banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 


Tìm hiểu chi tiết về "Thế Vận Hội
dành cho những người khuyết tật", tức "Paralympic".

 

Tiền Đạo (SGT)

Thế Vận Hội: Trong khí thế cuồng nhiệt chuẩn bị đón chào Thế Vận Hội của người dân thủ đô Bắc Kinh, giới chức thành phố này đang phải trực diện với nhiều vấn đề gay gắt như: an ninh, hệ thống giao thông phức tạp, thiếu nhân viên thông thạo Anh ngữ, các dịch vụ chào đón và phục vụ du khách ngoại quốc vẫn còn nhiều thiếu sót v.v... Xem ra thời gian từ đây cho đến ngày khai mạc đã không đủ để giải quyết những khó khăn này mặc dù từ trước đó giới chức trách Bắc Kinh đã áp dụng 1 số biện pháp như: thiết trí nhiều bảng hướng dẫn bằng Anh ngữ, bổ xung các tuyến đường xe điện ngầm và xây thêm các đường lộ nối kết đến gần hội trường tranh tài. Thế nhưng, đa số những chuẩn bị này tại Trung Quốc đều bị giới hạn trong lãnh vực phục vụ cho những du khách đi theo đoàn thể và không có nhiều dịch vụ dành cho đối tượng du khách cá nhân. Trong khi hầu hết du khách Âu Mỹ đều có sở thích du hành cá nhân.
Ngay chính Phó Cục Trưởng Cục Du Lịch Thành Phố Bắc Kinh là Thái Ngọc Mai cũng nhìn nhận những vấn đề này qua cuộc phỏng vấn ngày 23/7 rằng: "Theo thống kê hiện nay, số du khách đoàn thể sẽ đến Bắc Kinh đã ít hơn dự đoán và thay vào đó số lượng du khách cá nhân lại nhiều hơn. Vì vậy nhu cầu về nghiệp vụ và ngôn ngữ tại các quầy phục vụ đang tăng cao. Các bảng hướng dẫn hoặc thực đơn bằng Anh ngữ chỉ được thực hiện 1 phần nhỏ tại những khách sạn và nhà hàng lớn, vì vậy nhiều du khách từ nước ngoài đến sẽ gặp khó khăn nếu muốn thưởng thước các món ăn truyền thống Trung Quốc tại các tiệm ăn thông thường".
Liên quan đến Thế Vận Hội thì vào ngày 24/7, Tổng Thư Ký Ủy Ban Thế Vận Iraq là ông Hussen al-Amidi cho biết đã chính thức nhận được thông báo từ Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế (IOC) về việc Ủy Ban Thế Vận Iraq bị hủy bỏ tư cách Ủy Viên Olympic, tức sẽ không được tham dự Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008.
Vào tháng 5 vừa qua, chính phủ Iraq đã giải tán Ủy Ban Thế Vận của quốc gia này và thành lập một Ủy Ban Olympic Lâm Thời để thay thế nhưng đã bị chỉ trích là "một sự can thiệp chính trị vào thể thao" và không được IOC nhìn nhận.
Từ sau cuộc chiến tranh Iraq xảy ra vào năm 2003, Iraq đã tham gia tranh tài tại Thế Vận Hội Athens 2004 với đoàn tuyển thủ khoảng 30 người.
Quần vợt: Trong thời gian tham dự giải "Rogers Cup" được tổ chức vào hạ tuần tháng 7 tại Canada và bước vào giai đoạn chuẩn bị cuối cùng cho kỳ tranh tài Thế Vận Hội Bắc 2008, tuyển thủ số 1 thế giới là Federer của Thụy Sĩ đã trình bày những cảm nghĩ của anh về mục tiêu ra quân tại Bắc Kinh lần này qua cuộc họp báp ngày 21/7 như sau: "Tôi đang giữ 12 danh hiệu vô địch Grand Slam và mục tiêu tối ưu tiên sắp tới là huy chương vàng của Thế Vận Hội Bắc Kinh. Hơn nữa, ngày khai mạc 8/8 cũng là ngày sinh nhật của tôi nên tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi được góp sức cùng đoàn tuyển thủ quốc gia Thụy Sĩ.".
