banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 


Ai gây ra chiến tranh để Hoa Kỳ rải chất độc màu da cam tại VN?

 

Mường Giang

Ngược dòng Việt sử, ta biết CSVN núp dưới chiều bài Việt Minh, đã lợi dụng thời cơ mà cướp được chính quyền vào ngày 19-8-1945. Từ đó, đất nước đắm chìm trong khói lửa đạn bom, do chính Hồ Chí Minh và bè đảng mang về, gây nên cuộc chiến Đông Dương long trời lỡ đất, kéo dài từ 1945 cho tới dầu thập niên 1990 mới tạm chấm dứt vì sự sụp đổ của đế quốc LX.
Rồi cũng vì quyền lợi của đảng và cá nhân, Hồ ký hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, mở cảng Hải Phòng và nhiều cửa khẩu khác ở phía bắc vĩ tuyến 16 rước quân Pháp nhập quan, để được thực dân công nhận cái gọi là VNDCCH vừa mới thành hình. Hành động bán nước trên, khiến cho quốc gia VN đánh mất cơ hội vàng ròng, dành lại độc lập tự chủ trong tay ngoại bang, như các nước Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương, Ấn Độ... khi thế chiến thứ 2 chấm dứt.
Sau thảm bại Điện Biên Phủ, thực dân Pháp không còn con đường nào lựa chọn, nên phải ký Hiệp Định ngưng chiến tại Genève ngày 20-7-1954, trả lại nước Việt cho người Việt nhưng vẫn không quên thù hận khi giao nửa mãnh cơ đồ Hồng Lạc, từ bắc vĩ tuyến 17 trở ra cho Hồ Chí Minh và CS, dù rằng chiến thắng đánh đuổi ngoại xâm, là máu xương và công lao của toàn dân cả nước.
Tháng 2-1955 quân Pháp rút về nước. Miền nam VN từ vĩ tuyến 17 vào tới mũi Cà Mau, tạm thời là một quốc gia độc lập VNCH có Hiến Pháp . Năm 1956, Thủ tướng Ngô Đình Diệm, qua cuộc trưng cầu dân ý trở thành Tổng Thống của nền Đệ Nhất Cộng Hòa.
Do không thể lừa bịp toàn dân bằng trò hề hiệp thương và bầu cử thống nhất đất nước, để chiếm Miền Nam. Bởi vậy đầu năm 1956, Hồ Chí Minh và cộng đảng mở màn cuộc chiến xâm lăng VNCH. Từ đó, cán binh được gài cùng bọn thân nhân nằm vùng hoạt động trở lại. Đồng thời qua con đường rừng Trường Sơn và đường biển, Bắc Việt ồ ạt chuyển người, quân trang dụng của Nga-Tàu-Đông Âu.. tấn công cưỡng chiếm Miền Nam,
Sáng ngày 30-4-1975, khi chiếc trực thăng cuối cùng của người Mỹ rời nóc nhà Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, thì vài giờ sau đó TT Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH, buông súng đầu hàng CS Bắc Việt. Từ đó cho tới đầu thập niên 1990, các nước Đông Dương, gần như đắm chìm trong bóng tối của ngục tù và sự quên lãng của thế giới tự do, mặc cho một cuộc chiến long trời lở đất vào năm 1979, giữa Trung Cộng-Việt Công và Miên Cộng.
Nói chung, cuộc chiến Đông Dương lần 2 trên danh nghĩa đã chấm dứt vào tháng 5-1975 tại VN, nhưng Hội Chứng của nó vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay. Ngoài sự tan nát của một đất nước bị bom đạn ngoại nhân tàn phá trong chiến tranh. VN đã bị chính bàn tay hủy hoại của những đỉnh cao trí tuệ trong Bắc Bộ Phủ, vì say men chiến thắng nên đã bắt Miền Nam ba bước nhảy vọt, để theo kịp thiên đàng xã nghĩa của Miền Bắc, qua 20 năm nô lệ chủ nghĩa Lê-Mác, khiến người biến thành vượn khỉ, nghèo đói, lạc hậu và gian ngoa, hung ác vì miếng ăn, cuộc sống.
Rốt cục mang tiếng độc lập, thống nhất nhưng cả nước cùng chịu chung số phận súc vật, cùng ngụp lặn trong vũng bùn hôi tanh ô uế của cái gọi là chủ thuyết kinh tế Mác-Lê, quốc doanh Mao-Hồ. Trừ bọn cán bộ đỏ của đảng VC cầm quyền trong nước, no say nghiêng ngả nơi chốn cung đình. Cả nước còn lại, từ kẻ thắng trận tới người mất nước, ai cũng đói nheo vì tài sản đã bị đảng cướp giật. Nên cả nước lúc đó nếu không ăn bậy, kể cả xác súc vật sình thối, cây cỏ nhiễm độc, gạo ngô hư mọt, thì lấy gì no bụng để mà sống? để mà tiếp tục làm trâu ngựa kéo cầy, kéo xe trả nợ làm người cho Việt gian, Việt cộng lẫn Việt kiều yêu nước XHCN ?
