banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

"Xây dựng đội ngũ trí thức" Hay tăng cường ru ngủ "chất xám"? Tri thức Việt Nam! Xin hãy tỉnh giấc

 

Trác Tuân

...Tiếp theo kỳ trước bài viết" Hội nghị TW với ba đề án..."
Như mọi người đã biết, đề án quan trọng thứ hai được đưa ra bàn thảo tai hội nghị và ra hẳn riêng một nghị quyết đó là"Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế" Rõ ràng, đây không phải là đề tài bị lạc đề, mà lấp đàng sau cái khẩu hiệu này là một mưu toan nhằm xiết chặt hơn nữa việc quản lý đội ngũ trí thức, khi mà chúng ta sẽ xem xét và phân tích vai trò trí thức trong quá khứ đã được đảng độc tài quan tâm như thế nào?Sử dung họ ra sao??Sau đây sẽ là những phân tích, đánh giá về tầng lớp trí thức chất xám, nguyên khí quốc gia trong qua khứ và hiện tại:
"Chất xám"Thứ tài nguyên vô giá!
Động lực để phát triển xã hội về mọi mặt trong một quốc gia, ngoài yếu tố con người, phải kể đến đội ngũ trí thức.Cái "Chất xám" vô cùng quan trọng này, nó được xem đến như tài sản đặc biệt quí hiếm của một dân tộc.Nhân tài là nguyên khí là rường cột của quốc gia.Điều đó đã được cha ông ta, được lịch sử nhân loại minh chứng và thực tế xã hội cũng khẳng định điều đó.Những nhà trí thức ho có tầm hiêu biết, có kiến thức và cũng nhận biết hơn cộng đồng ở những lĩnh vưc đòi hỏi cần có trình độ sâu rộng.Năng lực và học vấn của họ nếu được phát huy,nếu được ưom trồng, hay đem ra thi thố nhằm giúp ích cho xã hội, sẽ là động lực phát triển rất nhanh khi được quan tâm và đầu tư thích đáng.
Đặc biệt là trí thức hoạt động chính trị, nếu một nhân tố nào đó có đủ tầm vóc, đủ năng lực, họ thực sự chiếm được cảm tình của quần chúng, được nhân dân "tâm phục khẩu phục"tin tưởng một cách tự nguyện, được trao trọng trách và thể hiện tài năng quản lý, điều hành đất nước một cách hiêu quả, sẽ đem lại sự phát triển tột bậc cho quốc gia đó.Trường hợp ông Lý Quang Diệu hay ông thủ tưởng Mã Lai Matthia Mohamet là một ví dụ điển hình.Từ một quốc gia phong kiến phân quyền theo đạo hồi, có nền kinh tế chậm phát triển cho đến cuối những năm 60 của thế kỷ trước.Chỉ sau 10 năm dưới sự lãnh đạo và điều hành của ông, Ma Lai đã vươn lên ngang tầm và thậm chí còn đe doa vươt qua nước láng giếng Thái Lan trong một tương lai gần.
Đó là loại chất xám quí hiếm báu vật của quốc gia.Còn trong các lĩnh vực khác, chất xám là nhu cầu thiết yếu, làm hạt giống, hạt nhân để thúc đẩy sự phát triển.Trong chính trị, có một ekíp trong bộ máy qủan lý điều hành tốt sẽ đưa cả một đất nước đi lên.Trong kinh tế, những người kinh doanh giỏi được thi thố trong một môi trường có điều kiện thuận lợi sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế xã hội đi theo, nhằm vươn cao vươn xa hơn tầm kinh tế quốc tế hội nhập.Trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đội ngũ trí thức sẽ là nền tảng cho sự phát triển xã hội bền vững có chất lượng, nâng cao trình độ dân trí về tiếp thu các giá trị tiến bộ nhan loại.
Các lĩnh vực về văn hoá tư tưỏng cũng vậy.Món ăn tinh thần mà cái "chất xám' văn sĩ đem lại, luôn không thể thiếu cho dù xã hội đó phát triển tới đâu, nếu không có sự điều chỉnh, hướng xã hội đến những chuẩn mực xã hội, giữ gìn giá trị truyền thống của dân tộc, hướng con người tới cái chân, thiện, mĩ thì xã hội đó, dân tộc đó chỉ là cái xác của chính mình.Kéo theo là sự băng hoại, huỷ hoại, làm suy đồi xã hội, gây lên những hậu quả không lường về mọi mặt cho xã hội, cho dân tộc đó.Vấn đề này giới sĩ phu đóng một vai trò rất quan trọng và họ phải có trách nhiệm chính trong việc xã hội bi tha hoá...
Đảng CSVN kẻ trực tiếp huỷ hoại "chất xám", tài nguyên vô giá quốc gia!