Được biết, trong quá khứ 2 lần tham chiến trên các sân cỏ Thế Vận Hội, Federer chưa lần nào đoạt danh hiệu vô địch qua các thành tích: bại chiến ở trận tranh huy chương Đồng tại Thế Vận Hội Sydney 2000 và bị loại sớm ngay vòng 2 tại Thế Vận Hội Athens 2004. Tại chiến trường Bắc Kinh 2008 lần này, hầu như các tuyển thủ nam nữ hàng đầu quốc tế (từ hạng 1 đến hạng 20 theo ranking thế giới) đều ra quân và trong số đó có sự hiện diện của tay vợt khét tiếng người Tây Ban Nha là Rafael Nadal. Thế nhưng, Nadal không mấy "câu nệ" về chiếc huy chương vàng như Federer khi trình bày rằng: "Đương nhiên đoạt huy chương vàng là mục tiêu quan trọng nhưng đối với tôi thì dù sao danh hiệu vô địch các giải Grand Slam vẫn hấp dẫn hơn nhiều!"
Trở lại vũ đài "Rogers Cup" thì đây là 1 giải đấu có lịch sử lâu đời kể từ khi được thành lập vào năm 1881 và cho đến cuối thập niên 1950, tức trải qua gần suốt 80 năm hầu như các tay vợt đoạt cúp vô địch đều là người Canada hoặc Hoa Kỳ. Rogers Cup được tổ chức hàng năm từ cuối tháng 7 đến đầu tháng 8 tại 2 địa điểm: Montréal và Toronto, được luân phiên thay đổi mỗi năm cho bộ môn Nam và Nữ.
Cơn chấn động đầu tiên xảy ra tại "Rogers Cup" chính là "cú đập" ngoạn mục của tuyển thủ người Pháp không mấy tên tuổi là Gilles Simon tiễn chân tay vợt hạt giống số 1 Federer qua tỷ số chiến thắng "ngựa về ngược" 2-6, 7-5, 6-4 ngay trận chiến thứ 2 vào ngày 23/7. Kể từ khi bị Andy Murray nhanh chóng loại sổ tại Giải "Dubai Open" vào tháng 3 vừa qua, đây là lần thứ hai danh thủ hạng Nhất thế giới Federer phải ngậm ngùi gác vợt sớm và đành trở về Thụy Sĩ để "mài dùi... banh vợt" chờ đến tháng 8 lên "kinh thành Bắc Kinh"... ứng thí!
Vào ngày kế tiếp, tức 24/7, trận chiến vòng thứ 3 đã chứng kiến thêm cảnh chia tay của 1 tên tuổi lớn trong danh sách 10 tay vợt hàng đầu thế giới là Andy Roddick của Hoa Kỳ khi anh phải gác vợt trước tuyển thủ trẻ Marin Cilic (19 tuổi) người Á Căn Đình sau khoảng 2 tiếng giao tranh với tỷ số 4-6, 6-4, 4-6. Qua 6 lần dự tranh "Rogers Cup", Roddick đoạt chức vô địch giải 2003 và cũng từng bị loại ngay trận đầu tiên ở giải 2005.
Cơn chấn động kế tiếp lại lan truyền đến vòng tứ kết khi đương kim vô địch "Rogers Cup" là Djokovic của Serbia cũng bị thất thủ bất ngờ trước Andy Murray, tức đối thủ mà qua 4 lần giao chiến trước đây chưa hề thắng được Djokovic 1 lần! So về thực lực, dĩ nhiên Djokovic được đánh giá có nhiều phần trội hơn với kỹ thuật giao bóng lợi hại và những cú đánh trả nhanh nhẹn, nhưng qua trận chiến lần này Djokovic phạm lỗi đánh hỏng khá nhiều nên ngay từ set đầu tiên đã bị Andy Murray của Scotland gác trước 3-0 rồi đi đến tỷ số chiến thắng 6-3. Sang set thứ 2, yếu tố thể lực đã giúp Murray đánh bật được Djokovic bằng tỷ số 7-6.