Hơn bảy mươi lăm năm qua ai cũng biết Cộng Sản VN, mang một thứ bệnh mộng du rất vĩ đại. Nên sẽ không lạ gì sự kiện Tổng thống Jimmy Carter, năm 1977 đã cử thứ trưởng ngoại giao Richard Holbrooke làm trưởng phái đoàn Hoa Kỳ, đến Hà Nội để nối lại bang giao giữa hai nước. Và mặc dù Mỹ chịu làm lành, khi hứa bỏ lệnh cấm vận, lại cho trước 5 triệu đô la viện trợ nhân đạo, nhưng chứng nào tật đó cũng như lòng tham không đáy, nên trong phiên họp tháng 5-1977 tại Ba Lê, VC trưng lá thơ của Nixon gửi Phạm Văn Đồng, đòi nợ Mỹ 3,25 tỷ tiền tái thiết + 1,5 tỷ tiền viện trợ. Dĩ nhiên, vở tuồng bị chấm dứt ngay lúc đó, khi Mỹ trả lời thẳng " Hiệp định 1973 đã bị quăng vào thùng rác khi VC bội ước, thì còn giá trị gì để mà đòi ? ".
Câu chuyện khôi hài cũ rích năm nào, bỗng dưng mới đây được vực dậy từ sự việc, có một nhóm cựu chiến binh Mỹ tham dự cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990, bị hội chứng do ảnh hưởng chất độc, từ những kho vũ khí hóa học của Saddam Husein. Nhân đó, một nhóm luật sư Hoa Kỳ, đã xúi VC kiện Chính phủ mình ra Tòa Án Quốc Tế, về tội sử dụng chất độc màu da cam bị cấm tại chiến trường VN, khiến cho "nhiều người trong cả nước, bị dị tật, dị dạng và mang nhiều chứng bệnh trầm kha đau khổ."
Có điều lạ, là các nạn nhân đều là phe ta (bộ đội-cán bộ) và gần như thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn . Tuyệt nhiên trong danh sách từ đầu tới cuối, không thấy ai nhắc tới một chữ về số phận của người miền nam trong thời chiến, cũng như hằng triệu quân nhân, công chức, cán bộ, cảnh sát VNCH, từng trực diện với chất độc màu da cam, trên mọi chiến trường, khắp bốn vùng chiến thuật.
Cho nên ví dù hội chứng chất độc hóa học là có thực, vậy trong biển khổ này ai mới đủ tư cách để được nhận ân huệ cũng như mọi bồi thường? "Lá lành đùm lá rách, nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng" nhưng VC xưa nay vốn tham nhũng, gian ác, điêu ngoa, lật lộng, kinh nghiệm những lần Việt Kiều đóng góp cứu trợ các nạn nhân bị bão lụt trong nước, chắc sẽ khiến cho cộng đồng người Việt hải ngoại thức tỉnh. Phải giúp các nạn nhân khốn khổ trong nước ngày nay, là điều ai cũng phải làm. Nhưng nhớ là đừng bao giờ, để tiền bồi thường (nếu có), lọt vào đảng và bọn Việt gian cò mồi. Có như vậy chúng ta mới không hoài công và xấu hổ với đồng bào cật ruột, thấp cổ, bé họng, đang đêm ngày hoài đợi bóng voi của Quang Trung Đại Đế trở về để giải phóng đất nước đang chìm đắm trong xích xiềng nô lệ của CSVN tư mấy chục năm qua .

1- Hội Chứng Chất Độc Màu Da Cam:
Từ năm 1960-1975, Bắc Việt ồ ạt chuyển người và vũ khí các loại vào cưỡng chiếm Miền Nam VN, bằng con đường mòn Trường Sơn, băng ngang qua vĩ tuyến 17 trong tỉnh Quảng Trị. Hoa Kỳ và Đồng Minh lúc đó đang tham chiến giúp QLVNCH chống cuộc xâm lăng của Đệ Tam Cọng Sản Quốc Tế. Để ngăn chận, quân đội Mỹ đã sử dụng một loại thuốc diệt cỏ, phá rừng với mục đích phát quang, để các lực lượng bộ binh dễ tìm ra dấu vết của giặc. Một chiến dịch mang tên Ranch Hand, bắt đầu từ năm 1961 thời Tổng Thống J.F.Kenedy, thi hành công cuộc khai quang trên tại các vùng rừng núi, hầu như không có người ở, thuộc Vùng 1 và 2 chiến thuật, cùng một vài tỉnh tại Vùng 3 như Phước Long, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Phước Thành..
Theo tài liệu của Bộ quốc phòng Mỹ thì thời gian từ năm 1961-1971, đã rải xuống các khu rừng và những mật khu VC, chừng 44.338 triệu lít thuốc khai quang diệt cỏ có màu da cam, gần 20 triệu lít chất trắng và 8 triệu lít loại màu xanh.
Do tính cách tuyên truyền để đòi bồi thường, nên VC la lối và gọi Mỹ sử dụng chiến tranh hóa học. Thật sự trong cuộc chiến vừa qua, không phải chỉ có bộ đội, cán bộ Bắc Việt và người dân bị VC cưởng áp theo chúng tại các mật khu, rừng núi Trường Sơn là nạn nhân của thuốc diệt cỏ. Chính QLVNCH và Đồng Minh, cũng đã có mặt thường xuyên trong vùng bị khai quang. Nhưng lạ thay, tại sao Họ không hề hấn gì, mà chỉ có VC và thế hệ sinh sau, đẻ muộn, phần lớn thuộc tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Bình Định.. lại mang hội chứng chất độc màu da cam ?
