banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 


Công-Nông-Trí và Nguyên khí quốc gia

(Tham gia thảo luận: Trí thức là ai?)



Hà Sĩ Phu

Ở Việt nam ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, năm 1930 Trí thức từng được xếp số 1 trong chuỗi bốn kẻ thù Trí Phú Điạ Hào cần "đào tận gốc, trốc tận rễ". Nhưng rồi thế cục xoay vần, năm 2008 này, sau một khoá họp trung ương của Đảng, Trí thức chính thức được tái xác nhận rằng đã được kéo lên, xếp hàng cuối trong chuỗi ưu tú "Công Nông Trí". Chừng ấy năm trời lên được một bậc kể cũng khiêm nhường! Nhưng từ "kẻ thù" số 1 chuyển lên "đồng chí" số 3 cũng quý lắm chứ?.
Lịch sử đã trôi 78 năm, tức đã quá một đời người được gọi "xưa nay hiếm", hôm nay chúng ta đang thảo luận để tìm một định nghĩa cho loại công dân "quái dị" này. Không "quái dị" sao được, khi loại công dân này luôn làm cho Đảng đau đầu, trước đây đã bị "xuống chó" nay lại được "lên voi", dẫu loại "voi" nhỏ con này vẫn rất cần có quản tượng cầm búa cầm liềm đứng bên chế ngự (không cần đọc "nghị quyết" tôi cũng biết chắc sự thể sẽ vẫn như thế).
Để có định nghĩa đúng cho một danh từ, một mặt cần hiểu từ nguyên, hiểu được xuất xứ. Nhưng mặt khác, từ ngữ là một thể sống chứ không chết cứng, bởi từ ngữ chỉ là cái vỏ quy ước mà cái hồn bên trong chính là nội dung khái niệm mà từ ngữ ấy bao hàm. Khái niệm thì luôn được làm giàu, được tu chỉnh theo sự phát triển của nhận thức, theo sự phát triển của xã hội. Vậy định nghĩa của một từ ngữ cũng phát triển theo thời gian, điều này không có gì lạ.
Dịp này, để tiến tới tìm một định nghĩa so sánh chính xác cho các thuật ngữ gốc Hán (trí thức, thức giả, học giả, hiền tài, sỹ phu...), gốc phương Tây (intellectuel, savant...), gốc Việt (kẻ Sĩ, kẻ có học, người lao động trí óc...) tôi mạn phép nêu lên vài nhận xét chủ quan, chắc hẳn còn nông cạn, về đặc điểm của loại hình công dân đặc biệt này, mà ta tạm dùng chữ Trí thức làm đại diện.
Trí thức có 3 đặc điểm, hay 3 tính chất:
1/ Tính chất tự do và không ranh giới: người trí thức có thể đi sâu vào một lĩnh vực nhất định, nhưng không bị khoanh vùng trong lĩnh vực đó, trong quốc gia đó. Sự phân chia thành các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn hoá, văn nghệ, chính trị, đạo đức, kinh tế, quốc gia, quốc tế, con người, nhân loại...vân vân... đều chỉ là những sự phân chia tương đối,quy ước, tạm thời. Trước sự phát triển và liên tưởng của lô-gích tư duy những ranh giới ấy đều bị phá bỏ.
2/ Tính chất tiên phong và phát hiện: Bởi được trang bị bằng hai công cụ đặc biệt là kho tri thức ngàn đời của nhân loại đã đúc kết thành các khoa học và sức nhạy cảm chủ quan của bộ óc cá nhân, những người Trí thức như những bộ máy dò tiên phong vô cùng nhạy cảm, nó bay về muôn phương, nó cảm ứng lập tức với những cái mới, cái bất thường, nó xâu chuỗi lập tức những quan hệ tuyến tính, những quan hệ thuận quy luật và trái quy luật. Học vấn và lao động trí óc tuy là những điều kiện cần thiết tất yếu cho đặc điểm này, nhưng cũng chỉ là những điều kiện làm nền, điều kiện ban đầu thôi, chưa hề đầy đủ để tạo nên Trí thức.