Tuy nhiên, giấc mơ đăng quang của Murray cũng bị Nadal dập tắt sau trận chiến căng thẳng ở vòng bán kết ngày 26/7, dù ở set đầu tiên Murray đã gây nhiều khó khăn cho đối phương và buộc Nadal phải đi đến cục diện tính điểm theo hình thức tie-break, nhưng cuối cùng tỷ số 7-6 đã quyết định chiến thắng cho tay vợt người Tây Ban Nha. Sau đó, Nadal lướt thắng luôn ở set thứ 2 với tỷ số 6-3 để tiến vào trận chung kết đụng độ tay vợt người Đức là Nicolas Kiefer.
Và đúng như dự đoán của đa số giới bình luận, sự hồi phục phong độ hiện nay của Nadal đã thể hiện quá rõ nét và càng tỏ ra dày dạn kinh nghiệm chiến trường trong những cục diện quan trọng của trận chung kết khi anh chiến thắng khá dễ dàng Nicolas Kiefer bằng tỷ số 6-3, 6-2. Trận chung kết ngày 27/7 đã khép lại Giải "Rogers Cup 2008" và ghi dấu thành tích lần thứ 5 liên tiếp đoạt danh hiệu vô địch các giải đấu lớn của Nadal trong vòng 2 tháng vừa qua sau khi anh chế ngự các giải "Hamburg", "Roland Garros", "Queen's Club", "Wimbledon".
Quyền Anh: Trận đấu bảo vệ đai vô địch của võ sĩ lừng danh người Puerto Rico là Miguel Cotto (27 tuổi) thuộc đẳng cấp "Welter weight" (từ 64kg đến 67kg) cùng đối thủ khiêu chiến Antonio Margarito (30 tuổi) của Mễ Tây Cơ, diễn ra vào ngày 26/7 tại Las Vegas đã chấm dứt huyền thoại "bất bại" của Miguel Cotto khi anh bị đo ván theo hình thức KO (knock-out) ở hiệp 11.
Ngay từ những hiệp đầu tuy Cotto có phần lấn lướt nhưng sau đó Margarito đã lấy lại thế quân bình. Và lợi dụng sơ hở phía bên trái của Cotto, tay đấm khiêu chiến Margarito đã liên tiếp đấm trúng mặt đối phương khiến Cotto bị ngã quỵ 1 lần ở giữa hiệp 11. Sau đó, tuy Cotto cố gượng đứng dậy nhưng lại tiếp tục trúng đòn và cuối cùng phải gục ngã trên sàn.
Đây là lần bại trận đầu tiên kể từ khi Cotto bước vào làng đấm chuyên nghiệp quốc tế với thành tích 32 trận thắng (26 trận thắng KO). Trong khi đó, tân vô địch Margarito đã nâng chiến tích lên 36 trận thắng (27 trận thắng KO) và 5 trận bại.
Đua xe đạp: Giải đua xe đạp vòng quanh nước Pháp (Tour de France) ở chặng đua thứ 21, tức chặng cuối cùng với cự ly 143 km do tuyển thủ Gert Steegmans của Bỉ Quốc dẫn đầu đoàn đua chạy về tới đích trên đại lộ Champs-Elysées vào ngày 27/7 đã kết thúc Giải "Tour de France" sau 3 tuần lễ tranh tài hào hứng, thu hút sự theo dõi say mê cuồng nhiệt của khán giả hâm mộ toàn cầu. Và dựa theo thành tích tổng hợp, tuyển thủ người Tây ban Nha là Carlos Sastre đã được trao giải vô địch "Tour de France" 2008.
