Tô Hoài: Chú dế mèn ngây thơ đến nhà văn lõi đời thời XHCN
Nguyễn Mạnh Trinh
Nổi tiếng với "Dế Mèn Phiêu Lưu Ký", tham gia vào Mặt Trận Việt Minh, bị hoạn nạn khi viết "Mười Năm", bị đi lao động, tham gia vào đội cải cách trong phong trào cải cách ruộng đất, viết hồi ký "Cát bụi chân ai" và "Chiều chiều", nhưng bị phê bình nặng. Tuy vậy, vẫn là người điều hành Hội Nhà Văn, và cũng là một người công tác đảng đoàn được tin cậy. Tất cả những chi tiết ấy, chưa đủ để thấy được chân dung tác giả. Với một người đi nhiều, lãnh hội ở cuộc đời từ chính cuộc sống hơn là trường lớp, chứng tỏ từ một người có bản lãnh và dễ đáp ứng trong mọi hoàn cảnh. Một anh thợ dệt cửi, sống ở một làng ngoại ô Hà Nội, đọc sách chỉ toàn những cuốn vè bình dân, nhưng đã trở thành một cây bút có sắc thái riêng, và thành một trí thức qua sự tự học, từ sách vở đi mượn của những người cầm bút có học vấn cao như Vũ Bằng, Vũ Ngọc Phan,.. Nhưng phần chính vẫn là sự tự học, của tinh thần cần cù, nhẫn nại...
Tô Hoài, một khuôn mặt lớn của văn học trong nước, một người được nhà văn Bùi Bình Thi xưng tụng là một trong "Tứ Đại Lão Gia" của tạp chí "Tác Phẩm Mới" cơ quan chính thức của Hội Nhà Văn cùng với Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu. Ông cũng là người đã in tới 150 tác phẩm, một số lượng sách to lớn khó tưởng tượng nổi. Thử suy nghĩ trong thời kỳ bao cấp, sách in phải chờ đến lượt xoay vòng, có hội viên hội Nhà Văn chờ suốt cả đời mới được in có nửa cuốn, nghĩa là in chung với tác phẩm của cây bút khác. Thế mà, Tô Hoài có tới 150 đầu sách... Bốn mảng đề tài chính trong các sáng tác của ông là: truyện về thiếu nhi, truyện miền núi, truyện viết về Hà Nội, và các tập hồi ký. Một nét đặc sắc là phong cách biểu hiện đời sống phong tục, từ xưa tới nay, biểu hiện từ đời thường nhưng lại có sức cuốn hút hấp dẫn từ những điều tưởng như bình thường ấy...
Theo tiểu sử được phổ biến, ông tên là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại làng Nghĩa Đô, ngoại thành Hà Nội. Ngoài cương vị của một nhà văn, ông còn là Tổng Thư ký Hội Nhà Văn, hay Chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà Nội. Ông sống một đời nửa cán bộ, nửa văn chương, theo những người thân cận ông như Vương Trí Nhàn thì ông là một người khôn khéo nên đã vượt qua được nhiều khó khăn và mặt nào cũng được đãi ngộ xứng đáng. Dễ gì mà một nhà văn xuất ngoại như đi chợ... Thế mà, hình như, vẫn phảng phất những điều khác thường, ngỡ như phải làm những việc mà mình miễn cưỡng.
Trong một bài phỏng vấn đăng trên báo Tuổi Trẻ, Tô Hoài đã nói về những cuốn "hồi ký" của mình như sau:
"Vấn: Thế nhưng, thưa bác Tô Hoài, bác cũng không có ý định chuyển nhượng tác phẩm hồi ký cho đơn vị xuất bản nào. Tại sao vậy?
Đáp: Mảng đề tài hồi ký của tôi, tôi sẽ không chuyển nhượng cho bất cứ đơn vị xuất bản nào. Có thể tôi chưa suy nghĩ hoàn chỉnh chăng, mà khi quyển "Cát Bụi Chân Ai" tôi viết xong thì bị phản đối, đến khi rôi viết "Chiều Chiều" thì lại bị cấm. Cho nên, vừa rồi tôi có viết hai truyện đăng trên báo Người Hà Nội và báo Công An Nhân Dân, về đề tài các nhà văn Việt Nam đi uống rượu "lủi" như thế nào. Đó cũng là tập dượt về cách viết xem như vậy đã được chưa, có ai trách gì không?