Tiếc thay!Xã hội Việt Nam hiện nay tất cả các loại chất xám đều không được đắc dụng trong môi trường độc tài hoá toàn trị.Mặc dù tư khoe là có hàng vạn trí thức có bằng cấp khoa học, cử nhân luật và triết học, có hàng nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, có hàng ngàn nhà gíao nhân dân, nhà giáo ưu tú vv...và đông đảo đôi ngũ những nhà báo, văn nghệ sĩ...Nhất là tâng lớp doanh nhân VN hiện nay, có thực sự đông đảo và phát huy được tính năng động như đảng CSVN đã tô hồng hay không? Đang là một dấu hỏi lớn?????
Nhìn vào thực trạng xã hội hiện nay, chúng ta không khỏi chạnh lòng xót xa, khi thấy cái tài sản vô giá này đã bị sử dụng một cách lãng phí, thậm chí nó còn đang bi huỷ hoạ dần theo thời gian.Các loại chất xám nay hoàn toàn bị tê liệt bởi loại "chất đỏ"được cho là chủ đạo trói buộc.Nếu dùng từ chính xác thì họ bị một nhóm "Lưu manh giả danh yêu nước"khống chế và quản lý một cách chặt chẽ và tinh vi nhất, với một mục đích duy nhất là phục vụ quyền lợi của đảng CSVN, mà thực chất trí thức VN, bị một nhóm người chóp bu có quyền lợi, lợi ích, nấp dưới cái tên có cái mác là "đảng công sản Việt Nam" dùng làm công cụ phục vụ cho chính họ mà thôi.
Chúng ta hãy điểm lại quá trình suốt hơn 60 năm cai trị đất nước.Trong thời kỳ chiến tranh, giới trí thức bị đảng CSVN núp dưới chiêu bài "chiến tranh nhân dân", đã huy động tối đa vào phục vụ cho guống máy chiến tranh.Từ những trí thức bị lừa phỉnh làm con rối chính trị như Huỳng Thúc Kháng Phan Kế Toại vv... thời chống Pháp, cho tới thời chiến tanh chống Mỹ là Nguyễn Hữu Thọ,Trịnh Đình Thảo, Dương Quỳnh Hoa, đều bị họ đưa lên làm trò hề trên sân khấu chính trị.
Lớp trí thức hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng nghệ thuật là những con chiên ngoan đạo như Tố Hữu,Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước, Phạm Tuyên, Nguyễn Đức Toàn vv... đã cung cúc tận tuỵ những ông chủ mới, mang tài năng chất xám của mình ra để phục vụ cho mưu đồ chiến tranh của họ.Chính từ những bài ca, bài thơ của họ là động lực làm mê muội những lớp trai trẻ lao vao cuộc chiến điêu tàn, làm nguyên liệu cho những cỗ máy xay thịt tàn bạo. Ngoài tội ác của đảng CSVN kẻ phải chịu trác nhiệm chính trước lịch sử, thì họ, những kẻ mao danh là "trí thức" xưa kia phải chịu trách nhiệm một phần trước nhân dân về việc đã mù quáng làm công cụ cho nghịch đảng, trong việc đem xương máu nhân dân phục vụ cho chiến tranh.
Trước sự thật lịch sử này, giới trí thức ngày ấy sẽ tìm cách đổ thừa do hoàn cảnh và bối cảnh, do tầm nhìn của họ không thoát ra được thời đại.Vì vậy họ chỉ là nạn nhân, họ không thể làm gì khác được.Sự nguỵ biện đó không bao giờ có tính thuyết phục, bởi cùng trang lứa với họ, có biết bao "kẻ sĩ"khi biết mình bị lừa dối đã kịp thời tỉnh ngộ, thà bị vùi dập tù đày, hay ở ẩn, chứ không chịu hợp tác với kẻ gian hùng.Những Trần Dần, Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang, Hữu Loan và sau này cả Chế Lan Viên, Dương Thu Hưong, Trần Mạnh Hảo vv..mỗi người một cách thể hiện, đã nói lên nõi lòng kẻ sĩ cho dù đó là sự sám hối muộn mằn còn hơn không! Cái mảnh đất "hiện thực" quá màu mỡ, nhưng cũng qua khắc nghiệt này, không phải là nơi họ thi thố.Các "sĩ phu" cho dù có gồng mình cày ải trên mảnh ruộng "hiện thực"đó thì giá trị của những hạt thóc thành quả đó, xã hội sẽ không bao giờ được hưởng, bởi nó là những mũi kiếm chích vào lưng kẻ độc tài.
Ngày nay!Khi xã hội có nhiều đổi thay, tầng lớp trí thức được nhân rộng ra nhiều lĩnh vực khác.Nhưng vẫn do một tay kẻ độc tài cai trị, vẫn lớp lang cũ, họ lại sử dụng "chất xám"vào các đời sống chinh trị-kinh tế và xã hội.Những ông nghị gật hay làm mồi câu nhử, làm "con cá cảnh" cho có vẻ dân chủ trong cái tổ chức được gọi là "quốc hội"Những NLD, DTQ vv..Thử hỏi có khi nào những người như họ có cảm thấy thân phân như một "công cụ" bị đưa ra làm con rối, làm "quân xanh"phản biện một cách yếu ót trên bàn cờ chính trị.Có khi nào họ tự hỏi "Tại sao ta lại phải làm "nhân nô"cho kẻ có trí tuệ thấp hơn ta????"Phải chi cái chất "xám"của ta hãy là những "nhát cuốc"bổ xuống, góp phần đào mồ kẻ những "bỉ lậu" đó cho muôn dân trăm họ dược nhờ thì hay biết bao!!!!