Đây là lần đầu tiên Carlos Sastre (đội đua CSC Saxo Bank) đoạt cúp vô địch "Tour de France" sau khi vượt qua tổng số cự ly 3.559 km với thành tích 87 tiếng 52 phút 52 giây. Hạng Nhì là tuyển thủ Cadel Evans của Úc Đại Lợi (đội đua Silence-Lotto) và hạng Ba là tuyển thủ người Áo Bernhard Kohl (đội đua Gerolsteiner).
Carlos Sastre cũng là người Tây Ban Nha thứ 3 liên tiếp đăng quang tại "Tour de France" sau khi Oscar Pereiro vô địch giải 2006 và Alberto Contador vô địch giải 2007.
Ngoài ra, các giải thưởng khác được trao tặng gồm có: Giải thưởng đua nước rút: tuyển thủ Oscar Freire (Tây Ban Nha); Giải thưởng leo dốc: tuyển thủ Bernahrd Kohl (Áo Quốc); Giải thưởng cho tuyển thủ trẻ: tuyển thủ Andy Schlek (Luxembourg); Giải thưởng toàn đội: đội đua CSC Saxo Bank).
Túc cầu: Giải Vô Địch Thế Giới Môn Túc Cầu Trên Bãi Cát 2008 tổ chức tại Marseille-Pháp Quốc (FIFA Beach Soccer World Cup Marseille 2008) đã diễn ra từ ngày 17/7 đến 27/7, quy tụ 15 đội bóng đứng đầu các châu lục và nước chủ nhà Pháp Quốc được chia làm 4 bảng như sau. Bảng A: Pháp Quốc, Uruguay, Senegal, Iran; Bảng B: Bồ Đào Nha, Ý Đại Lợi, Quần Đảo Solomon, El Salvador; Bảng C: Á Căn Đình, Cộng Hòa Nga, UAE, Cameroon; Bảng D: Ba Tây, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Nhật Bản.
Đây là giải Túc Cầu Quốc Tế diễn ra hàng năm sau khi được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1995 tại thành phố Rio de Janeiro của Ba Tây. Từ đó đến nay, "Vương Quốc Túc Cầu " Ba Tây hầu như chế ngự sân cát với thành tích 11 lần vô địch thế giới, đứng hạng Tư giải 2001 và và hạng Ba giải 2005.
Qua giải 2008 lần này, Ba Tây vẫn chứng tỏ được thực lực lợi hại của đội đương kim vô địch sau khi chiến thắng sát nút 3-2 trước cường địch Tây Ban Nha, đè bẹp Nhật Bản 8-1 và hạ gục Mễ Tây Cơ 7-1, tiến vào vòng tứ kết với tư cách đứng Nhất bảng D cùng đội Tây Ban Nha đứng hạng Nhì. Trong khi đó, tại bảng A đội chủ nhà Pháp Quốc vốn đoạt cúp vô địch ở giải 2005 đã nhiều phần chật vật khi tranh chân với 2 đối thủ Uruguay và Senegal vì cả 3 đội này đều đạt cùng thành tích 1 thắng 1 hòa 1 bại ở vòng 1, nhưng cuối cùng nhờ vào hiệu số bàn thắng bại, đội Pháp vươn lên ngôi vị đầu bảng và tiếp theo là Urugay. Đồng thời, tại chiến trường của bảng B cuộc chạm trán hào hứng giữa Bồ Đào Nha và Ý Đại Lợi đã nghiêng phần thắng 5-4 về cho Bồ Đào Nha nên Ý Đại Lợi phải tụt xuống hạng Nhì, cùng Bồ Đào Nha tiến vào tứ kết sau khi 2 cao thủ này lần lượt đẩy lùi 2 đội bóng dưới chân là El Salvador cùng Do Thái. Kế đến, ngôi vị Nhất bảng C đã do Á Căn Đình nắm giữ sau khi cường quốc Nam Mỹ này tạo được 3 trận thắng và Cộng Hòa Nga cũng lần lượt xóa sổ Tiểu Vương Quốc Ả Rập cùng Cameroon nên trụ hạng Nhì.