- Đọc hồi ký của bác, như tập "Cát Bụi Chân Ai", thấy các nhà văn được bác khai thác ở khía cạnh đời thường, nhiều khi họ hiện lên với đầy đủ những nét tầm thường, đó là chủ ý bác muốn viết về những nét lạ của nhà văn, hay bác cho rằng đấy mới là những cái thực của họ?
- Viết hồi ký là một cuộc đấu tranh tư tưởng để nảy ra sự thực. Nhưng thấy được ra sự thực hay không là còn tùy vào tài năng của người viết. Sở dĩ nói đấu tranh tư tưởng là vì phải nói ra sự thực trong trang viết hồi ký của mình. Thế nhưng như quyển "Mười năm" của tôi bị phê bình, tôi đã rút ra kinh nghiệm.
- Thế khi sách của bác bị cấm, bác nghĩ như thế nào về kết quả của việc "đấu tranh tư tưởng để nói ra sự thực"?
- Có thể các anh ấy cho tôi viết không đúng chăng? Ví dụ tôi có học hai năm ở trường Nguyễn Ái Quốc, tôi viết về trường Nguyễn Ái Quốc như thế nhưng các anh ấy cho là tôi không đúng?
- "Các anh ấy" là ai vậy, thưa bác?
- Là những người có trách nhiệm đối với trường Nguyễn Aùi Quốc...
- Và bác sẽ tiếp tục viết hồi ký như một cuộc đấu tranh tư tưởng để nói ra sự thực chứ?
- Tôi sẽ tiếp tục viết như thế và rút kinh nghiệm. Tôi viết văn cũng như làm công tác vậy, cũng cần rút kinh nghiệm.
- Có nhiều nhà văn hiện nay ngại nói lên sự thực, có người mượn thủ pháp viết hồi ký để khoe mình, bác nghĩ thế nào về những việc đó?
- Có lẽ ít ai biết được sự thực như thế nào. Người viết chỉ biết đấu tranh tư tưởng và chân thực. Nhiều người muốn khoe mình thì khách quan là rất khó. Nhưng trước mười người đọc sẽ có mười suy nghĩ khác nhau về cuốn hồi ký của tôi, không lo người đọc không nhận ra cuốn hồi ký nào là chân thực hay không chân thực.
Các nhà văn hiện nay viết đáo để như Vàng Anh cũng là nói lên sự thực đấy hay viết mơ màng như Ngọc Tư cũng là nói lên sự thực. Nói thế để thấy tôi vẫn đọc văn của các bạn viết văn bây giờ, cũng là cách học hỏi đấy..."
Ở vị trí một người cầm bút lõi đời như Tô Hoài mà lúc nào viết cũng nơm nớp sợ bị quy chụp, bị sửa sai thì cái công việc "đấu tranh để tìm ra sự thực" coi bộ khó khăn quá. Mà cái việc phải làm một lúc để viết là chân thực và đấu tranh tư tưởng coi bộ chống phá nhau. Đâu có ai viết mà phải canh cánh trong lòng điều này nên viết hay không trong khi "đấu tranh tư tưởng" mà chân thực cho được?
Khác hẳn với lúc trước, lúc thời tiền chiến, khi thực dân Pháp còn đô hộ, khi sự kiểm duyệt cũng nghiêm ngặt khó khăn. Khi ấy, Vũ Bằng trong cuốn hồi ký đời viết văn của mình "Bốn mươi năm nói láo", đã nhận xét Tô Hoài nào là hiền lành, nào là ngây thơ:
"...là bạn của Nam Cao, Tô Hoài cũng không dễ chịu về tiền nong hơn mấy chút, nhưng tương đối anh cũng đỡ lo lắng và cũng đỡ phải vật lộn với sự sống hàng ngày như Nam Cao. Có lẽ vì thế giọng văn của Tô hoài ít chua chát, sâu xa: anh đúng là con dế mèn phiêu lưu, nhìn con vật gì ở chung quanh cũng lạ lùng với con mắt thơ ngây. Không có gì lạ hết: Tô Hoài lúc viết cuốn chuyện đầu tay "Dế Mèn Phiêu Lưu Ký" chỉ là một bạch diện thư sinh mới ở trường học ra và sống một cách hiền lành, cơm ngày hai bữa, ở một làng làm giấy bản trẹn sông Tô Lịch, ngày ngày ngồi ở hiên nhìn ra sân xem những gà lợn, chim sẻ, cào cào, bươm bướm... Tô Hoài cũng hiền lành như Nam Cao nhưng ranh mãnh hơn một chút: tuy vậy, không lúc nào để mất tính chân thành..."