Rồi những nhà kinh tế học nữa!Khi các vị biết được rằng cái tầm vi mô, vĩ mô mà các vị huyễn hoặc, nó được bó cứng trong cái khuôn mẫu "định hướng xã hội chủ nghĩa"thì chẳng thể làm gì được khi mà con ngựa có hay đến mấy, kẻ ngồi trên lưng nó lại là kẻ ngu xuẩn không biết cầm cương điều khiển, nó cũng không thể có nước phi ngoạn mục.Những tầm mức chiến lược kinh tế mà các vị đã nhiệt tình thái quá hoạch định vạch ra, thực ra các vị chỉ là những "thợ vẽ", vẽ lên bức tranh kinh tế hoành tráng, nặng về phô trương thành tích, đánh bóng cho chế độ độc tài mà thôi!
Thử hỏi các vị! Chỉ với đôi bàn tay và trình độ rất thấp của người lao động.Với những doanh nhân nặng về cơ hội để vơ vét, để chụp giựt, thiên về kinh doanh có tính dịch vụ là chính và cuối cùng với những cái đầu bệnh hoạn đang ở trên ngôi cao nặng về tham lam vơ vét là chính!!Nhìn khắp.. soi khắp...không có lấy một cơ sở nào, một nhân tố nào cho sự cất cánh đi lên..Đi mãi..đi mãi..hơn 20 năm rồi, kể từ khi ông Sáu Dân hô hào "công nghiệp hoá...hiện đại hoá" cho đến nay vẫn đì đẹt là "con giun" của thế giới.Cái thước đo 72% vẫn là nông dân, với nền nông nghiệp lúa nước vẫn được coi là truyền thống.Vẫn là cái cơ chế "bờ vùng bờ thửa hoá"bao đời nay, vậy mà vẫn hô hào"công cuộc đổi mới nông thôn"Ngay cả quí vị, những hạt nhân "chất xám"còn mơ màng như vậy!Thì phận dân đen hèn chi suốt đời cắm mặt xuống đất, cam chịu cảnh lầm than cơ cực cũng là điều không có gì là lạ!
Bức tranh "màu xám" thể hiện đúng cái "chất xám" Việt Nam!
Ngày nay.Khi xã hội phát triển trên mọi mặt của đời sống, nhu cầu đòi hỏi đội ngũ trí thức được mở rộng trên mọi lĩnh vực.Ngòai những lĩnh vực có tính truyền thống về chính trị, tư tưởng, khoa học xã hội vv.. thì các lĩnh vực mới mẻ như kinh tế, luật pháp cũng được phát triển mạnh mẽ, nhưng sự phát triển đó lại bị khống chế để tuân theo con đưòng là phục vụ cho chế độ, cho một nhóm người có lợi ích và quyền lực đang chấp chính, chứ không phải là phục vụ cho nhân dân.
Chúng ta đã thấy hai lĩnh vực này được thể hiện bị quản lý khống chế rất rõ.Các nhà kinh tế hoạt động trong môi trường "chính trị hoá"đã không phát huy được tính độc lập, mà chỉ chú tâm vào mục đích kinh tế phục vụ chính trị, xây dựng mô hình đề án tuân theo hướng chính trị đề ra.Về đội ngũ trí thức hoạt động luật pháp thì còn thậm tệ bi đát hơn nữa.Như chúng ta đã thấy vai trò của luật sư trong xã hội dân sự có tác dụng lớn như thế nào trong đời sống xã hội.Họ là lực lượng căn bản để pháp luật được thực thi có hiệu quả nhất. Thậm chí chúng ta đã thấy những nhà hoạt động pháp luật thường có xu hướng chính trị, và họ đã tham gia hoạt động chính trị một cách hữu hiệu, chúng ta đã thấy nhiều chính khác xuất thân từ nghề luật sư.Rõ ràng họ đã đóng một vai trò dụng tích cực cho một xã hội văn minh.
Nhưng giới luật sư Việt Nam hình thành sau năm 1975 chỉ có tính chất chiếu lệ hình thức, gần đây do nhu cầu xã hội, nghề luật sự được phát triển tương đối mạnh.Nhưng nó chỉ được giới hạn trong khuôn khổ hình thức hòng che mắt thiên hạ là chính. Họ góp mặt trên mâm cỗ pháp đình để thưởng thức món thịt "dân đen" là chính.Chứ họ chưa có tác dụng đáng kể nào nhằm bảo vệ người dân trước sự lộng hành của chế độ độc tài, kẻ sử dụng quyền lực, chà đạp luật pháp để áp bức gây oan sai cho dân. Chúng ta đã biết họ tham gia pháp đình với những bài bào chữa rất kêu, nhưng phần thắng bao giờ cũng nhường cho những kẻ có tên là "đảng CSVN", kẻ cầm cân nảy mực thực chất chỉ là công cụ "nhân danh..." mà thôi.Còn họ những luật sư bại trận trong thâm tâm họ nghĩ gì khi khổ chủ của mình "oan sai vẫn hoàn oan ức"??Chỉ có giời mới biết được họ nghĩ gì?Chỉ biết rằng các phiên toà tiếp theo họ vẫn thế, vãn là những bài bào chữa hùng hồn và chấp nhận phần thua như một lẽ đương nhiên!!!!