Theo sử liệu tính đến đầu năm 1973 khi có hiệp định Ba Lê ngưng bắn, thì gần như VNCH kiểm soát được hầu hết lãnh thổ và dân số. VC chỉ chiếm được rừng núi hoang vu và một số người Thượng. Tại Quảng Trị, sau trận 1972, VC chiếm được quận Đông Hà, Gio Linh, Cam Lộ và Hương Hoá cùng với 58.646 dân bị kẹt không chạy được. Tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, VC chỉ điếm được phần rừng núi phía tây rặng Trường Sơn, còn tất cả 918.360 dân và 10 quận cùng TP. Huế đều do chính phủ kiểm soát. Tỉnh Quảng Nam cho tới đầu năm 1975, mới bị mất quận Thường Đức và mỏ than Nông Sơn. Tại Vùng 2 chiến thuật, tỉnh Bình Định có nhiều VC nhất, nhưng chúng cũng chỉ chiếm được rừng núi và người Thượng. Nói chung, người Mỹ có rải thuốc diệt cỏ khai quang, thì cũng nơi rừng núi không có người ở. Cho nên trong suốt cuộc chiến 1955-1975 ở miền Nam, nạn nhân chiến cuộc phần lớn do bom đạn của 2 phía, không thấy ai bị sinh non, quái thai, dị tật... dù ở nông thôn, hay trong tỉnh Quảng Trị đầy đạn bom chết chóc.

2- Ai Gây Ra Chiến Tranh Để Mỹ Rải Chất Độc Màu Da Cam?
Sau khi được Lào và Kampuchia đồng thuận, ngày 19-5-1959 Hồ Chí Minh nhân danh Trung Ương Đảng VC, ra lệnh mở đường rừng Trường Sơn và đường biển, để chuyển quân và vũ khí của Nga-Tàu và khối Cộng Sản, vào miền nam xâm lăng VNCH. Con đường mang bí danh 559 do Võ Bẩm khai phá đầu tiên. Đường gồm ba giai đoạn, đầu tiên là đường bộ, gùi thồ. Từ năm 1964-1971 giai đoạn cơ giới hóa. Từ 1971-1975, thành xa lộ đất với đủ cầu cống và ống dẫn dầu. Song song còn có đường biển 759 nhưng chỉ hoạt động thời gian ngắn thì dẹp, vì bị Hải Quân Hoa Kỳ và VNCH ngăn chận. Để hoàn thành giấc mộng xâm lăng, từ năm 1964 Đồng Sĩ Nguyên thay thế Đinh Đức Thiện và Phan Trọng Tuệ, chỉ huy đường 559. Tại đây, VC luôn duy trì 120.000 bộ đội chiến đấu, gồm 8 Sư đoàn bộ binh, 10.000 nam nữ Thanh Niên Xung Phong, và 1 Sư đoàn phòng không của Bộ TTM biệt phái.
Năm 1973 sau hiệp ước ngưng bắn, VC công khai di chuyển quân và vũ khí đêm ngày trên đường. Bỏ cung trạm, hằng sư đoàn lính và xe cộ, di chuyển thẳng từ Bắc vào Nam. Trước kia muốn hoàn thành một chuyến đi, phải mất 4 tháng. Từ năm 1973-1975, chỉ cần 12 ngày. Phụ trách chuyên chở, VC thành lập 2 Sư đoàn vận tải, dành cho Đoàn 559 với hơn 10.000 xe cộ đủ loại. Nói chung tới đầu năm 1975, VC đã xây dựng được con đường rừng dã chiến Trường Sơn, xuyên qua Lào, Nam VN và Kapuchia dài 16.700 cây số, cộng thêm 1500 km rải đá, 200 km tráng nhựa.
Song song có 1500 km ống dẫn dầu, 1350 km đường dây truyền tin, 3800 km đường giao liên và 500 km đường sông. Theo Đồng Sĩ Nguyên, đã có hơn 19.000 người chết và hơn 30.000 khác bị thương tại đây nhưng bi thảm nhất là thân phận những người con gái trong lực lượng Thanh Niên Xung Phong, cũng như Đại Đội Pháo Nữ Ngư Thủy của tỉnh Quảng Bình. Họ vì sợ chế độ hộ khẩu, công an và tem phiếu thực phẩm, nên hy sinh cho đảng, tiêu phí cả một đời con gái tuổi trăng tròn, dưới mưa bom trời đạn. Rốt cục ngày VC đại công cáo thành, chiếm trọn được của cải vật chất miền Nam, theo Huỳnh văn Mỹ, văn công đảng viết trên báo, thì những kẻ may mắn còn sống sót, sau khi nhận được bằng khen là chiến sĩ gái xuất sắc, những cô gái quê miền Bắc, đa số vào chùa làm sư nữ, riêng những người làng quê xóm biển Quảng Bình, thì sống goá bụa trọn đời, vì sau cuộc chiến, ai cũng già nua đen đũi, thì có ma nào dám ngó?
Chưa hết đâu, chẳng những thanh niên nam nữ phải ra tuyền tuyến hy sinh cho đảng, mà các bà mẹ cũng phải hy sinh. "Mẹ đào hầm, mẹ đào hầm từ lúc tuổi còn xanh, nay mẹ đã phơi phới tóc bạc mà vẫn cũng phải đào hầm dưới bom đạn". Đó là một đoạn trong bài vè tuyên truyền của đảng. Từ năm 1956 ngay khi mở lại cuộc chiến xâm lăng tại miền nam, Hồ Chí Minh thay vì di tản dân chúng tại làng Vĩnh Mốc, thuộc quận Vĩnh Linh, bên kia cầu Hiền Lương, tỉnh Quảng Trị, thuộc khu phi quân sự, để đồng bào có thể tránh được bom đạn vô tình của cả hai phía.