Xuân Sách, trong Chân Dung Nhà Văn đã phác họa:
"Dế mèn lưu lạc Mười năm
Để O chuột phải ôm cầm thuyền ai.
Miền Tây sen đã tàn phai
Giăng Thề một mảnh lạnh ngoài Đảo Hoang."
Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, Mười Năm, O Chuột, Miền Tây, Giăng Thề, Đảo Hoang, đều là tên các tác phẩm của Tô Hoài. Sen là danh tánh của ông mà Xuân Sách lại hạ bút Miền Tây sen đã tàn phai. Tại sao một người thành đạt như vậy lại mô tả bằng những phác họa hơi phảng phất niềm bất mãn như thế? chắc ông có một tâm sự nào tương tự?
Vương Trí Nhàn kể lại:
"...Cho đến lần ấy, nhân buổi chiêu đãi ở nhà xuất bản nọ, có mặt cả mấy nhà văn cỡ bự, Nguyễn Khải liền tính chơi trò vỗ mặt, đọc thẳng cho các vị ấy nghe. Trước những lời rào đón của Nguyễn Khải, nhà văn X. ra vẻ xởi lởi: - Đọc đi xem nào, cái lối viết anecdote này, nước nào chẳng có?.
Tô Hoài thì dè dặt hơn, chỉ mủm mỉm cười, như có vẻ không tin mà lại như có vẻ chờ đợi
- Tính cách mình thì hơi khó nắm bắt đấy!
Thế là cánh cửa đã mở. Nguyễn Khải vừa đọc, vừa thăm dò phản ứng. Quả nhiên trận lôi đình nổi lên, nhưng nhà văn X. đành cố kiềm chế, chỉ nghiêm mặt hỏi:
- Loại thơ này có lợi cho ai nhỉ?
Đến lượt Tô Hoài, nghe được ba phần tư bài thơ, Tô Hoài đã xua xua tay:
- Thôi đủ rồi! Thế là biết tài nhau rồi.
Và ông lảng sang chuyện khác..."
Xuân Sách có nhắc đến tiểu thuyết "Mười năm". Tác phẩm này đã gây nhiều phiền toái cho Tô Hoài. Cuốn này viết về thợ dệt Hà Đông trong khoảng thời gian tiền chiến từ 1936-1945. Truyện kể về những người sinh hoạt trong những hội ái hữu, hội tương tế nhưng bên trong là hoạt động cho Việt Minh. Cũng có những đề tài quen thuộc về căm thù giai cấp, về tỉnh ngộ theo lý tưởng, rồi móc nối để hoạt động. Tóm lại là một tiểu thuyết viết rất đúng đường lối của Đảng theo như đề cương văn hóa đã vạch ra.
Thế mà không hiểu sao, cuốn sách lại bị phê bình nặng nề mà tiêu biểu nhất là bài viết của tướng Trần Độ đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Mười Năm bị nhận xét là một tác phẩm vá víu, rất tệ về nội dung bệnh hoạn, xa rời giai cấp, tư tưởng lạc hậu không bắt kịp được sự tiến bộ của đất nước. Tác giả bị quy chụp có dụng ý bêu xấu lãnh tụ, là một bước lùi nguy hiểm về nhận thức chính trị. Tóm lại, toàn là những cú phê bình trời giáng. Và, rốt cuộc, tác giả DếẾMèn Phiêu Lưu Ký phải xin đi thực tế lao động để qua đi cơn bão tố chết người... Mấy năm trước, năm nào trên trang nhất của nhật báo Nhân Dân ngày đầu năm đều có bài bút ký đầu xuân đăng kèm với ảnh, một vinh dự lớn để dành cho những lãnh tụ. Thế mà, sau tác phẩm ấy, đã hết những lời rao cho một tác phẩm để đời "hiện thực xã hội chủ nghĩa", một tiểu thuyết dài hơi và mới lạ so với những đề tài về nhà quê hay loài vật quen thuộc và sở trường.