3/ Tính lương thiện, tính nhân văn hay tính "Người" ("người khôn ngoan" Homo sapiens): Con người là sự diễn tiến liên tục và bất tận từ con vật hoang dã hướng đến con người hoàn thiện. Trong đó, Trí thức là bộ máy lọc, chuyên lọc bỏ những cặn bã phi nhân tính. Sự thôi thúc của Nhân tính này khiến Trí thức cứ vơ nỗi đau của người khác thành nỗi đau của mình, mà tự làm khổ mình, tự gây rắc rối cho mình.Tất nhiên bộ máy lọc này cũng đang tiến hoá theo thời gian nên sự lọc này không thể thoát khỏi sự hạn chế của giai đoạn lịch sử, có thể lọc rồi sẽ lại được lọc nữa.
Tầm Trí thức của một người là do ba đặc điểm ấy có được ở cấp độ nào. Trí thức là chiếc máy dò vạn năng,vượt mọi ranh giới, là bộ máy lọc lương thiện rất mẫn cảm, và khi bắt được sự cảm ứng, sự cộng hưởng, thì những cảm ứng ấy lập tức biến thành năng lượng của lý trí hoặc của cảm xúc, thành những kết quả lý thuyết và thành hành động. Điều ấy giải thích tại sao những người thày giỏi, có tư duy minh triết luôn đi kèm với nhân cách, với khí phách và sự dấn thân.
Ngoài sự thôi thúc của tính thiện, sự thôi thúc của lý tính tìm kiếm vô giới hạn cũng khiến Trí thức thường "xớ rớ" vào những việc không phải của mình, nhưng Trí thức muôn đời cứ "vô duyên" như thế!
Ba tiêu chuẩn "Nhân, Trí, Dũng" (hay Bi, Trí, Dũng) là 3 tiêu chuẩn lý tưởng của con người ưu tú, cũng là tiêu chuẩn lý tưởng cho tầng lớp tinh hoa: Trí thức. Thiếu Nhân hay thiếu Dũng thì Trí chỉ là Trí thức què.
Bởi có Nhân nên phản ứng với bất nhân, bởi có Trí nên phản ứng với sự ngu dốt và loè bịp, bởi có Dũng nên phản ứng với sự hèn nhát dù là hèn nhát có tính toán, nguỵ trang. Vì thế Trí thức luôn phản biện, luôn gây khó cho một số đối tượng, khiến họ khó chịu, vì Trí thức thường làm rõ mọi điều, xé toạc bức màn che của họ, làm "bể mánh" của họ.
Do đặc trưng ở tính tự do và tính cá thể, trong đó tính thiên bẩm rất quan trọng, nên xã hội có thể dạy kiến thức, dạy cách viết văn...nhưng không thể đào tạo trí thức, đào tạo nhà văn được. Có thể đào tạo một đội ngũ những chuyên viên giỏi, những người có bằng cấp, những người lao động trí óc giỏi, nhưng không thể đào tạo được ra một đội ngũ Trí thức. Trí thức là sự phát triển cá nhân. Việc các Trí thức cùng nhau kết lại để cùng làm một việc gì đó, để đạt một mục tiêu gì đó là việc rất cần thiết nhưng đó chỉ là những việc cụ thể, có giới hạn. Bản chất Trí thức vốn là không đội ngũ, tuy giữa họ luôn có sự hợp đồng, và thành quả của người này tự nhiên kích thích sự sáng tạo ra thành quả của người kia.
Có thể một nghị quyết của Đảng về "đội ngũ Trí thức Xã hội chủ nghĩa" sẽ đưa ra muôn vàn điều ưu ái cho Trí thức, rất đáng quý, nhưng giá được như các nước văn minh, đừng có một nghị quyết về Trí thức thì còn đáng quý hơn, vì đối với những cánh chim thì chẳng cái lồng son nào quý bằng sự tự do. Điều gì cần sự tự nhiên thì càng nhọc công nhào nặn càng làm hỏng việc.Cứ lấy ví dụ trong gia đình, khi đàn con phải họp nhau lại, ra "nghị quyết" từ nay phải thương yêu bố mẹ chẳng hạn (hoặc ngược lại cha mẹ ra "nghị quyết" phải thương yêu con cái) thì liệu bố mẹ có lấy thế làm sung sướng không, hay phải gượng cười để nuốt nước mắt vào trong? Tạo một nền tảng xã hội thuận lợi cho sự phát triển Trí thức là điều rất quý, nhưng đừng xác định Chân lý trước cho họ, đừng định hướng và quản lý cái đầu của họ!.