Nhưng không Hồ đã bắt dân chúng phải bám trụ tại đây, biến cả làng Vĩnh Mộc thành địa đạo, ăn, ngủ, sinh sống và chết ngay trong lòng đất. Có vậy mới dòm ngó được biển Đông, Cửa Tùng và tiếp tế cho du kích bộ đội hoạt động tại Cồn Cỏ sát nách. Theo một số du khách xuống thăm địa đạo Vĩnh Mốc, thì chỉ mới sống ở địa ngục trần gian có 15 phút, mà ai cũng đã ôm ngực khó thở. Vậy mà Hồ và đảng, bắt ép dân làng phải sống dưới nhiều năm, đến độ sinh được 17 trẻ trai gái. Cuộc sống hiện thực như vậy, không sinh quái thai, dị tật hay mang hận bẩm sinh, thì đó mới là chuyện lạ trên đời.
Theo tài liệu, thì làng Vĩnh Mốc có diện tích hơn 3km2 mà 1/3 là địa đạo. Nơi này trước 1975, là chỗ sinh sống của 237 gia đình với hơn 1196 nạn nhân. Đã hứng chịu 9680 tấn bom đạn vì đảng không cho di tản, phải sống chui trong lòng đất suốt 600 ngày đêm. Cũng tại đây qua những tấm bia thịt, VC đã chuyển được vào nam 3350 tấn hàng hóa và 11.500 tấn hàng cho bộ đội, trên đảo Cồn Cỏ.
Khác với Vĩnh Mốc nằm ngay bờ biển, địa đạo Củ Chi nằm dưới lòng đất thuộc các khu rừng già Hó Bò, Bời Lời, Bến Súc, Thanh Điền... nhưng không liên tục mà riêng rẽ đứt đoạn và gần như có đủ trong 15 xã của quận Củ Chi như Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập, Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông, Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung và Tân An Hội. Nói chung điạ đạo Củ Chi đã có thời kỳ chống Pháp.
Bắt đầu năm 1960, cục R quanh quẩn đóng tại Tây Ninh sát biên giới Việt Miên, nên các hầm hố trong địa đạo tại Củ Chi được bới mốc sửa sang trở lại, để tiện cho cán bộ đảng trốn và tẩu thoát, khi có pháo kích, dội bom hay hành quân càn quét. Vì hầu hết dân chúng vùng này đều về an cư lập nghiệp trong vùng quốc gia, nên không được đảng nhắc tới trong danh sách nạn nhân chất độc màu da cam. Ngoài ra tại An Thới, Trảng Bàng Tây Ninh cũng có một địa đạo nhưng không quan trọng. Trên đảo Phú Quốc, VC cũng đào một con đường hầm dài từ trại Tù Quân Cây Dừa ra biển, để vượt ngục. Tất cả đều thấm máu người, lót đường cho đảng được giàu có, tỷ phú như ngày nay.
Nhưng éo le và bi thảm nhất vẫn là đồng bào Quảng Trị, khi bị lịch sử chọn làm nơi đối đầu bom đạn, khiến cho người dân của cả hai phe, phải gánh chịu biển lệ, núi xương, sông máu và trời sầu hận khổ. Những địa danh một thời long trời đất lở như Hiền Lương, Bến Hải, Vĩnh Mốc, Cồn Cỏ, Cổ Thành, Quốc Lộ 9, Khe Sanh, Caroll, Tà Cơn, Dốc Miếu, Cồn Tiên... và nhất là con đường sông máu mang tên Đại Lộ Kinh Hoàng, ngàn năm muôn thuở sống mãi trong Việt Sử, nói lên một tai kiếp của dân tộc, do Hồ và đảng VC cõng rắn về cắn gà nhà.
Cả con sông Thach Hãn hiền hòa khả ái cũng đầy vết bom dạn, ngay từ đầu nguồn qua các nhánh khe Tà Lụ, Ba Lòng, Ái Tử, Vĩnh Phước, Vĩnh Định, Bích La, Bến Hải và Triệu Hải, trước khi chảy vào biển Đông. Cổ thành Dinh Công Tráng một di tích lịch sử, có từ năm 1823 thời vua Minh Mạng, cũng là nơi chứng kiến bom đạn và mạng người lá rụng của hai phía, trong 82 ngày đêm giựt dành trong năm 1972. Rốt cục những người lính Dù, TQLC, BDQ, Thiết Giáp, SD1,2,3 và ngay cả ĐPQ, NQ Quảng Trị đã chiến đấu liên tục, để cắm lại ngọn cờ quốc dân, màu vàng 3 sọc đỏ trên nóc cổ thành thân yêu, cho tới tháng 4-1975 mới lọt vào tay giặc Cộng. Dân chúng sống lầm than khổ ải như thế, thì đâu cần phải bị hội chứng chất độc màu da cam, da vàng.. mới bị quái thai, bạo bệnh như VC tuyên truyền, để đòi tiền bồi thường.