Trong "Cát Bụi Chân Ai", Tô Hoài viết:
"Những chuyện Nhân Văn và thời kỳ hữu khuynh, cơ quan bị lũng đoạn đối với tôi đã chôn vùi lâu rồi. Nhưng chưa phải đã dứt. Chuyến đi Lai Châu cũng là cho được khuây khỏa mà thôi. Tiểu thuyết Mười Năm của tôi mới phát hành - một trong những ấn phẩm cuối cùng của Hội Nhà Văn. Lập tức các báo mổ sẻ phê bình. Quất mạnh và lý lẽ nhất, bài của Như Phong trong ban biên ủy báo Nhân Dân in trên báo ấy và bài của Trần Độ trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Đấy cũng là một quyển sách còn sót lại thúc đẩy đóng cửa nhanh nốt nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
Rồi Võ Hồng Cương thường trực Hội Văn Nghệ tổ chức một trận phê bình miệng. Nhà văn, nhà lý luận phê bình, nhiều cán bộ giáo vụ trường Đảng và tỉnh ủy Hà Đông tham dự. Mười Năm cuốn tiểu thuyết bộ ba của tôi viết về quang cảnh và con người quê tôi vùng nghề thủ công phía Bắc thành phố vào ba thời kỳ nối nhau. Tiểu thuyết Quê nhà, nhà xuất bản Tác Phẩm Mới in khoảng thập kỷ 70. Sự việc cuối thế kỷ trước sau hai lần quân Pháp hạ thành Hà Nội, các làng ngoại thành vẫn nổi lên. Tiểu thuyết Quê người, cuốn truyện dài đầu tay xưa kia tôi viết cùng thời với những Dế mèn Phiêu Lưu Ký, Giăng thề, O Chuột. Quê tôi, lĩnh lụa nghề tổ bị lụn bại, người làng bỏ đi tha hương đất khách quê người. Tiểu thuyết Mười Năm cũng như một tiểu thuyết tự truyện, một nhóm thanh niên trong làng nhen nhúm phong trào chống đối đưa tới cách mạng.
Tiểu thuyết Mười Năm được viết ra những năm đó tôi còn về ở Nghĩa Đô làng tôi. Văn Cao làm bìa, Văn Cao đã bắt đầu vẽ bìa để sinh sống. Làn nước chảy đìu hiu dưới chân cầu, thời gian trôi, "mười năm nước chảy qua cầu..."
Thế mà, bị đấu đá. Như Phong phê bình nặng nề "Mười năm" có thể là một cuốn tiểu thuyết khá, vì đấy cũng là một thực tế ở làng quê tác giả và chính tác giả. Nhưng nó đã được chuẩn bị và sáng tác trong thời kỳ Nhân Văn lũng đoạn nên bị ảnh hưởng xấu. Các nhân vật cán bộ cách mạng bị bóp méo đến thảm hại..."
Và, tác giả Chiều Chiều đã bị kiểm thảo tơi bời. Ông đã mô tả lại cảm giác lúc ấy:
"...Đầu tôi nặng trĩu mưa gió chỉnh huấn. Lúc lặng im vẫn lo vẩn vơ. Không biết nên thế nào, cũng không khuây khỏa nhẹ nhàng được. Việc không đáng nghĩ mà đâm ra nghĩ. Xưa kia đi làm, cái nghề bán giày Bata kiếm nổi đồng tiền mửa mật ra, rồi viết văn cũng là đi làm. Tôi theo đuổi lý tưởng từ những ngày bóng tối. Không có cách mạng tôi làm sao nên người như bây giờ. Làm sao tôi lại có thể nghiêng ngả, có thể bị lũng đoạn được nhỉ? Ở rừng ra, đi cải cách rồi về bắt tay vào những công tác rất quen mà cũng rất mới mẻ này, nay mới được hơn một năm. Tôi hữu khuynh, tôi bị anh em bốc lên phổng mũi Triệu Tử Long, tôi bị khuynh đảo, tôi bị xỏ mũi mà không hiểu, chậm hiểu, không tự biết. Phải thế không? Tôi không tin tôi đến nỗi đù đờ thế. Ngày trước và cả khi ấy, Như Phong vẫn cho tôi là "thằng ngoại ô láu cá, văn chương thì đẽo gọt". Có thể thế. Tôi sinh ra nơi thành phố với làng mạc lẫn lộn, thế lực chánh lý không khạc ra lửa như trời đất làng Đại Hoàng của Nam Cao, ở quê tôi túi bạc đâm toạc tờ giấy, có tiền là có cả, bấy lâu tôi lăn lóc trong khóe đời ấy..."