Sau đó, chiến trường tứ kết được phân định với 4 cặp đấu hào hứng gồm: Pháp Quốc - Ý Đại Lợi, Bồ Đào Nha - Uruguay, Á Căn Đình - Tây Ban Nha, Ba Tây - Cộng Hòa Nga qua kết quả:
Ý Đại Lợi thắng Pháp 5-2, Bồ Đào Nha loại Uruguay 6-3, Tây Ban Nha thắng Á Căn Đình 2-0 và Ba Tây hạ Cộng Hòa Nga 6-1. Sang đến vòng bán kết, 2 cặp đấu: Bồ Đào Nha - Ba Tây, Ý Đại Lợi - Tây Ban Nha càng làm khán giả say mê theo dõi những diễn tiến gay cấn và rất hồi hộp khi tài nghệ chuyền bóng của các tuyển thủ Bồ Đào Nha có nhiều phần vượt trội đối phương nên dẫn điểm trước 3-1 ở hiệp thứ 2, nhưng lại để Ba Tây thắng ngược bằng tỷ số khít khao 5-4 thật đáng tiếc. Trong khi Ý Đại Lợi luôn bị Tây Ban Nha bám sát ở từng cục diện và cuối cùng với hàng phòng thủ vững chắc, đội Ý Đại Lợi cũng bảo vệ được tỷ số chiến thắng 1-0 trong hiệp phụ sau khi bất phân thắng bại 4-4 ở hiệp đấu chính.
Chung cuộc, trận chiến tranh hạng Ba và trận chung kết được diễn ra cùng ngày 27/7 với kết quả đội Bồ Đào Nha hạ Tây Ban Nha 5-4 và Ba Tây đoạt cúp vô địch lần thứ 12 sau khi thắng Ý Đại Lợi bằng tỷ số 5-3.
* Câu Chuyện Thể Thao: Tìm hiểu chi tiết về "Thế Vận Hội Dành Cho Những Người Khuyết Tật", tức "Paralympic".
Paralympic là một đại hội thể thao thế giới dành cho những người bị khuyết tật do "Ủy Ban Paralympic Quốc Tế" (IPC: International Paralympic Committee) tổ chức vào cùng năm và cùng địa điểm với Thế Vận Hội. Tuy nhiên, kể từ Thế Vận Hội Athens 2004 thì sự vận hành của "Ủy Ban Paralympic Quốc Tế" mới được sát nhập chung với Ủy Ban Thế Vận Quốc Tế (IOC: International Olympic Committee).
Paralympic được khởi nguồn từ ý niệm "dùng thể thao thay phẫu thuật" để giúp cho những thương binh phục hồi tình trạng sinh hoạt bình thường sau chiến tranh. Ngay từ giai đoạn ban đầu, Paralympic hoàn toàn không có quan hệ gì với IOC với tính cách khác nhau về địa điểm tổ chức, nhưng từ sau Thế Vận Hội Seoul 1988, lịch trình của đại hội thể thao thế giới đã kèm theo quy định chính thức là Paralympic sẽ được tổ chức ngay sau thời điểm bế mạc của Thế Vận Hội tại cùng địa điểm.
Đầu tiên, danh xưng Paralympic được sử dụng bằng từ "Paraplegic" (bán thân bất toại) kết hợp với từ "Olympic", nhưng sau đó có nhiều tuyển thủ không thuộc đối tượng "bán thân bất toại" cũng được tham gia đại hội thể thao này nên từ năm 1985 đã được đổi lại thành "Parallel" (song hành) kết hợp với từ "Olympic" và được diễn giải là "thêm một Thế Vận Hội nữa". Vì vậy, thuật ngữ tổng hợp "Paralympic" tuy trước sau vẫn được giữ nguyên nhưng về ý nghĩa đã có sự thay đổi.