Các cụ xưa có câu "rau nào sâu nấy", Phải chăng giới trí thức cách mạng được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, nên tầm nhìn và sự hiểu biết cũng phải dựa vào tư tưởng xã hội chủ nghĩa chăng???Một phần không nhỏ "kẻ sĩ" nước Nam mắc cái tâm lý có tính truyền thống "trung quân"tôn thờ thần phục thế lực tập quyền chính thống, cho dù thế lực đó ra sao.Thế lực đó tàn bạo và ngu dốt tới đâu, kẻ sĩ vẫn phải cung cúc tận tâm phục vụ. Bởi vậy, họ cũng không thoát khỏi thân phận như những trí thức lớp trứơc đã từng phải trải qua???"Khi đât nước đang trải qua nạn "nội xâm"họ thường xem nhẹ vấn đề, ngại đấu tranh với nếp nghĩ "việc nội bộ những điều khó nói ra", hay dù thế nào đi chăng nữa cũng không lên "vạch áo cho người xem lưng".Tốt hơn cả là "đóng cửa bảo nhau"để rồi "dĩ hoà vi quí"
Nhưng hiên trạng mà chúng ta thường thấy ở giới trí thức hịện nay là họ không nhận diện ra được chính mình là ai nữa rồi???Tâm lý hèn nhát ngại đấu tranh, an phận thủ thường!Chúng ta thấy đa phần họ đã chui vào "tổ kén", một là an phận làm "công cụ".Hai là gặm nhấm qua khứ để mặc thời gian còn lại của cuộc đời trôi đi một cách đìu hiu heo hắt. Họ đã được dung dưỡng bằng một thứ"cám cò" rẻ tiền và tự ru ngủ với tâm tưởng "Mặc kệ đời xin cho tôi hai chữ bình yên"để quên đi nghĩa vụ của kẻ đèn sách.Hoặc cùng lắm, thi thoảng chỉ là sự phản kháng vụng trộm, yếu ớt chỉ thể hiện trên trong các câu lạc bộ "Bolahien"mà thôi!. Một phần không nhỏ những kẻ tự nhận là"kẻ sĩ" đã bằng lòng với cuộc sống và biến thái chui vào các toà soạn để tồn tại, đã đưa họ trở thành thân phận những tên "bồi bút"phục vụ cho nguỵ đảng. Tất cả cái bức tranh "chất xám" Việt Nam hiện nay, được thể hiện bằng chất liệu u ám, cái màu xám theo đúng nghĩa đen của nó. Không có lấy một gam màu sáng nào được thể hiện dù là rất nhỏ trong cái bức tranh xám xịt đó.
Thế mới hay, tên thực dân ngày nào có phần lại dũng cảm hơn, nhân đạo hơn những người có cùng màu da dòng máu với nhau. Hoá ra họ cũng có phần góp công trong việc đưa những áng văn hiện thực để đời trong nền văn chương thơ phú Việt Nam.Những Chí Phèo, tắt đèn, vở nhặt vv..Những tác phẩm tương tự như vậy, sẽ không bao giờ được xuất hiện trong môi trường độc tài toàn trị hiện nay.
Bản chất của đảng CSVN: Lừa dối và ngoan cố!.
Đảng CSVN với bản chất ngoan cố không chịu từ bỏ con đường phản dân hại nước của họ.Đứng trước nguy cơ gần đây đánh hơi thấy sự thức tỉnh, phản kháng của giới trí thức và cảm nhận được chính giới trí thức sẽ là nhân tố quan trọng trong việc tổ chức lên cuộc cách mạng dân chủ trong tương lai, mà bằng chứng là một số nhà trí thức hàng đầu lập lên tổ chức xã hội có hơi hướng chính trị là "viện nghiên cứu chiến lược kinh tế", rồi hiện tượng tẩy chay phản kháng bất tuân lệnh của đoàn luật sư Sàigòn, trong việc không tham gia tổ chức cuội "Hội đồng luật gia Việt Nam"vv...đã đưa vấn đề trí thức ra thảo luận trong hội nghị TW lần này là " Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế";với mục tiêu rẩt rõ rệt...'' Từ nay đến năm 2020, chúng ta phải phấn đấu theo mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng đông và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ trí thức của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ, sức mạnh của đất nước, của đảng và của cả hệ thống chính trị,"
Rõ ràng khi phân tích kỹ cái đề án và nội dung chính chúng ta nghi ngờ hai chữ "Xây dựng"Bởi xây dựng là quá trình bắt đầu của một qui trình tổ chức.Vậy mà đã hơn 60 năm qua, chúng ta thấy họ đã xây dựng đội ngũ trí thức như thế nào như phân trên tôi đã phân tích.Tại sao bây giờ họ mới "xây dựng"???Vậy thì cái từ "xây dựng"họ dùng ở đây không ngoài mục đích nhằm khống chế ru ngủ tầng lớp trí thức, để giữ vừng ngai vàng cho chế độ độc đảng mà thôi.