Thời tiền chiến Tô Hoài viết "Tự Truyện" và "Cỏ Dại", kể chuyện về cuộc đời mình, với những chi tiết khá thành thực của một thằng bé tinh quái nghịch ngợm lêu lổng. Hình như ông không sợ những nét tô đen bất hảo của mình và tỏ ra rất tự tin ở mình khi đem viết ra bút mực. Chính thái độ chân thành ấy đã làm cho độc giả cảm động. Tô Hoài vào nghề văn chỉ với đam mê làm hành trang. Anh thợ cửi Nguyễn Sen học lực chưa xong bậc tiểu học là một trời một vực so với các nhà văn tốt nghiệp tú tài, cử nhân như các nhà văn thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn chẳng hạn. Nhưng ông đã phải tự học và đọc sách để bồi đắp vào chỗ khiếm khuyết ấy. Rảnh lúc nào ông trau dồi lúc đó. Nhưng, căn bản vẫn là khả năng văn chương thiên phú trời dành. Thiếu gì vị khoa bảng, viết một câu chưa thông. Ở Tô Hoài là một nỗ lực để tạo ra được một gia tài đồ sộ đặc sắc...
Tô Hoài trước 1975 viết những truyện về loài vật có nét riêng biệt, với giọng văn dí dỏm tinh nghịch và khám phá được nhiều khía cạnh của trẻ thơ. Ở những tác phẩm như "O Chuột", như "Dế mèn Phiêu Lưu Ký", như "Truyện loài Vật", Tô Hoài mang kỹ thuật mượn loài vật để ám chỉ đến loài người, phản ánh những thủ đoạn đối xử với nhau của thời ký nhiều điên đảo đảo điên.
Phê bình gia Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đã nhận xét: "...ông không giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông. Truyện của ông có tính chất nửa tâm lý, nửa triết lý. Mà các vai lại là loài vật. Mới nghe tương tự như truyện ngụ ngôn nhưng thật không có tính cách ngụ ngôn chút nào: ông không phải một nhà luân lý, chuyện của ông không thể răn đời, nó là những chuyện tả chân về loài vật, về cuộc sống của loài vật tuy bề ngoài ra vẻ lặng lẽ nhưng phần trong có lắm cái ồn ào vui cũng có mà buồn cũng có.
Tác phẩm đầu tiên của Tô Hoài và cũng là một tập tiêu biểu cho lối văn đặc biệt của ông, một lối văn dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị màu sắc của thôn quê. Cái tinh ma và cái phác thực có lẽ được gặp nhau ở chỗ này..."
Những truyện tình của Tô Hoài lại có phong vị riêng. Tới bây giờ, ở tuổi tôi, những không gian thời gian ấy đã thật xa lạ. Nhưng, khi đọc lại, một thời đã qua như sinh động lại và có nhiều nét ghi đậm trong hồi tưởng. Những nhân vật nửa quê nửa tỉnh, những người sống trong một giai đoạn giao thời, tất cả có mặt trong văn chương của ông và nhắc lại một thời kỳ đã qua. Cách bầy tỏ tình yêu cũng ở trong những giới hạn so với bây giờ là cả một trời một vực xa cách. Trong truyện Quê Người cách hẹn hò của đôi nhân tình cũng thực đặc biệt. Chàng mang hoa ngọc lan thơm phức nửa đêm vứt vào khung cửi dệt của nàng như một cách hẹn hò. Sau câu hát ví, nàng tắt đèn ra bên hàng rào và hai người tâm sự với nhau qua hàng phên thưa, tay nắm tay nhìn nhau, và chỉ có thế nhưng thơ mộng và trong sáng như vằng vặc trăng sao trên trời... Hay mối tình của anh chàng giáo kiết, trong Giăng Thề, yêu người không thành chỉ biết than thở cùng vầng trăng làm nhân chứng. Dường như, có bóng dáng của anh thợ cửi Nguyễn Sen trong đó, của nỗi niềm bi phẫn khôn nguôi trước những bất công trong buổi giao thời. Và muôn đời cái nghèo cài khổ cứ bám theo bám mãi những người lỡ sinh một thời đại bất ưng...