Paralympic mang đặc tính khác biệt với Thế Vận Hội là tùy theo tình trạng bị khuyết tật của các tuyển thủ thì các hình thức thi đấu sẽ được phân ra nhiều bộ môn khác nhau và có rất nhiều loại đối tượng. Thí dụ như bị khuyết tật về cơ năng vận động, bị khuyết tật về cơ năng não bộ, bị khuyết tật về thị giác thính giác, bị cụt chân tay v.v... Qua đó, các bộ môn thi đấu được quy định bằng 1 ký hiệu cộng với các con số biểu hiện tình trạng bị khuyết tật để phân biệt các tuyển thủ loại nào đang tranh tài về bộ môn gì v.v...
Theo một số tài liệu về lịch sử thể thao thế giới tuy có ghi chép về những đại hội thể thao dành cho những người bị khuyết tật được tổ chức từ đầu thế kỷ 20, nhưng lịch sử của Paralympic được nhìn nhận là chính thức bắt nguồn từ ngày 28/7/1948 (tức trùng vào ngày khai mạc Thế Vận Hội London) với danh xưng "Đại Hội Thể Thao Stoke Mandeville" được diễn ra tại bệnh viện Stoke Mandeville ở Anh Quốc. Bệnh viện này có khoa chuyên môn trị liệu các chứng bệnh về tủy sống cho những binh sĩ bị thương trong Đệ Nhị Thế Chiến do môt vị bác sĩ gốc Do Thái từ Đức sang Anh Quốc tị nạn tên là Ludwig Guttmann phụ trách, và ông chính là người đã đề xướng việc thực hiện "Đại Hội Thể Thao Stoke Mandeville". Vào ngày 28/7/1948, đại hội thể thao này đã tổ chức cuộc tranh tài bộ môn bắn cung cho những bệnh nhân ngồi xe lăn. Từ năm 1948, "Đại Hội Thể Thao Stoke Mandeville" chỉ dành cho những bệnh nhân của bệnh viện này tham gia và được tổ chức liên tục hàng năm, nhưng đến năm 1952 thì trở thành 1 đại hội thể thao mang tính cách quốc tế với sự góp mặt của những tuyển thủ Anh Quốc và Hòa Lan.
Vào năm 1960, bác sĩ Guttmann với tư cách là Hội Trưởng đã thành lập một Ủy Ban Điều Hành và tổ chức "Đại Hội Thể Thao Quốc Tế Stoke Mandeville" cùng năm cùng địa điểm với Thế Vận Hội Roma. Vì vậy, cho đến nay "Đại Hội Thể Thao Stoke Mandeville Quốc Tế 1960" được gọi là "Paralympic Lần Thứ Nhất". Đến năm 1964, "Paralympic Lần Thứ Hai" được tổ chức cùng năm với Thế Vận Hội Tokyo nhưng lại chia làm 2 giải đấu gồm "Đại Hội Thể Thao Quốc Tế Stoke Mandeville" dành riêng cho những tuyển thủ ngồi xe lăn và "Đại Hội Thể Thao Quốc Tế Những Người Khuyết Tật" dành cho những tuyển thủ thuộc đối tượng bị khuyết tật ở tình trạng khác. Tuy nhiên, trên thực tế lúc đó vũ đài "Đại Hội Thể Thao Quốc Tế Những Người Khuyết Tật" này đã đi ngược lại danh xưng của nó khi được diễn ra gần như là 1 đại hội thể thao mang sắc thái riêng của Nhật Bản, nên hiện nay "Paralympic Lần Thứ Hai" được gọi 1 cách tổng hợp là "Paralympic Tokyo". Hơn nữa, kể từ sau Thế Vận Hội Tokyo, truyền thống tổ chức Thế Vận Hội và Paralympic trong cùng năm và cùng địa điểm đã tạm thời bị gián đoạn. Và sau đó, Paralympic trở lại hình thức "Đại Hội Thể Thao Quốc tế Stoke Mandeville" chỉ dành cho những tuyển thủ ngồi xe lăn. Nhưng đến kỳ Thế Vận Hội Montréal 1976 thì "Liên Đoàn Thể Thao Quốc Tế Stoke Mandeville" và "Cơ Quan Thể Thao Quốc Tế Những Người Khuyết Tật" đã đi đến quyết định tái kết hợp để tiếp tục tổ chức Paralympic vào cùng năm tại Toronto. Ngoài ra, năm 1976 cũng là năm bắt đầu ra đời "Paralympic Mùa Đông" nên từ đó đến nay Paralympic và Thế Vận Hội đã trở thành "cặp bài trùng" trong cùng năm tổ chức.