Với loại khẩu hiệu nghe rất kêu, rất tâm đắc chúng ta thường thấy trong các cuộc họp, trong các báo cáo chính trị như trên vv..Nhưng "nói vậy mà không phải vậy"bởi đằng sau thủ đoạn dùng ngôn ngữ rất cách mạng, rất hoa mỹ đó, chúng ta chưa bao giờ thấy họ thực hiện đúng với cái khẩu hiệu đó đề ra, mà là cả một âm mưu thủ đoạn rất nham hiểm nhằm phục vụ cho mưu đồ cá nhân của họ.Lừa dối luôn là bản chất của họ, đó là điều chúng ta luôn cảnh giác và chớ có bao giờ tin ở họ bất cứ điều gì!
Trí thức Việt Nam!Xin đừng trốn chạy trách nhiệm mà lịch sử đã giao phó
Người xưa thưòng nói "Kẻ sĩ thời bình thì ra giúp nước, trị dân.Thời loạn thì lui về ở ẩn" Đó là cái lý không cùng của thời "trung quân ái quốc"Còn thời nay, cái quyền và nghĩa vụ của mỗi con người trong một xã hội rộng mở.Một xã hội không còn là của riêng ai, mà là của chung.Thì kẻ sĩ hãy lên hiểu cái giá trị "chất xám" cái nguyên khí quốc gia này phải đem ra thi thố, trước hết là vì mình, vì người, sau đến coi như là trách nhiệm của kẻ hưởng "lộc nước", được chắt chiu từ mồ hôi công sức của dân, thì xin hãy đừng uổng phí tài năng của mình một cách vô ích. Trách nhiệm của trí thức là rất nặng nề trước hiện tình đất nước, họ chính là lớp người "tiên thiên hạ chí ưu nhi ưu". Lo cái nỗi lo của thiên hạ chính là bổn phân của họ. Xin hãy coi mình là hạt giống chắc mẩy nhất trong một bông lúa, một trái cây chín mọng ngon lành nhất trong cái cây, để dâng lên cho đời hương thơm trái chín đó một cách hiệu quả nhất.Xin hãy dũng cảm sử dụng chất xám của mình trong vai trò vị trí thuyền trưởng, đầu tầu chứ đừng trông chờ ỉ lại, tìm cách thoái lui hèn nhát.
Giới trí thức hãy nhận rõ bô mặt thật của bè lũ chóp bu độc tài, phản dân hại nước, đang tìm cách khống chế, ru ngủ trí thức trong việc ngoan cố bám giữ chiếc ghế quyền lực đã dần trở lên mục ruỗng.Làm tròn sứ mạng lịch sử đã giao phó cho trí thức, là cùng nhau xoá bỏ chế độ độc tài thực hiện dân chủ hoá đất nước.Vì chỉ có nền dân chủ, chỉ có một xã hội dân chủ, trí thức chất xám mới phát huy hết khả năng để cống hiến, phụng sự nhân dân, đưa đất nước tiến lên tiến mạnh, theo kịp cac quốc gia văn minh trên thế giới.
Thời gian là vô hạn, đời người là hữu hạn, quí vị đã được thiên phú ban cho trí tuệ hơn người, thì xin hãy tận dụng tài năng để phục vụ cho nhân dân cho đất nước!Xin đừng hoài phí, nếu không muốn mình có tội với lich sử với nhân dân...Xin đừng bỏ phí....
Hà Nội-VN, ngày 22/7/08
Trác Tuân

 

 

Bức tranh nông thôn VN! Bao giờ nông dân thoát khỏi nghiệp nhà nông?

Trác Tuân

Khái quát chung
Giải phóng sức lao động cơ bắp và giam thiểu sức lao động trưc tiếp của con người, bằng việc thay thế công nghệ máy móc, cải tiến chu trình làm việc có hiệu quả và năng suất cao, sao đời sống của con người được ấm no hạnh phúc là mục đích cao cả của loài người!
Vì vậy môt trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu, là giải phóng sức lao động nặng nhọc của người nông dân trên đồng ruộng của các quốc gia trên thế giới. Những biện pháp thúc đẩy quá trình phát triển nông nghiệp bao gồm cơ giới hoá các khâu SX, đưa các tiến bộ khoa học về công nghệ vi sinh vào đồng ruộng và cơ cấu lại nhân lực lao động nông nghiệp, sao cho phù hợp và cân bằng với việc thúc đẩy quá trính đô thị hoá.
