủng khiếp của cử tri trong các đơn vị bầu cử của mình, và nhận ra rằng mình có thể thất cử nếu chống lại dự luật. Thế là mọi việc coi như đã được an bài và dự luật bất quá tam chính thức được ban hành thành luật tù bắt buộc vào năm 1994 tại tiểu bang California. Trong vòng ba năm sau khi luật tù bắt buộc ra đời tỷ lệ phạm tội tại California giảm 15%. Tuy nhiên so sánh với những tiểu bang không có luật trên thì tỷ lệ giảm tội ác của California không cao hơn, mà còn giảm ít hơn tại những tiểu bang không có luật tù bắt buộc.Thêm vào đó cứ 1 trong năm tù nhân tại Cali có một người bị tù do luật bất quá tam, nhưng 90% những tù nhân này chỉ phạm tội mới có hai lần và 80% phạm những tội không có hành vi bạo lực. Sau khi ban hành luật tù bắt buộc, có 500 tù nhân tại Cali phạm các tội như dùng ngân phiếu giả, ăn cắp siêu thị cũng bị liệt vào hàng trọng tội chống lại xã hội.
Nhiều người Mỹ chống lại luật tù bắt buộc cho rằng luật nói trên thực chất là một đạo luật kỳ thị. Hơn 40% tù nhân của California bị kết án theo luật này là những người Mỹ da đen tuy nhiên họ chỉ chiếm có 3% dân số của tiểu bang California. Những nhà vận động cho nhân quyền tại Mỹ lý luận rằng nếu đạo luật nói trên làm cho thanh thiếu niên da trắng bị vào tù với mức độ 3% thì luật nói trên đã bị dân chúng Cali vất vào thùng rác từ lâu, vậy thì tại sao lại cứ để cho luật tù bắt buộc nói trên nhắm vào tầng lớp thanh thiếu niên da đen trong xã hội.
Bất chấp sự quan tâm của giới làm luật, dân chúng tại Hoa kỳ vẫn có nhiều người ủng hộ luật tù bắt buộc này vì các tội phạm đánh cắp tài sản công dân ngày càng gia tăng đến mức độ vô phương khắc phục. Các thống kê cho thấy luật tù bắt buộc chẳng hề có tác dụng nào đối với việc làm hạ giảm tỷ lệ tội phạm trong xã hội, hơn nữa luật nói trên chỉ nhắm vào một số thành phần như thanh thiếu niên da đen, thổ dân, những người nghèo khổ và thiếu may mắn trong xã hội và gây ra sự tốn kém khổng lồ cho ngân quỹ của tiểu bang hay lãnh thổ.
Các quan tòa tại Hoa kỳ đều nhận thấy sự bất công của luật tù bắt buộc vì chánh án chẳng có ý kiến gì nhiều trong khi tuyên án tù một phạm nhân nào đó vì căn cứ theo luật chẳng có gì phải xét xử, cứ việc bỏ tù tùy theo số lần vi phạm. Có nhiều phạm nhân phạm tội lần thứ nhất khi còn thiếu niên và lần thứ hai khi đã về già vẫn bị xử tù 90 ngày, mặc dầu tội của ông ta chẳng phải là các tội danh bạo lực. Tù tội không phải là phương cách hữu hiệu để cải hóa con người.
Chính Marc, cha của Klaas đã nói thẳng điều này với người vận động luật tù tại Cali là Mike Reynolds. Nhưng theo Reynolds, nếu có vài người bị tù chung thân vì những tội danh không phải bạo lực căn cứ theo luật nói trên thì đã ăn thua gì? Họ chỉ là một thiểu số không đáng kể trong xã hội! Theo ông nội của nạn nhân Klaas thì xã hội không cần phải giam tù một nửa dân số để tìm cách khống chế những tên dâm tặc giết người như tên Davis, thần công lý có thể bị mù mắt nhưng thần công lý không thể là một người phán xét mà không có lý trí.