3- Chất Độc Màu Da Cam:
Hay ' Agent Orange ' thực chất chỉ là một loại thuốc diệt cỏ thông thường, được sử dụng tự do trên thị trường, trong lãnh vực nông nghiệp. Trong thời gian tham chiến tại VN, chính thức từ năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã đem rải xuống rừng rậm, núi cao và những mật khu, tình nghi có VC trú ẩn, để giết cỏ, diệt cây, khai quang địa thế cho trống trải, an ninh.
Đây là một hỗn hợp hai thành phần có trọng lương ngang nhau (50%), gồm chất 2,4 D là dạng viết tắt của Dichloro Phenoxy Acetic Acid. Và chất 2,4,5 T cũng là dạng viết tắt của Tetracloro Phenoxy Acetic Acid. Qua quá trình chế tạo, trong thuốc diệt cỏ màu da cam, từ phản ứng tự nhiên khi sinh chất 2,4,5 T, đã có một chất hóa học khác đi kèm. Đó là chất 2,3,7,8 dạng viết tắt của Tetrachloro Dibenroốp-Dioxin. Chất này thường được gọi tắt là Dioxin.
Còn chất trắng là một hỗn hợp gồm chất 2,4D và Picloram. Theo các nhà nghiên cứu, thì chất màu da cam cũng như màu trắng, có tác dụng làm cây rụng lá, để phát quang rừng cây kể cả rừng đước, bần bị ngập mặn tại Năm Căn, U Minh tỉnh An Xuyên. Cây cỏ sẽ bắt đầu khô héo, chết mòn sau vài ba ngày. Riêng chất xanh Cacodylic Acid rải trong các mật khu, mục đích cũng chỉ khai quang và diệt trừ VC, lúc đó đang làm giặc tại chiến trường miền Nam mà thôi.
Ngoài ta theo các nhà khoa học hiện nay, thì các chất hóa học được dùng làm thuốc diệt cỏ và khai quang, chỉ tồn tại một thời gian không lâu và mất tác dụng vì bị phân hủy, từ 1 tháng tới 1 năm, sau khi được rải. Riêng sự tồn tại của Dioxin thì đến nay vẫn còn bàn cải, không có ý kiến thống nhất giữa các nhà khoa học, cho nên cũng không biết đâu mà mò, khi kèn thổi ngược, trống đánh xuôi.
Có điều VC không bao giờ xác nhận là ở VN từ sau năm 1975, tình trạng vệ sinh ăn ở rất là xuống cấp. Thêm vào đó, đảng và cán bộ tham nhũng, ham tiền, nhắm mắt mở khẩu, khai quan cho thực phẩm, hàng hóa của Trung Cộng tràn ngập thị trường, từ thành tới miền quê hẻo lánh. Điển hình nhất, là trong khi cả nước VN bị điêu đứng vì nạn cúm gà, chết người, chết gia súc.. thì đảng tha hồ cho Gà cúm Trung Cộng, ào ào vào VN vô tội vạ. Vì vậy, lời phán quyết của giới hữu trách cũng như dư luận trong và ngoài nước, xác quyết rằng: Người VN bị ung thư, bạo bệnh, sinh non, quái thai, dị tật bẩm sinh, không phải là do ảnh hường của chất Da Cam., mà là bị Hội Chứng Nhiễm Độc Thực Phẩm, Trái Cây, Hải Sản và ngay tới Bánh Trung Thu, được nhập cảng công khai cũng như buôn lậu của Trung Cộng.
Để rõ ràng nhất về cái gọi là hội chứng màu da cam không ai hơn Việt Kiều, qua những hậu quả bệnh hoạn không tránh được, từ những thức ăn đường phố Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Phan Thiết, cho tới trong bệnh viện, phòng sửa sắc đẹp và kinh khiếp nhất là tại các nghĩa trang cũng như phòng chụp quang tuyến X khắp các đô thị. Mấy điều này, không thấy VC nhắc tới bao giờ, cũng như không nghe rằng là Lính "Ngụy" ở hải ngoại, cũng bị chất độc màu da cam, mà chỉ nói tới lính Mỹ, dù rằng họ không dính tới vụ này.

4 -VC Kiện Mỹ Đòi Bồi Thường Thiệt Hại Qua Hội Chứng Agent Orange:
Mấy năm nay qua lời xúi dại của bọn Luật Sư Mỹ chỉ biết có tiền, cùng với đám Việt Gian-Việt Kiều bất lương nên CSVN đã dựng đứng lên một vở tuồng "Kiện Mỹ vì tội rải chất độc hóa học xuống lãnh thổ VC"' gây hội chứng bệnh tật và sinh sản bất bình thường, cho hằng triệu gia đình. Tuy phong trào rất to lớn, có hằng trăm ngàn cán bộ đảng ký tên, cộng thêm nhiều tai to mặt lớn phe ta ở hải ngoại. Và dù đảng đã phát đơn kiện Mỹ tại Tòa Án Liên Bang ở Nữu Ước, nhưng tới nay, 30 công Ty của Mỹ, trong số này có những tên tuổi như Monsanto, Dow Chemical và Occidental Petroleum... vẫn cười khì, im hơi lặng tiếng.