Nhìn ra thế giới chúng ta thấy đa phần họ đã đi theo hướng phát triển này. Với sự biến đổi như vũ bão của nền khoa học kỹ thuật và nhu cầu của đời sống văn minh, thì nền công nghiệp đã nhanh chóng thay thế cho nền nông nghiệp lạc hậu không hiệu quả. Hàng loạt các cuộc cách mạng về nông nghiệp bằng việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp được các nước áp dụng các công nghệ rất hiện đại và tiên tiến, đã đem lại những thành công rất lớn. Đặc biệt các nước tiên tiến đã chuyển đổi cơ cấu trồng cây lương thực truyền thống như lúa, lúa mì v.v... sang mô hình SX các giống cây có hiệu quả và năng xuất có giá trị kinh tế cao hơn Hiên nay Nhật Bản chỉ cần có 6%. lao động tham gia SX nông nghiệp, trên một diện tích 40% đất canh tác, đủ bảo đảm an toàn an ninh nông nghiệp quốc gia, cân bằng với phát triển công nghiệp...
Ngày nay! Để đánh giá và nhận xét về tốc độ phát triển của một quốc gia, người ta thường lấy chỉ tiêu về tỉ lệ người tham gia nông nghiệp để so sánh và biết được quốc gia đó có thật sự phát triển thông qua con số tỉ lệ dân số giữa nông thôn và đô thị. Cụ thể là trên cùng một diện tích canh tác, tỉ lệ người tham gia nông nghiệp nhiều hay ít, sẽ cho ta một thấy quốc gia đó đã công nghiệp hoá được nền nông nghiệp bao nhiêu %.
Cũng cùng một diện tích đất canh tác tương tự, hai quốc gia có mức xuất khẩu gao lớn nhất thế giới là Việt Nam, có đến 72% số dân tham gia lao động nông nghiệp, còn Thái Lan chỉ cần 32%. Điều đó chứng tỏ tuy lượng gạo xuất khẩu tương ứng nhưng hiệu xuất của Thái Lan vượt trội Việt Nam, vì chỉ cần số người tham gia làm ra sản phẩm chưa bằng 1/2 của Việt Nam. Lên cho dù Việt Nam có vươn lên đứng đầu số lượng gạo xuất khẩu thì điều đó cũng chưa phản ánh đúng bản chất của nó, mà nó chỉ là con số lấy thành tích làm mục tiêu đánh bóng chế độ là chính.

Bức tranh nông thôn Việt Nam
Xuất thân là một đất nước có nền nông nghiệp lúa nước truyền thống, gần như trên bản đồ địa lý Việt Nam, vùng nông thông chiếm tỉ lệ đến 90% diện tích dân số. Nên từ bao đời nay các nếp sinh hoạt văn hoá xã hội đều gắn liền với tập tục làng xã, với những hình ảnh cây đa bến nước đã trở thành kỷ niệm thân thương với môi người Việt Nam, đồng ruộng mùa màng đã trở lên không thể thiếu, đã gắn bó máu thịt với bao thế hệ người Việt Nam.
Nhưng đó là những hình ảnh quá khứ, những kỷ niệm về quê hương xứ sở. Còn ở Việt Nam hiện nay thì sao? Một đất nước có tỉ lệ 90% lao động nông nghiệp, sau hơn 15 năm (từ 1975-1990) rút xuống còn 80% và cũng ngần ấy năm (1990-2007) con số vẫn trên 70% là người lao động nông nghiệp, đã cho thấy tốc độ phát triển công nghiệp với một qui mô "rùa"!
Vẫn với tâm lý làng xã và chập chừng trong việc không dám quyết đoán trong chiến lược phát triển kinh tế với hai biện pháp duy nhất là đẩy mạnh công nghiệp hoá, đồng nghĩa với việc tăng cường đô thị hoá, sẽ là một cuộc cách mạng thật sự trong việc chuyển đổi chuyển dịch cơ cấu, tăng lao động công nghiệp cũng có nghĩa giảm thiểu lao động nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả to lớn cho cả hai đối tượng. Người lao động công nghiệp sẽ tăng thu nhập và nâng cao trình độ khi được tiếp xúc với kỹ nghệ công nghiệp và lao động nông nghiệp sẽ được phân chia nhiều diện tích đất để canh tác, cùng với việc sẽ cơ giới hoá và đưa công nghệ sinh học vào đồng ruộng, sẽ đem lại hiệu quả và cân bằng kinh tế, tạo lên sự tương hỗ bền vững giữa các lĩnh vực SX cho đất nước.
Nhưng với hạn chế của một chế độ độc tài trong việc độc quyền chiếm lĩnh vị trí quyền lực, đảng CSVN đã không thể vạch ra được phương hướng đường lối có tính chiến lược kinh tế. Tuy đã thấy trước được những mâu thuẫn sẽ nảy sinh trong quá trình hội nhập, nhưng họ chủ trương không đẩy nhanh việc đô thị hoá mà vẫn dùng chính sách "định hướng xã hội chủ nghiã". Lấy tư tưởng chính trị làm chủ đạo, áp đặt nhân dân phục vụ âm mưu chính trị vì lợi ích cá nhân. Họ cho rằng nếu đẩy nhanh quá trình đô thị hoá, tất yếu sẽ nẩy sinh những nhu cầu xã hội cao hơn, trong đó nhu cầu tư tưởng là một yếu tố quan trọng khi trình độ dân trí sẽ được nâng cao, khi người dân đô thị được tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhiều hơn, sẽ gây nguy hại cho chiếc ghế quyền lực của chế độ.