Từ những đặc điểm kể trên hiển nhiên rút ra kết luận: Hiền tài đúng là nguyên khí quốc gia!(hiền tài đương nhiên là Trí thức).Vốn quý này ai dùng được thì thành công vô hạn, không nhà cầm quyền nào lại không biết điều đó. Chỉ có một điều mà một số người cầm quyền không biết, đó là: Trí thức là Người Thầy Tốt nhưng là Tên Đầy Tớ Xấu!
Nếu thực tâm coi Trí thức là một người thày, người thày ấy sẽ cung cấp không công cho xã hội những hiểu biết quý giá (như số phận con tằm dẫu chẳng ai thuê cũng cứ nhả tơ). Nhưng đã coi họ là thày của mình thì xin đừng lãnh đạo thày, đừng chỉ dẫn thày, đừng khoanh vùng cho thày, nhất là đừng xoa đầu hay doạ nạt thày, tội nghiệp! Tồi tệ hơn, nếu dùng Trí thức như một tên đày tớ, mua nó bằng tiền của hay ép nó bằng bạo lực, thì kẻ tay sai này dẫu đắc lực đến mấy, về sau, dù vô tình hay hữu ý nhất định nó sẽ phản thùng, làm cho lão chủ lụn bại không thể chống đỡ, bởi trong trường hợp này Trí thức đã biến tính không còn là Trí thức đúng nghĩa nữa. Khi buộc phải trung thành với chủ, Trí thức không còn trung thành với Chân lý, và sản phẩm của nó chỉ là sản phẩm giả, thay vì phải can gián nó lại toa dập cho chủ vừa lòng.
Trên đây là những ưu điểm đặc trưng của Trí thức với tư cách một tầng lớp tinh hoa. Nhưng một người Trí thức cụ thể thì dễ gì đạt được mức độ lý tưởng ấy. Vả lại cái gì cũng có mặt trái, tập trung mặt này dễ để lại khoảng trống về mặt khác. Ưu điểm này buộc phải chấp nhận nhược điểm khác. Một thiết bị "nano" tinh vi, mỏng mảnh, nhạy cảm thường khó chịu nhiệt, tính chịu quăng quật ắt thua những chất liệu "nồi đồng cối đá". Đã nhạy cảm với quy luật khách quan thì khó lòng nhắm mắt trung thành.
Những nhược điểm thường thấy ở giới Trí thức cũng là điều cần được nghiên cứu.
*
Ý kiến tôi trong bài này chỉ có thế. Nhưng để thư giãn đôi chút, tôi xin trở lại ý kiến ban đầu về chuyện Công-Nông-Trí: Đảng ta tự xưng là Đảng của giai cấp Công nhân, liên kết với Nông dân là đội quân chủ lực, nên lá cờ Đảng chỉ có liên kết hai thứ búa liềm. Lúc đầu hẳn Đảng phải nghĩ rằng triết lý như thế là hoàn hảo. Này nhá, Công nhân là giai cấp tiền phong tiến bộ nhất, tiêu biểu cho phương thức sản xuất hiện đại, Đảng lại là đội tiền phong tinh hoa của giai cấp Công nhân, lại thêm có lý thuyết Mác-Lê khoa học dẫn đường, thế thì tất cả Trí tuệ đã nằm ở đấy cả rồi, nói Trí thức nữa là thừa. Trí thức chẳng những là khúc "appendice" vô dụng mà đôi khi lại còn bị nhiễm trùng, sưng tấy lên nguy hiểm. Những Trí thức có mặt trong hàng ngũ Cách mạng là Trí thức đã "được đầu hàng giai cấp" tức là đã được thuần hoá, được "công nông hoá" rồi, an toàn rồi.
Nhưng cuộc đời đúng là tên phản biện lại Mác-Lê cực kỳ lì lợm. Mãi rồi cuộc đời cũng lay cho Đảng bừng tỉnh: Ừ, đi vào kỷ nguyên của Trí tuệ mà không trương cờ Trí thức ra thì làm sao thuyết phục thiên hạ? Bởi thế cái anh đầu sỏ cần "đào tận gốc" ngày trước nay đã được phục hoạt, kéo lên cho nhập vào hàng ngũ tiên phong.
