banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Từ Vũ Anh Khanh tới Nhất Linh,
những kẻ sĩ của thời đại, phải để lịch sử phán xét

 

Mường Giang

Trong dòng sử Việt từ thời các Tổ Hùng dựng nước cho tới nay, có lẽ những hệ lụy liên quan tới cuộc chiến Đông Dương từ 1945-1975 là tốn nhiều giấy mực nhất với lời qua tiếng lại, vì phe nào cũng muốn dành về phần mình "sự chính thống". Cộng đồng người Việt hải ngoại suốt 33 năm qua, tuy rằng không còn cái cảnh trói buộc bịt mắt ngựa của thời nào nhưng có một số người cầm bút, nhất là về sử học vẫn còn bị các áp lực chính trị trấn áp, đe dọa cụ thể hay tự nguyện bẻ cong ngòi bút,trong khi miệng vẫn nằng nặc tuyên bố là mình đã nói viết sự thật. Tóm lại nói ra thì sợ bứt dây đụng rừng, xúc phạm tới bề trên. Do đó chỉ còn có cách là nhờ đời sau nhận định. Nên khi nói "Để cho lịch sử phán xét" Nhất Linh Nguyễn Tường Tam đã khẳng định là ông không bao giờ chấp nhận cho đương thời đánh giá về hành động của mình, mà phải đợi đời sau phán xét vì ông tin sự vô tư của lịch sử.
Trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, thi hào Nhất Linh và nhà văn Vũ Anh Khanh đều là những người nổi tiếng trên văn đàn của nước nhà. Hai ông còn là những chiến sĩ dũng liệt của thời đại, đã gần như hy sinh cả cuộc đời, để dấn thân vào con đường hiểm nguy chông gai chống Pháp cứu nước. Cả hai đều mang chí cả của kẻ sĩ trong thời tao loạn, sống hết mình cho lý tưởng phụng sự quốc gia, tuy rằng mổi người đi theo một con đường đã chọn.
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chính thức bắt đầu dấn thân vào con đường chính trị từ năm 1939, khi lập Hưng Việt đảng, sau đó đổi thành Đại Việt Dân Chính. Đồng thời nhóm Tự Lực Văn Đoàn ra đời năm 1933 với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Nguyễn gia Trí cũng công khai chống Pháp. Do đó từ năm 1942 ông đã thoát ly và chỉ trở về nước vào năm 1946, khi hợp tác với chính phủ liên hiệp chống Pháp, trong chức vụ bộ trưởng ngoại giao, nhưng sớm nhận rõ bộ mặt gian manh cộng sản quốc tế của Hồ Chí Minh nên đã từ chức. Từ 1951 vào miền Nam, mở nhà xuất bản Phượng Giang tái bản các sách của Tự Lực Văn Đoàn. Năm 1958 chủ trương tờ Văn Hóa Ngày Nay. Ngày 11-11-1960 dính líu với nhóm Hoàng Cơ Thụy trong cuộc đảo chính chống lại Ngô triều. Ngày 7 tháng 7 năm1963 ông uống đôc dược quyên sinh vì không chịu để cho Tòa Án xét xử, kết thúc cuộc đời hào hoa phong nhả của một tráng sĩ dũng khí ngút trời, lưu lại cho hậu thế một sự nghiệp văn chương hiển hách qua 40 năm hoạt động văn học và chính trị với hơn 20 tuyệt tác phẩm.
Riêng Vũ Anh Khanh đã lầm đường lạc lối trước những xảo thuật chính trị tuyên truyền của đệ tam quốc tế, qua cái bình phong Mặt trận Việt Minh, nên ngày hòa bình trở lại năm 1954, đã hăm hở tập kết về bắc. Nhưng than ôi tất cả chỉ là ảo vọng khi mặt thật của thiên đường xã nghĩa hiện ra trong máu lệ, qua cảnh đời nghèo đói bất công và nổi cùng khốn tận tuyệt của dân chúng vô tội bên bờ này vỹ tuyến, qua cái gọi là cải cách ruộng đất và vụ án trăm hoa đua nở, mà chánh quyền cọng sản rập khuông theo Trung Cộng để diệt các tầng lớp phú, nông,thợ thuyền và trí thức VN, những người đã làm đá lót đường, làm cầu qua sông, làm phương tiện cho đảng chiếm được nửa nước để thụ hưởng và cầm quyền.
Thế nên ông đã quyết ý phải từ bỏ thiên đường đang ngoi ngóp sống, để quay về Nam với Mẹ với em, với những thân thương đang ràn rụa nước mắt đợi chờ. Nhưng than ôi, số đời đã định, vào lúc Vũ Anh Khanh đã sắp vói tay được vào bờ nam dòng sông vỹ tuyến, thì một mũi tên tẳm thuốc độc vô tình đã kết liểu cuộc đời tài hoa của người chiến sĩ vào năm 1956.
Trong cuốn Hồi Ký "Biến cố 11-11-1960, từ đảo chánh tới tù đày" gồm nhiều hồi ký do Trần Tương biên soạn và xuất bản tại Sàigòn năm 1971. Trong số này có bài viết của GS Nguyễn Thành Vình là đồng chí của Nhất Linh, đã ghi lại đầy đủ những lời nói cuối cùng của ông trước khi nhắm mắt "Đời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử cả. Sự băt bớ và xử tội tât cả các phần tử đối lập Quốc Gia là một tội nặng nề, sẽ làm cho mất nước về tay cộng sản."
Trên tờ Văn Hoá VN, số 14 mùa thu 2001, xuất bản tại Houston Texas, Xuân Vũ nhớ bạn có nhắc lại câu thơ: "Vũ Anh Khanh, quê hương còn ly loạn", rồi kể lại câu chuyện của một người chết không mồ. Cuộc đời như vậy sao mà không buồn? nhất là qua biến cố 30-4-1975 đã cho chúng ta thấy một cách minh bạch rằng chế độ thực dân đồng chủng hay dị chủng, Pháp hay Việt cộng bản chất vẫn như nhau và những điều mà các nhà văn Nhất Linh (trong Dòng Sông Thanh Thủy, Xóm Cầu Mới) và Vũ Anh Khanh, qua các bản cáo trạng, tới nay vẫn còn giá trị.
Có điều thật là bất công và tàn nhẩn đối với những người yêu nước, trong đó có Vũ Anh Khanh, tại VNCH miền đất được mệnh danh là tự do dân chủ. Càng mai mĩa thay, trong khi chương trình Việt sử bậc Trung và Đại Học, chính phủ Quốc Gia đã long trọng đề cập tới cuộc kháng chiến của Dân Tộc qua sự nghiệp lật đổ ách thống trị của Thực dân Pháp từ 1945-1954 tại Nam Kỳ và việc chấp nhận bản Thanh niên hành khúc của Lưu hửu Phước làm Quốc Ca VN, sau khi được sửa chữa một vài chữ. Ai cũng biết họ Lưu là Việt Cộng chứ không phải Việt Minh, nhất là sau khi Miền Nam mất nước, ngày 20-8-1975, Lưu hửu Phước qua chức phận Bộ Trưởng Thông Tin Văn Hoá của cái Chính phủ Lâm thời CHMN, đã ký nghị định "Đốt sách chôn học trò" trên khắp lãnh thổ VNCH củ, theo đúng bài bản mà bạo chúa Tần Thỉ Hoàng của Tàu đã cho thi hành mấy ngàn năm trước.
Mấy chục năm qua (1963-2008), đối với Nhất Linh không biết ông đã được yên lòng nhắm mắt hay chưa? tuy rằng về vật chất có một vài tác phẩm xuất bản thời tiền chiến, cũng như di cốt được VC cho phép in lại và dời từ Sàigòn về chôn tại Hội An (Quảng Nam) năm 2001.Trong khi đó tại hải ngoại đã có nhiều công trình nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của ông, tuy vậy với dư luận còn trôi nổi giữa cảnh tranh sáng tối chốn thị phi, thì "công và tội" của Nhất Linh cũng vẫn còn nguyên đó.
Tất cả cũng chỉ vì chính trị và định kiến hẹp hòi, Miền Nam đã gạt bỏ những người yêu nước như Vũ Anh Khanh, kể luôn các tác phẩm của ông, chỉ vì nội dung sách như những bản cáo trạng, tố cáo thẳng bọn cầm quyền thối nát, hại dân bán nước ở bất cứ chế độ nào. Nhất Linh bị đẩy vào con đường chết cũng chỉ vì ông giống như Vũ Anh Khanh không chấp nhận "độc tài, độc đảng toàn trị". Ngày nay trắng đen đã rỏ nhưng vẫn còn rất nhiều nghi vấn không ai muốn giải đáp dù biết chỉ vì "không nói được". Đó chính là nổi đau đớn chung của Quê Hương, trong đó xác thân của người chiến sĩ vị quốc Vũ Anh Khanh không biết đã trôi giạt về đâu?