Với "Chiều Chiều" và "Cát Bụi Chân Ai", Tô Hoài lại tỏ ra thật thành thực khi kể về những người bạn đang cùng sống một thời và cũng đang cùng chung một công việc. Năm 1990 ông viết Cát Bụi Chân Ai và năm 1997 ông viết Chiều Chiều, không biết có phải là chủ ý hay vô tình mà lồng trong đó những tâm tư là lạ. Của những điều bất đắc dĩ, không muốn làm mà vẫn phải làm. Và, có những việc thấy không phải lẽ mà vẫn phải thỏa hiệp. Sống trong một thời thế như vậy, muốn sống còn không thể khác hơn. Cả những người được coi là thành đạt như Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân.
Thỉnh thoảng mới có trường hợp mà Tô Hoài kể lại:
"...Tôi đưa tờ báo Nhân Dân ngày 12 tháng Ba năm 1958 có bài của tôi đề là "Nhìn Lại Một Số Sai Lầm trong Bài báo và trong Công tác".
Nguyên Hồng cầm xem chỗ qua loa chỗ chăm chú... Nguyên Hồng buông tờ báo xuống. Rồi Nguyên Hồng xua xua tay nói như hét vào mặt tôi: -tiên sư mày thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng thì không.
Nguyên Hồng quì xuống trước mặt tôi rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít.."
Vương Trí Nhàn có một nhận định khá chính xác trong trường hợp trên:
"...Đại khái có thể hình dung như cái cảnh đứa bé bị buộc phải quỳ thì cũng quỳ đấy song mắt vẫn liếc về phía mọi người đùa bỡn "Xá gì chuyện này quỳ cho xong nợ tí nữa lại tha hồ tung tẩy..." Khốn nỗi, Tô Hoài đâu phải trẻ con và chẳng lẽ chẳng có một chút gì tự trọng khi viết lời tự thú tội như sự ví von."
Vương Trí Nhàn viết tiếp:
"Có một thoáng gì đó như là một chút hư vô trong con người thực dụng Tô Hoài chăng? Một nhận xét như thế là đầy mâu thuẫn nhưng biết sao được, con người chúng ta trong những năm này bị bao sức mạnh xâu xé, kể sao cho xiết! Một chút khinh bạc có từ rất sớm (bản thân Vũ Ngọc Phan vốn rất hiền từ cũng phải nhận ra và lên tiếng cảnh cáo khi đọc Quê Người, O chuột..) cái khinh bạc ấy hẳn không bao giờ mất hẳn. Cộng thêm vào đó là bao nhiêu ngọt bùi cay đắng đã đến trong đời một người viết văn, một người cán bộ, những phút bốc đồng và những lần tỉnh mộng, những lầm lỡ và man trá xen lẫn vào giữa những chân thành ngây thơ cuộc bể dâu diễn ra ngay trước mặt. Khi đã trải tất cả những sự đó rồi, cái hư vô sẽ như một thứ ánh áng mờ mờ giúp cho người ta sống nhẹ nhõm hơn và tự do hành động hơn. Lúc này hư vô đã trở thành một điều kiện bắt buộc để sống, hư vô là một thứ thuốc an thần cho những kẻ ham hành động, nhưng lại hoàn toàn tỉnh táo để hiểu rằng hành động của mình cũng rất có thể chỉ là vô nghĩa."
Sống trong một môi trường như thế, liệu nhà văn còn có tâm trí dể sáng tạo hay không? hay để hư vô như "ánh sáng mờ mờ" dẫn dắt để một con đường dộc đạo hiện ra. Đó là văn chương phải đạo, để mọi chuyện nhẹ nhõm, tha hồ in sách, tha hồ xuất ngoại, tha hồ có danh, có quyền, có lợi. Tuy vậy, vẫn có điều vướng víu trong thâm tâm, muốn ngỏ nhưng ngại và nhát. Ăn cơm mới kể chuyện xưa, về "những lần tỉnh mộng, những lầm lỡ và man trá xen nhau", ít ra nói lên vài sự thực cũng làm nỗi niềm vơi bớt. Làm người Việt Nam đã khó mà còn làm nhà văn mà nhà văn nổi tiếng lại càng thập phần khó nhọc... Tôi lại nhớ đến câu trả lời của ông Hoàng Ngọc Hiến khi Talawas hỏi về những chuyện tiêu cực khó hiểu và khó tưởng tượng ra ở trong nước " Cái nước mình nó thế"...
Nguyễn Mạnh Trinh
|