Nhưng kẹt nỗi làm sao có thể xếp Trí lên trên Công và Nông được khi đã "nguyện trung thành" với lý thuyết Cộng sản, và lá cờ búa liềm? Vậy là dù có công nhận "Hiền tài là nguyên khí quốc gia", thì cũng phải để hiền tài, để Trí thức xếp hàng ba sau Công và Nông thôi. Sau khi đã hết lời vinh danh Trí thức thì thứ tự vẫn phải là Công-Nông rồi mới đến Trí chứ không đảo lộn hàng ngũ được! Bên cạnh đó trong kinh tế thị trường lại còn phải vinh danh Thương nhân bằng cách tổ chức "Ngày Doanh nhân" nữa. (Thế thì cứ chấp nhận luôn cái công thức Sĩ-Nông-Công-Thương vốn đã có trước đây nhiều thế kỷ cho xong!).
Năm 1996, lần đầu tiên thấy Trí thức được lôi lên đứng sau Công Nông, tôi đã buột miệng làm mấy câu vè:
Trí, Phú, Điạ, Hào
Bốn anh Trí Phú Địa Hào
Chỉ riêng anh Trí lao đao đến giờ
Đảng ta thương Trí ngu ngơ
Cho Công-Nông-Trí chung cờ liên minh
Trông lên Liềm-Buá hai hình
Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu
Quay sang tìm Phú, Địa, Hào
Thấy ba bụng phệ...đã vào...Đảng ta!
HSP-1996
Thế mới biết sửa chữa bằng cách chắp vá là cách chữa cháy khá khôn ngoan, như kiểu "kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa" là khôn ngoan lắm, nhưng chắp vá Trí thức vào lá cờ Búa Liềm thế nào cho khớp thì đến anh thợ chắp bậc thày chắc cũng còn nát óc mà nghĩ chưa ra. Bỏ đi, làm cái mới chắc dễ hơn nhiều.
Những ai thực lòng muốn nghe phản biện, thì xin coi đây là một phản biện, liệu có được chăng?
Hà Sĩ Phu
20-7-2008

 

 

Tội ác: Vết máu trên chiếc áo T-shirt

Vũ Hải

Vào ngày Boxing Day năm 1994, theo chương trình nữ bác sĩ Francisco phải từ Luân đôn bay sang Los Angeles để trước là gặp lại bà chị của mình ở đó, và sau đó là nhận một công việc mới trong một viện nghiên cứu y học. Tuy nhiên khi bà mẹ gọi điện thoại nhiều lần đến nhà của bác sĩ Francisco để nhắc con gái dậy đúng giờ để đi ra phi trường, mà vẫn không gặp cô, bà này bắt đầu lo lắng và gọi điện thoại báo cho cảnh sát biết. Khi cảnh sát đến căn hộ của vị nữ bác sĩ độc thân ở Ordnance Hill thì phát hiện cửa sau đi vào căn hộ mở toang và thi hài của bác sĩ Francisco nằm ngay dưới chân cầu thang, áo quần còn nguyên vẹn. Khám nghiệm thi hài sơ bộ cho thấy bác sĩ Francisco đã bị kẻ sát nhân thắt cổ đến chết, nhưng không có dấu hiệu gì chứng tỏ nạn nhân đã bị hãm hiếp.
Là con gái của một gia đình di dân từ các đảo quốc nhỏ vùng biển Caribbean, Francisco là một nữ bác sĩ sản khoa sinh trưởng tại Luân đôn và làm việc tại bệnh viện Queen Charlotte Hospital với số lương 45 ngàn bảng Anh một năm. Thoạt đầu cảnh sát cho rằng bác sĩ Francisco là nạn nhân của một vụ trộm đột nhập gia cư và tên trộm vì sợ lộ chuyện khi bị bác sĩ phát hiện nên đã ra tay giết chết Francisco. Tuy nhiên giả thuyết này bị loại bỏ vì trộm đạo rất hiếm khi gặp ở khu phố này.