Một phần nữa cũng không kém quan trọng là khả năng của họ chỉ có hạn, sẽ không theo kịp với sự phát triển chung khi quá trình đô thị hoá diễn ra, sẽ phát sinh nhiều vấn đề vượt quá tầm kiểm soát với khả năng quản lý điều hành đất nước của chế độ độc đảng. Vì vậy thay vì hướng tới mục tiêu đô thị hoá, họ chỉ đầu tư vào vùng nông thôn, những vùng bị mất đất cho khu công nghiệp một cách rất "cò con" chiếu lệ, đó là gây dựng những làng nghề, nhằm tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn người bị mất đất không có công ăn việc làm.
Song song với chủ trương đó, họ còn chủ trương phát triển nông thôn có tính tiêu cực. Nhà nước CSVN đã dùng một phần ngân sách và vốn vay nước ngoài để đầu tư vào khu vực nông thôn, bằng những chính sách tưởng chừng như tiến bộ tích cực như miễn thuế nông nghiệp từng phần, cho tới nay người nông dân được miễn thuế hoàn toàn, thậm chí họ còn được vỗ về bằng cách hỗ trợ một số phí như phí thủy lợi, kiên cố hoá kênh mương v.v... Các dự án lớn cũng tập trung về vùng nông thôn. Như dự án nước sạch, dự án điện đường trường trạm hay bê tông hoá đường nông thôn, mục đích nâng cao đời sống cho nông dân, đã cho thấy sự chú trọng của chế độ đối với khu vực này nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị.
Một phần chủ quan cũng phải kể đến, đó là những quan chức trong bộ máy đảng và công quyền tiếng là đại biểu, đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhưng đa phần xuất thân từ nông thôn. Nên tâm lý "một người làm quan cả họ được nhờ". Nên khi đã leo tới chức vụ có quyền chức, họ thường kéo vốn đầu tư về quê để xây dựng trường sở, sao cho mát mặt, được tiếng với làng nước. Đó cũng là động lực thúc đầy việc đầu tư phát triển nông thôn của họ.
Nhưng những động thái chủ quan đó chưa đủ để quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp đi lên, cho dù họ có cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa thì đời sống người nông dân cũng không được cải thiện bao nhiêu, bởi như chúng ta đã biết, nếu canh tác trên một diện tích được phân chia như hiện nay, mỗi hộ nông dân (2 lao động chính + 2 lao động phụ) bình quân được chia bình quân 5 sào ruộng (mỗi sào = 360m2) tương đương 2/10 trên 1 ha, với năng suất bình quân qui đổi hiện nay (3 vụ/1 năm) là 10 tấn/ha, thì mỗi hộ nông dân cũng chỉ thu hoạch được 2 tấn lương thực/ năm (mặc dù đã sử dụng tối đa các loại phân hoá học thuốc kích thích tăng trưởng). Nếu so với giá thóc hiện nay là 11 triệu VNĐ/1 tấn, thì thu nhập qui đổi của họ chỉ là 22 triệu VNĐ/1 năm, tương đương với $1,300USD. Chia bình quân đầu người (1 hộ=4 khẩu) $320USD/năm = 5 triệu VNĐ/năm. Nếu trừ các chi phí đầu vào như giống lúa, các loại phân bón, thuốc trừ sâu v.v... và công thuê cày, bừa, thu hoạch thì công của người nông dân sau một năm vất vả chăm bón không còn đáng là bao.
Giả sử mức thu nhập của người nông dân có được nhà nước đầu tư tăng năng suất gấp đôi đi chăng nữa. Hay cái cơ chế 1 nông + 1 công trong một hộ gia đình như hiện nay, thì họ vẫn không thoát khỏi cảnh nghèo. Huống chi theo hiệu ứng dây chuyền với các sắc thuế hiện nay đang áp dụng, tuy không đánh trực tiếp vào người nông dân, nhưng tất cả cuối cùng đều đổ dồn lên vai người lao động, trong đó người nông dân là kẻ chịu thiệt thòi nhiều nhất.
Một trong những cố gắng trong việc giải quyết lao động nông nghiệp dư thừa hàng năm, là mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, bằng chiêu bài mị dân là "tạo công ăn việc làm" nhằm bán công sức lao động rẻ mạt cho tư bản nước ngoài. Nhưng họ cũng chính là kẻ bóc lột công sức công nhân một cách thậm tệ nhất, bằng việc phân chia lợi nhuận qua các sắc thuế được che đậy bằng từ ngữ mỹ miều "thu ngân sách" hàng trăm nghìn tỉ đồng 1 năm.