Trong khoảng thời gian từ 1976 đến 1985, IOC vẫn cho rằng do tính cách riêng biệt của từng loại tình trạng bị khuyết tật nên tên gọi của đại hội thể thao này không được thống nhất, và mặc dù đã chính thức công nhận danh xưng "Paralympic" vào năm 1985 nhưng từ kỳ Thế Vận Hội Seoul 1988 đến nay IOC mới bắt đầu có những liên hệ trực tiếp với Paralympic.
Vào năm 1989, "Ủy Ban Paralympic Quốc Tế" (IPC: International Paralympic Committee) được thành lập và đặt trụ sở tại thủ đô Bonn của Đức Quốc để tiếp tục điều hành đại hội thể thao đặc biệt này. Sau đó, đến thời điểm Thế vận Hội Sydney 2000 thì IOC và IPC chính thức ký những văn kiện liên kết với nhau, trong đó quy định 2 điều căn bản quan trọng là: Paralympic sẽ được tổ chức tại cùng địa điểm ngay sau thời điểm Thế Vận Hội bế mạc và IOC sẽ được quyền tuyển chọn những ủy viên phụ trách từ IPC.
Kể từ sau Thế Vận Hội Tokyo cho đến thời điểm Thế Vận Hội Seoul 1988, Paralympic mới được tổ chức cùng địa điểm với Thế Vận Hội và từ đó đến nay đã gây được nhiều chú ý của giới hâm mộ kèm theo sự phát triển không ngừng của các bộ môn thể thao dành cho người bị khuyết tật. Đặc biệt là Paralympic ngày càng trở nên phổ biến với sự xuất hiện của các tuyển thủ đoạt nhiều huy chương thể hiện ý chí cố gắng vượt qua những trở ngại về thể xác lẫn tinh thần. Tuy nhiên, Paralympic cũng vẫn nảy sinh ra khá nhiều vấn đề do nguyên nhân chính xuất phát từ sự cạnh tranh để đoạt huy chương. Đương nhiên, thành tích đoạt huy chương vốn là niềm vinh dự cho tuyển thủ và quốc gia của mình, nhưng kèm theo đó là những số tiền thưởng từ quốc gia hoặc các cơ quan tài trợ để khuyến khích việc đoạt huy chương đã trở thành niềm ước mơ đối với nhiều tuyển thủ. Vì số tiền thưởng này có thể giúp họ nâng cao điều kiện tập luyện hoặc hoàn cảnh sinh hoạt, nên đã xảy ra một số vấn đề như sau:
Doping: Paralympic cũng phát sinh nhiều vần đề liên quan đến việc sử dụng kích thích không khác gì Thế Vận Hội. Và trong lúc tranh tài ban tổ chức cũng tiến hành những đợt kiểm tra nhưng có những tuyển thủ bị khuyết tật cần thiết phải dùng thuốc uống nên luật cấm dùng tất cả các loại thuốc trong thời gian tham dự Paralympic đã gây biến chứng và khổ sở không ít cho các tuyển thủ này.