Bốn ngày sau vụ án, cảnh sát bắt giữ một vị bác sĩ từng bị Francisco tố ra tòa vị tội gian lận tiền bạc, nhưng nhiều người đã làm chứng tư cách ngoại phạm cho vị bác sĩ này. Tiếp đó cảnh sát bắt giữ Tony Diedrick một tình nhân cũ của nữ bác sĩ Francisco, tuy nhiên sau đó phải thả anh ta vì thiếu bằng chứng buộc tội.
Mặc dầu không đủ bằng chứng để giam giữ Tony Diedrick nhiều thám tử phụ trách điều tra vụ án mạng của Francisco tin chắc rằng chính hắn là thủ phạm. Những niềm tin này dựa trên cơ sở rằng đã có ít nhất 20 nhân chứng cho biết tận mắt thấy Tony Diedrick lảng vảng gần nhà của Francisco những ngày trước khi vị nữ bác sĩ bị giết, tuy nhiên chẳng có ai tận mắt chứng kiến sự hiện diện của Tony Diedrick trước nhà của Francisco vào ngày xảy ra vụ án.
Thêm vào đó hồ sơ cảnh sát ghi nhận được nhiều cú điện thoại than phiền của nữ bác sĩ Francisco thời gian trước đó cho biết cô bị tên Tony Diedrick cứ theo dõi và quấy rầy đến nổi cô ta rất lo sợ cho sự an nguy của bản thân mình. Tuy nhiên căn cứ theo luật pháp, cảnh sát vẫn không có bằng chứng gì để buộc tội Diedrick và vụ án coi như bị xếp vào một bên không biết đến khi nào.
Không chịu khuất phục, gia đình của nạn nhân Francisco từ Hoa kỳ lập tức đến Luân đôn và hai bà chị đều là luật sư, đã quyết định truy tố Diedrick tội dân sự. Nội dung vụ tố tụng chỉ truy tố Diedrick tội đã theo dõi gây phiền nhiễu cho bác sĩ Fransisco trước khi chết, tội hành hung bạo lực của Diedrick đối với nạn nhân. Trong trường hợp này các luật sư của gia đình nạn nhân cho rằng truy tố tội dân sự là cách duy nhất để mang nghi can ra tòa đối chất khi không đủ bằng chứng để truy tố các tội hình sự với hắn. Bà mẹ của nạn nhân Francisco cũng đòi Diedrick phải chi trả hơn 17 ngàn tiền lo đám tang và bồi thường thiệt hại vì từ nay bà sống không có tiền trợ cấp do con gái gửi cho bà nữa.
Trước tòa Diedrick đồng ý trả bồi thường số tiền 50 ngàn bảng Anh nhưng từ chối không chịu ra trước vành móng ngựa để trả lời những báo buộc về tội sát nhân.
*
Mối quan hệ giữa bác sĩ Francisco và Diedrick bắt đầu từ tháng 2.1987 đến cuối năm 1988. Lúc đó Diedrick chỉ là một tên thanh niên không có nghề nghiệp ổn định và không ai hiểu vì sao một người như cô gái Francisco có thể đem lòng yêu một thanh niên như Diedrick. Chính sau này Francisco đã lấy làm hối tiếc vì đã yêu nhầm người và chuốc nhiều phiền nhiễu đến cho bản thân mình và gia đình. Bất chấp những lời khai trước tòa rằng hắn vẫn còn yêu Francisco tha thiết và tình yêu đó là tình yêu duy nhất trong cuộc đời hắn, luật sư bê nguyên đã chứng minh rằng cùng lúc quan hệ với Francisco, Diedrick đã có quan hệ với nhiều cô gái khác và tự ý chấm dứt mối quan hệ yêu đương với nữ bác sĩ Francisco. Lúc đầu Francisco rất đau khổ vì bị Diedrick từ bỏ, tuy nhiên dần dần cô đã nguôi ngoai và quyết định quên đi tên bạc tình này.