Sau hơn 5 năm mở rộng việc đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế, tuy đã gặt hái được một số thành công nhất định. Nhưng nó cũng bộc lộ những bất cập, có nguy cơ tiềm ẩn rất cao mà họ không thể không lo sợ. Việc số lượng lớn công nhân lao động được khai thác từ khu vực nông thôn, tưởng rằng việc thu hồi đất tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động sẽ giãn bớt áp lực về lao động, nhưng do không có kế hoạch dự báo, dự trù trong quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động, nhằm thực hiện các bước tiếp theo, hoặc giải quyết đồng bộ trong việc chăm lo cho lực lượng lao động này, cũng như việc mức thu nhập không tương xứng với nhu cầu cuộc sống của người lao động, tình trạng lạm phát vì quản lý và điều hành yếu kém của chế độ đã báo trước được cuộc khủng hoảng xã hội rất lớn sẽ xảy ra, do quá trình phát triển không hợp lý sẽ tạo ra mẫu thuẫn là có tính tất yếu.
Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn sẽ xảy ta, việc quan trọng là chủ động xử lý quá trình mâu thuẫn đó. Không có gì tốt hơn là khi đó "tiền đồn" cuối cùng và "hậu phương" vững chắc của họ từ trước tới nay không đâu khác vẫn là khu vực nông thôn. Nông thôn sẽ là nơi đón nhận hàng triệu công nhân lần lượt quay trở về với "ruộng vườn", khi đã bị các ông chủ tư bản vắt kiệt sức lao động, bị thải loại khi những hợp đồng đã hết hạn, nhường chỗ cho lớp "culi" mới.
Đó là những tính toán đưòng dài của nhà nước cộng sản VN khi cơ sự xảy ra. Vì vậy "Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn" mà hội nhị TW VII vừa đưa ra làm trong tâm bàn thảo, chính là việc đề ra quyết sách cơ cấu, sắp xếp lại khu vực nông thôn và xác định lai vai trò của nông dân với nông nghiệp, đã cho thấy họ có bước tính toán đường dài, tạo ra sự phát triển kinh tế có kiểm soát nhằm giữ vững và ổn định chính trị, cũng có nghĩa là giữ vừng được quyền lực độc tài của họ.

Bao giờ người nông dân thoát khỏi nghiệp nhà nông?
Có lẽ, chưa một nơi nào trên thế giới có sự gắn bó mật thiết giữa người nông dân Việt Nam với nghiệp nhà nông. Tuy ngày nay ảnh hưởng của đồng ruộng có giảm bớt so với hơn 10 năm về trước. Nhưng những người nông dân, nhân lúc nhàn rỗi, ra thành phố kiếm việc làm hoặc đi làm ăn xa trợ giúp gia đình, hoặc đi làm nghề kiếm kế sinh nhai. Nhưng khi đến muà gặt hái, gần như cái trách nhiệm nghề nông nó lại trỗi dậy, bằng bất cứ giá nào họ cũng phải về giúp gia đình gặt hái, thu hoạch mùa màng, cho dù họ biết giá trị của những hạt thóc so với những thứ khác không cao. Nhưng sự gắn bó máu thịt có tính truyền thống đã thôi thúc họ. Đó cũng là truyền thống quí báu của nông dân Việt Nam.
Nhưng nếu họ ý thức được cả gia đình họ được chuyển ra thành phố, tỉnh lỵ để làm công nhân, nhường lại phần ruộng của mình cho người khác, sẽ là tốt hơn cho cả họ và những người ở lại nông thôn. Vì họ ngoài việc đưoc giải phóng sức lao động nông nghiệp nặng nhọc, họ còn được tiếp cận với những giá trị văn minh khác. Còn người ở lại sẽ có thêm diện tích đất để trồng trọt, chỉ riêng diên tích bờ vùng bờ thửa đã tiết kiệm được rất nhiều đất canh tác hoang phí do đất canh tác bị chia cắt để phân chia cho các hộ nông dân vào khoảng 10%, sẽ nâng cao năng suất lên gấp nhiều lần.
Ý thức được điều đó chắc chắn họ sẽ giã từ cái nghiệp truyền thống nhưng cổ hủ kia để đưa đất nước đi lên, cùng nhau hướng tới mục tiêu ấm no hạnh phúc. Rồi họ cũng sẽ hiểu được mục tiêu cao đẹp và to lớn của loài người là giải phóng họ khỏi sức lao động cơ bắp vất vả nặng nhọc của nghề nông, để đời sống không những của họ, mà tương lai con cháu họ sẽ được tươi sáng.
Nhưng nếu cứ với chính sách này và chế độ này vẫn còn tồn tại thì người nông dân sẽ vẫn phải cầy ải trên những thửa ruộng bé nhỏ và việc gắn bó với nghiệp nhà nông hết đời này kiếp khác sẽ vẫn diễn ra. Cái ước vọng được giải phóng sức lao động sẽ vẫn chỉ là mơ ước của bao đời người nông dân Việt Nam.
HàNội-VN 26/7/2008
Trác Tuân