Thực tế là Mỹ có sử dụng chất Agent Orange tại VN trong chiến tranh từ 1961-1971. Chất này được trộn với dầu lửa hay xăng cũng như dầu cặn, rồi dùng máy bay xịt xuống vùng cần khai quang. Và dù Dioxin đã là tác nhân gây những bệnh tật liên hệ tới sự miễn nhiễm, sinh sản, hormone và các loại bệnh ung thư. Nhưng có một điều mà VC và đám luật sư Mỹ, không để ý, là DIOXIN tự nó luôn có thể xâm nhập vào cơ thể người một cách dễ dàng, qua khói bếp, khói thuốc, khói xe... kể cả ăn thịt cá, uống sửa không vệ sinh, cũng bị nhiễm chất độc Dioxin. Tóm lại chất hóa học này, không cần phải tạo ra trong thuốc khai quang, diệt cỏ, mà tự nó cũng cấu thành qua các cuộc đốt rừng, hưởng khói xe, khói thuốc và thực phẩm bị nhiễm độc.
Mới đây, Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Tuấn, một nhà khoa học làm việc trong Bộ Công Nghệ VN cho biết : "Cam sản xuất tại Hà Giang VN có chứa chất 2,4-D kể cả Cam nhập của Trung Cộng, cũng chứa 2,4-D và 2,4,4-T". Lập tức nhà khoa học trên bị mất việc và vào tù, vì đã dám công bố sự thật, cho thấy Thực Phẩm của Trung Công, mới là ổ dịch bệnh, tác nhân gây thảm kịch tại VN trong bấy lâu nay.
Tóm lại như nhận xét của Thẩm Phán Weinstein, người đã thụ lý vụ cựu lính Mỹ từng tham chiến tại VN, kiện các công ty Mỹ sản xuất thuốc trừ diệt cỏ, Nhưng dù biết trước các nguyên đơn sẽ không bao giờ thắng kiện, ông vẫn yêu cầu bị cáo vì nhân đạo, đã chịu xuất hơn 180 triệu mỹ kim để bồi thường cho những người kia. Vụ kiện kỳ này, do nhóm luật sư Mỹ mà đầu đảng là Constantine Kokoris hợp với Dương Quỳnh Hoa (trước khi chết xác nhận mình không hề bị nhiểm chất độc màu da cam, mà chỉ bị đảng bắt buộc) đứng đơn kiện Mỹ. Có điều tới nay, qua dư luận trong cũng như ngoài nước, tấn tuồng đã biến chuyển từ nguyên tắc khoa học và công pháp quốc tế, thành trận giặc tuyên truyền rẽ tiền, như lời tuyên bố của nữ Giám Đốc "Xưởng Đẻ Từ Dũ" Sài Gòn: "không cần xét gì cả, thấy bệnh là phải bồi thường". Cho nên cũng như lần trước, người xử án là Jack Weinstein, chắc cũng phải theo cách trước, là "yêu cầu các bị cáo bỏ ra một số tiền", để giúp các nạn nhân đau khổ trong địa ngục VC, dù biết nguyên nhân bị bệnh của họ, tới nay cũng chỉ có trời mới biết.
Chừng nào VC mới bỏ cái tật, giựt chụp khi có cơ hội, làm như Hoa Kỳ ngu như chúng. Chỉ tội cho nạn nhân, không biết khi Mỹ bồi thường tiền (nếu có), họ và gia đình có hưởng gì không "hay tất cả lại như nước xuôi dòng" từ VN được đảng gửi vào ngân hàng, rồi dần, dần rửa sạch, để mua nhà đất, mở tiệm vàng, công ty hãng xưởng... Buồn ơi thân phận người VN .
Và đúng như lời tuyên bố của Thẩm Phán Mỹ từng xử các vụ án có liên can tới "Hội Chứng Chiến Tranh"', rằng mọi việc rồi sẽ không đi tới đâu cả nhưng nguyên đơn vẫn có một số tiền bồi thường dưới dạng du di bên ngoài cánh cửa của tòa án. Số tiền này cũng không phải nhỏ, sẽ được VC chia cho bọn luật sư bày mưu thiết kế, còn lại ẵm trọn.
Lần cuối tòa án Mỹ đã bác đơn kiện của CSVN trong dịp Nguyễn Minh Triết sang Mỹ vào tháng 6-2007. Theo tiết lộ mới đây của báo chí Mỹ, thì vấn đề "Hội chứng chất độc màu da cam"' mà VC đang làm lớn chuyện với Mỹ, thực chất chỉ là một món hàng chính trị mà đảng dùng để trả đủa chính phủ Hoa Kỳ qua hai vấn đề nhức nhối "nhân quyền tại VN"' và biểu tượng "Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ"' của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại.
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2008
Mường Giang

 


Oan thấu trời xanh: Vì giấc mơ lãnh án 40 năm tù!

Vũ Hải sưu tầm

May mắn nhờ sự giúp đỡ chí tình của bằng hữu và sự thủy chung của vợ nên sau 12 năm trời sống trong kinh hoàng và ác mộng cuối cùng người đàn ông được minh oan và được tòa trả tự do!
Cách đây ngót 30 năm, Steven Linscott còn là một sinh viên 24 tuổi đang theo học tại trường Emmaus Bible College, Hoa Kỳ trong khi vẫn cố gắng vật lộn làm thêm để kiếm tiền giúp đỡ gia đình gồm một vợ hai con.