Nhưng năm năm sau khi chia tay, một lần kia Diedrick tình cờ gặp lại Francisco trong một hộp đêm và tình xưa lại bốc lửa ngùn ngụt trong trái tim của hắn. Từ đó mặc dầu Francisco quyết định xua đuổi hắn đi chỗ khác chơi, Diedrick vẫn tiếp tục bám sát Francisco như hình với bóng, chầu chực bên ngoài nhà cô gái, đặt dụng cụ nghe lén điện thoại của cô, gọi điện thoại năn nỉ lẫn hăm dọa. Tệ hại hơn hắn còn dùng một máy hồng ngoại tuyến để ban đêm đến sau nhà của Francisco hòng theo dõi những hoạt động của cô gái. Một lần khi phát hiện Francisco có nhân tình mới hắn đã gọi điện thoại hăm dọa giết chết anh chàng tốt phước lúc đó đang được Francisco đem lòng yêu mến. Tình hình này cứ kéo dài cho đến khi biết bác sĩ Francisco được mời sang Hoa kỳ nghiên cứu, Diedrick cuống cuồng vì hắn sợ rằng sẽ không bao giờ gặp lại cô nữa.
Luật sư của Diedrick là Ronald Thwaites cho biết thân chủ của ông không có động cơ gì để giết chết Francisco vì từ lâu vẫn đem lòng tha thiết yêu nạn nhân. Hơn nữa vị luật sư này dẫn chứng là Diedrick là một nhà trí thức đã có văn bằng thạc sĩ hạng ưu tú về computer tại đại học Middlesex và đang tập sự tại một công ty lớn trước khi được tuyển dụng toàn thời. Một người như thế không thể phạm tội ác ghê gớm được. Tuy nhiên quan tòa Alliott trong bản nhận định của mình đã cho rằng Diedrick đã cung cấp bằng chứng ngoại phạm gian dối khi cung khai với cảnh sát và đưa ra giả thuyết rằng thoạt đầu, khi Diedrick đột nhập vào nhà của Francisco đã không có ý định giết chết nạn nhân nhưng sự phản đối dữ dội của Francisco đã khiến hắn lên cơn điên và dùng tay rồi dùng một sợi dây điện siết cổ Francisco cho đến chết.
Nhận định trên của chánh án Alliott không làm thay đổi được tình hình vì đó chỉ là nhận định cá nhân và thiếu cơ sở pháp lý để truy tố Diedrick, kết quả là hắn vẫn tiếp tục được tự do và nhơn nhơn tự tại. Sau đó gia đình của Francisco bèn đến kêu cứu sự giúp đỡ của Sir Paul Condon, chỉ huy trưởng cảnh sát Luân đôn và yêu cầu ông này ra lệnh mở lại hồ sơ vụ án. Khi nghiên cứu lại tiến trình của vụ án vị chỉ huy cảnh sát này phát hiện một chi tiết vô cùng quan trọng khiến vụ án đang bị bế tắc bổng như thấy được tia sáng cuối đường hầm.
Khi một nữ chuyên viên khoa học hình sự khám nghiệm chiếc áo t-shirt của nạn nhân Francisco mặc lúc bị giết, bà này đã nhận định rằng chẳng có dấu vết gì của tên sát nhân để lại trên chiếc áo. Khi lột chiếc áo trên xác chết, các thám tử vì vô ý đã không ghi nhận rằng nạn nhân Francisco vì vội vàng làm sao đó đã mặc trái chiếc áo t-shirt của mình. Do đó khi lấy chiếc áo bỏ vào trong bao đựng tang vật, các thám tử đã lộn nó thành mặt phải và bà chuyên viên giảo nghiệm hình sự khi nhìn thấy ba vết máu nhỏ bên trong chiếc cổ áo đã cho rằng đó chính là máu của nạn nhân. Thêm nữa bà này cho rằng ba vết máu tí xíu đó nếu lấy làm xét nghiệm thì có khi không đưa ra được kết quả mà lại còn làm hủy hoại bằng chứng.
Theo chỉ huy trưởng cảnh sát Paul Condon thì nạn nhân mặc ngược chiếc áo lộn trái khi gặp tên sát nhân và vì nạn nhân đã phản kháng dữ dội khi bị tấn công, nên tên sát nhân đã bị thương. Chính những vết thương này làm nhỏ vào giọt máu trên chiếc áo. Khi chiếc áo được lộn từ ngoài vào trong, chuyên viên hình sự cho rằng máu đó nằm ở phía trong thì phải là máu của nạn nhân. Kết quả xét nghiệm phân tử di truyền cho thấy máu đó trùng khớp với các chi tiết về di truyền học với máu lấy từ thân thể của tên Diedrick đem đi xét nghiệm. Theo các chuyên viên xét nghiệm thì sự sai sót trong trường hợp này nếu có trùng hợp chỉ là 1 trên 170 triệu trường hợp. Điều này có nghĩa là đã có bằng chứng để bắt giữ tên Diedrick và cuối cùng cảnh sát đã đến còng tay hắn tại nhà.