Dụng cụ: Trong đại hội thể thao Paralympic có những dụng cụ được phép sử dụng khi tranh tài như xe lăn, chân giả v.v... Gần đây do việc ứng dụng những phát minh khoa học kỹ thuật của những quốc gia tiên tiến nên các dụng cụ dùng để thi đấu đã trở nên nhẹ nhàng, dễ sử dụng và thích hợp vơi cơ năng của người bị khuyết tật hơn. Và chỉ có những tuyển thủ ở các quốc gia giàu mạnh về kinh tế mới có được những dụng cụ đắt tiền này, tức là đã có lợi thế hơn những tuyển thủ ở xứ nghèo.
Phân loại: Tuỳ theo tình trạng và mức độ bị khuyết tật, các tuyển thủ sẽ được phân loại khi tranh tài tại Paralympic. Vì lẽ này nên ở bộ môn chạy đua 100m dành cho nam lẫn nữ tổng cộng có trên 10 tấm huy chương vàng. Từ đó, đã có nhiều ý kiến cho rằng giá trị của 1 tấm huy chương vàng tại Paralympic quá thấp. Và để giảm bớt số lượng huy chương cho cùng 1 bộ môn cũng có những đề án quy định việc tổng hợp tình trạng và mức độ bị khuyết tật, tức là nếu bị trở ngại cùng 1 bộ phận thì sẽ thi đấu chung chứ không phân loại bị cụt chân tay hay tê liệt chân tay. Thế nhưng, nếu áp dụng những quy định này sẽ càng sinh ra tình trạng tương phản giữa các tuyển thủ được lợi thế và bất lợi một cách rõ ràng hơn. Thí dụ như trong môn bơi lội, nếu có sự tranh tài giữa tuyển thủ bị cụt 2 chân và tuyển thủ bị tê liệt 2 chân thì tuyển thủ cụt 2 chân sẽ có lợi thế hơn do trọng lượng cơ thể nhẹ, dễ vượt qua sức cản của nước. Chính vì vậy, có thể nói rằng Paralympic đã bị đặt vào tình thế khó khăn khi phải chọn một trong hai: hoặc là "cạnh tranh công bằng" hoặc "giá trị của huy chương". Trong kỳ Paralympic Mùa Đông 2006 tổ chức tại Torino-Ý Đại Lợi, ban tổ chức đã giảm bớt số lượng huy chương bằng cách áp dụng luật cộng thêm điểm tùy theo mức độ khuyết tật, tức là những tuyển thủ bị tình trạng nặng hơn sẽ được nhiều điểm và cuối cùng sẽ căn cứ vào điểm tổng hợp để trao tặng huy chương.
Giả dạng khuyết tật: Trong kỳ Paralympic Sydney 2000 đã phát sinh sự kiện có người bình thường giả dạng khuyết tật trong đội tuyển Tây Ban Nha để thi đấu môn bóng rổ dành cho những người bị chướng ngại về trí tuệ và kết quả đội Tây Ban Nha đoạt huy chương vàng. Vì vậy từ Paralympic Mùa Đông Salt Lake 2002, ban tổ chức đã hủy bỏ lịch trình thi đấu cho những người bị chướng ngại về trí tuệ.
Về các bộ môn tranh tài tại Paralympic gồm có:
Mùa Hè: điền kinh, đua xe đạp, bóng bàn, quần vợt ngồi xe lăn, bóng chuyền ngồi đất (Sitting Volleyball), bóng rổ ngồi xe lăn, Rugby ngồi xe lăn, túc cầu, nhu đạo, bắn súng, cưỡi ngựa, bơi lội, đua thuyền buồm (Sailing), bắn cung, ngồi xe lăn đấu kiếm, ném bóng có lục lặc (Goalball), ném bóng màu (Boccia), cử tạ.
Mùa Đông: trượt tuyết Alpine (Alpine Ski: trượt tuyết ở các địa hình dốc có độ nghiêng), trượt tuyết Nordic (Nordic Ski: trượt tuyết bằng 2 loại ván mỏng-dầy và bay nhảy qua các khu đồi núi), Ice Hockey ngồi ván, ném tạ ngồi xe lăn.