Là một người ngoan đạo, lại sống cuộc sống khổ hạnh, chất phát không bao giờ gây phiền nhiễu cho ai, thậm chí ngay cả to tiếng với các con cũng không bao giờ có, nên Steven Linscott chẳng thể nào nghĩ cuộc đời của anh lại có thể vô tù chờ ngày lên ghế điện. Điều khiến anh vừa ngạc nhiên vừa đau lòng hơn nữa là toàn bộ cuộc đời tù tội của anh đều bắt nguồn từ một giấc mơ vô tội vạ và niềm tin mãnh liệt, nhưng cũng rất ngây thơ của anh, vào nền công lý của Hoa Kỳ. Vì vậy anh đã đem giấc mơ kể cho cảnh sát với hy vọng sẽ giúp cảnh sát bắt được hung thủ. Không ngờ câu chuyện của anh được cảnh sát xử dụng như là những bằng chứng để kết tội anh.
Câu chuyện bi thảm bắt đầu vào ngày 4 tháng 10 năm 1980. Hôm đó anh đang ngồi trong phòng học bài thì đột nhiên có người bấm chuông. Khi ra mở cửa Steven Linscott thấy có hai cảnh sát viên đang đứng trước cửa. Sau một hồi trò chuyện, hai người cảnh sát viên cho hai vợ chồng Steven Linscott biết một nữ sinh viên học nghề y tá tên là Karen Phillips đã bị hiếp và bị hung thủ đập chết vào tối hôm trước. Vụ án mạng đã xảy ra tại một căn nhà cách nhà của Steven Linscott có hai căn nên cảnh sát muốn biết hai vợ chồng có phát hiện ra điều gì khả nghi hay không.
Sau này nhớ lại buổi sáng hôm đó, Steven Linscott cho biết:
- Lúc đó hai người cảnh sát viên chỉ muốn biết chúng tôi có nghe hay có thấy chuyện gì bất bình thường vào tối hôm trước thì cho cảnh sát biết. Dĩ nhiên là cả hai chúng tôi khi đó đâu có biết chuyện gì nên cả hai lắc đầu xin lỗi. Khi đó hai người cảnh sát liền cảm ơn. Nhưng trước khi ra đi họ còn dặn dò nếu như sau này chúng tôi có nhớ ra điểm gì khả nghi hay bất cứ chi tiết gì dù là vô lý mấy đi chăng nữa thì cũng nên đến gặp họ.
Nếu câu chuyện chỉ có vậy thì đã không có gì đáng nói. Số là ngày hôm đó tuy phải bận rộn chuyện học hành bù đầu bù cổ, Steven Linscott vẫn cảm thấy trong đầu óc của anh vấn vương cái chết của người nữ sinh viên y tá. Chính những hình ảnh và thắc mắc liên tục quẩn quanh trong đầu óc của anh đã khiến anh tối hôm đó có một cơn ác mộng nội dung như sau.
Trong giấc ngủ, anh nằm mơ thấy có một người đàn ông có mái tóc vàng cắt ngắn cao khoảng thước bảy xuất hiện. Trong một dáng điệu rất thân thiện và vui vẻ, người đàn ông trò chuyện với một người con gái. Đang trò chuyện không hiểu sao, người đàn ông tóc vàng rút ra một vật ngắn tựa như khúc gỗ hay khúc sắt và mỉm cười một cách nham hiểm trước khi vung tay dùng vật đó đập vào đầu người con gái liên tục hết nhát này đến nhát khác khiến máu me bắn tung tóe khắp cả mọi nơi....
Mơ đến đây Steven Linscott liền bừng tỉnh và thao thức với những hình ảnh đầy kinh hoàng khiến anh không thể nào chợp được mắt. Mặc dù biết đó chỉ là một giấc mơ, nhưng Steven Linscott vẫn cảm thấy có những động lực kỳ bí khó có thể giải thích khiến anh cho rằng giấc mơ của anh có thể ít nhiều dính dáng đến vụ án mạng xảy ra cách anh hai căn nhà.
Cũng vì cảm thấy bán tín bán nghi như vậy nên ngay buổi sáng hôm sau, Steven Linscott đã vội vã đến đồn cảnh sát tường thuật toàn bộ giấc mơ của mình với hy vọng có thể giúp cảnh sát ít nhiều trong cuộc điều tra truy lùng hung thủ. Khi đó Steven Linscott không thể ngờ được tóc của anh cũng màu vàng và chiều cao của anh thước tám đã là những điểm gần tương đồng với hung thủ anh đã thấy trong mơ.
Sau khi trò chuyện với cảnh sát toàn bộ giấc mơ của mình, Steven Linscott đinh ninh cảnh sát sẽ cười hô hố rồi đuổi anh ra khỏi đồn với lời dặn dò, không nên điên khùng làm mất thì giờ của nhân viên công lực trong khi thi hành nhiệm vụ.
Không ngờ, sau khi nghe anh kể xong, cảnh sát đã tỏ ra hứng thú một cách đặc biệt và bắt anh kể đi kể lại trong suốt thời gian ba tiếng đồng hồ. Sau đó, một cảnh sát viên có vẻ cao cấp nhất trong số những cảnh sát viên hiện diện liền đứng lên cho anh biết:
- Tất cả mọi người tại đây sau khi nghe câu chuyện mà anh đã tình nguyện kể, đều tin tưởng hung thủ đã hiếp và giết chết cô sinh viên vào đêm hôm trước không phải ai xa lạ mà chính là anh. Vì vậy, tôi chính thức tuyên bố tạm thời câu lưu anh tại đây để chờ thủ tục truy tố anh ra tòa về hai tội, hiếp dâm và giết người!