Trước tòa tên Diedrick kể lể dài dòng rằng hắn trọn đời yêu chỉ một mình bác sĩ Francisco và vì yêu như thế hắn không thể nào có thể nhẫn tâm ra tay giết chết người yêu của mình được. Khi công tố viện đưa ra những bằng chứng rằng hắn chỉ là một tên nói láo vì trong khi quan hệ với Francisco hắn còn đi lại với nhiều cô gái khác và đã tự ý chấm dứt quan hệ với Francisco. Tòa đưa ra bằng chứng rằng có đêm Francisco đã ngồi trong xe suốt đêm để chờ đợi bên ngoài căn nhà của hắn, trong khi Diedrick làm tình trong phòng ngủ với một cô gái khác. Diedrick chống chế rằng hắn không biết là Francisco có ý nghĩa với cuộc đời hắn như thế nào cho đến khi hai người chia tay nhau.
Tiếp đó khi tòa đưa ra những bằng chứng cho thấy Diedrick đã cung khai gian dối bằng chứng ngoại phạm thì hắn tuyên bố rằng ba tháng trước khi Francisco chết, hắn chẳng có cơ hội được nhìn thấy Francisco chứ đừng nói lại gần nạn nhân để ra tay sát hại. Tuy nhiên khi tòa đưa ra chiếc áo t-shirt với ba vết máu của hắn còn đọng lại và giải thích cho hắn rằng khi nạn nhân bị hắn giết chết đang mặc chiếc áo lộn trái và kết quả xét nghiệm cho thấy máu đó chính là máu của hắn, Diedrich đã cãi một cách nguy xuẩn rằng hắn công nhận máu đó là máu của hắn, nhưng lại ngạo ngược cho rằng hắn chưa từng thấy chiếc áo đó trong đời.
Ngày 13.10.1999 sau bốn tiếng đồng hồ nghị án, một bồi thẩm đoàn đã kết luận Diedrick can tội sát nhân nữ bác sĩ Francisco. Hắn hét lớn trong tòa là hắn vô tội và hắn sẽ kháng cáo tới cùng để minh oan cho tên tuổi của hắn. Ra lệnh cho hắn im lặng, nữ chánh án Hallett đọc bản án tuyên án tù chung thân cho tên sát nhân Tony Diedrick và nhận định rằng Tony Diedrick là một con người hèn nhát, tàn bạo đã giết chết một cô gái trẻ xinh đẹp, đầy hứa hẹn trong tương lai. Bị còng tay dẫn đi khỏi tòa, Tony Diedrick vẫn tiếp tục la lối rằng một ngày kia người ta sẽ biết hết sự thật và hắn là một kẻ vô tội.
Bên ngoài tòa án luật sư của gia đình nạn nhân Francisco cho biết rằng trong vài tiếng đồng hồ sau khi phát hiện thi thể của Francisco, cảnh sát đã xử lý tầm bậy những bằng chứng thu thập được tại hiện trường. Nếu gia đình nạn nhân không quyết tâm theo đuổi vụ án, buộc cảnh sát phải giảo nghiệm chiếc áo t-shirt lộn trái thì giờ này tên sát nhân Tony Diedrick vẫn thoát khỏi bàn tay của công lý và nạn nhân Francisco đành ngậm ngùi dưới suối vàng.
Tuy nhiên cảnh sát chống chế cho rằng với kỹ thuật xét nghiệm phân tử di truyền hiện đại những kẻ sát nhân dù 20 năm hay 50 năm sau sẽ vẫn bị nhận diện và cuối cùng sẽ đền tội trước pháp luật. Có điều cảnh sát không cho biết, bằng cách nào, cảnh sát sẽ áp dụng kỹ thuật xét nghiệm phân tử di truyền đối với Tony Diedrick khi hồ sơ vụ án đã bị khép lại.