Ngay khi nghe người cảnh sát công bố, Steven Linscott ngạc nhiên đến độ há miệng không thể ngậm lại được. Lúc đó bất chấp anh cố gắng ú ớ thanh minh, hai cảnh sát viên lực lưỡng vẫn thản nhiên xấn vô còng tay và tống anh vào nhà giam.
Sau khi hội kiến với luật sư, anh mới kinh hoàng nhận ra nếu anh bị tòa kết tội giết người, anh dễ dàng bị lên ghế điện hoặc nhẹ nhất cũng sẽ bị lãnh án chung thân khổ sai.
Hay tin Steven Linscott có thể bị vướng vòng tù tội, vợ của anh là cô Lois đã vội vã vận động mọi người quyên góp tiền bạc cho anh tại ngoại. Trong thời gian này vợ anh cũng đã sinh hạ cho anh một đứa con trai tên là Vicki.
Ngày 24 tháng 5 năm 1982, phiên tòa xét xử Steven Linscott bắt đầu. Toàn bộ bằng chứng then chốt được công tố viện trình bầy tại phiên tòa là giấc mộng hãi hùng do chính bị cáo cung cấp. Trong khi luật sư của Steven Linscott coi giấc mộng chỉ thuần túy là một giấc mộng và trình bầy thiện chí của Steven Linscott muốn giúp cảnh sát điều tra ra hung thủ thì trái lại bên công tố viện lại coi việc kể lại giấc mộng của Steven Linscott là một hành động thú tội của bị cáo.
Công tố viện đã dựa vào toàn bộ nội dung giấc mơ mà anh đã kể cho cảnh sát để phân tích, so sánh, dẫn giải nhằm chứng minh hung thủ của vụ án mạng đã bị giầy vò với tội ác mình đã phạm nên đã đi đến quyết định thú tội với cảnh sát nhằm trút bỏ mặt cảm tội lỗi.
Hậu quả, bồi thẩm đoàn đi đến kết luận Steven Linscott tuy không phạm tội hiếp dâm nạn nhân nhưng quả thực đã phạm tội giết người. Ngay sau đó, Steven Linscott bị tòa tuyên án tù 40 năm khổ sai. Đêm đầu tiên trong tù, Steven Linscott lại mơ nhưng lần này giấc mơ của anh là cả một cơn ác mộng mà bản thân anh là vai chính.
May mắn là Steven Linscott có được một người vợ đảm đang, nhất mực thủy chung thương yêu chồng. Không những vậy, bà còn là người tin tưởng mãnh liệt, sự oan uổng của chồng sẽ được minh bạch. Vì vậy, trong khi chồng đang ngồi bóc lịch mỗi ngày trong tù, bà liên tục vận động mọi người hậu thuẫn bà trong việc chống lại án quyết của tòa án.
Kết quả đến cuối năm 1985, Steven Linscott được lệnh đình chỉ thi hành bản án trong khi cơ quan tư pháp tiểu bang quyết định tái xét lại bản án của anh. Nhưng phải mất đến 7 năm, phiên xử phúc thẩm vụ án mạng mới được tiến hành vào năm 1992. Thời điểm này Steven Linscott vẫn sống trong phập phồng lo sợ. Lý do là Steven Linscott cảm thấy khó có thể tin được một một hệ thống tư pháp đã kết tội oan uổng anh trong khi chỉ căn cứ thuần túy vào một giấc mơ chính anh đã kể cho cảnh sát?
May mắn cho Steven Linscott là đúng một tuần trước khi phiên xử bắt đầu, cuộc thử nghiệm nhiễm sắc tố DNA đã được tiến hành căn cứ vào những bằng chứng phát hiện tại hiện trường. Mặc dù khoa học thử nghiệm nhiễm sắc thể DNA đã được phát minh từ nhiều năm trước đó nhưng ở thời điểm 1980, hệ thống tư pháp Hoa Kỳ chưa chấp thuận kết quả thí nghiệm DNA là những bằng chứng khoa học được xử dụng tại tòa án.
Qua cuộc thí nghiệm, các nhân viên điều tra tin tưởng một cách hiển nhiên: Steven Linscott hoàn toàn vô tội. Vì vậy, công tố viện tiểu bang quyết định hủy bỏ việc truy tố Steven Linscott khi kháng án. Ngay khi hay tin công tố viện từ chối truy tố bị cáo trong phiên tòa phúc thẩm, chánh án tòa kháng án tiểu bang đã tuyên bố: "Trường hợp bị kết tội và bị bỏ tù một cách oan uổng của Steven Linscott đã chứng tỏ, sự công bằng lý tưởng và sự thưởng phạt công minh trong hệ thống tư pháp Hoa Kỳ đã không những bị quên lãng mà còn bị nghiền nát một cách bất cẩn."
Trong thời gian bảy năm trời theo đuổi kháng án, Steven Linscott đã tốt nghiệp văn bằng cử nhân tâm lý học đồng thời có thêm một người con gái tên là Rachel.
Có điều lạ là cho đến nay, cảnh sát vẫn chưa tìm ra được ai là thủ phạm đã giết người nữ sinh viên trong đêm ngày 3 tháng 10 năm 1980. Và như vậy, có lẽ hung thủ hiện vẫn còn sống ung dung ngoài vòng pháp luật?