1- Thân Thế Và Sự Nghiệp Của Nhất Linh Và Vũ Anh Khanh:
+ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam:
Tháng 10 năm 1956 nhóm Sáng Tạo ra đời tại Sàigòn như là một vận hội, vì đã đáp ứng được nhu cầu của quần chúng lúc đó, đang chờ đợi một nền văn chương nghệ thuật mới. Nhóm này gồm Mai Thảo, Duy Thanh, Trần Thiện Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ.sau đó thêm Phan Nhật Nam, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng, Dương Nghiểm Mậu. Tất cả đều là những văn tài của Miền Nam, không những lúc đó mà tới bây giờ tên tuổi của họ vẫn còn sáng chói, tuy rằng Sáng Tạo chỉ xuất hiện với văn đàn có 31 tháng.
Gọi là nhu cầu mới, vận hội mới của nhóm, cũng chỉ nhằm mục đích nhìn lại "Văn Nghệ Tiền Chiến", chẳng những Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, mà cả Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Trần Huyền Trân.. những đỉnh cao của nên văn học nghệ thuật VN lúc đó, đối với nhóm Sáng Tạo, đều trở thành vô nghĩa, ngớ ngẩn, lổi thời. Nhưng nói gì chăng nữa, thì trước hết nhóm này cũng đã mặc nhiên chấp nhận giá trị thật của Văn Nghệ Tiền Chiến. Bởi vậy muốn trở thành vận hội mới, thì phải làm sao vượt qua cái giá trị cũ, một hành động chỉ "nói lấy được" vì chẳng bao giờ có thật.
Trong tác phẩm "Văn Thi Sĩ Tiền Chiến" Nguyễn Vỹ cho rằng niên lịch từ 1925-1940 là thời đại hoàng kim của văn học sử VN, nó luôn chói lọi trong huyền mơ của một dỹ vảng luôn luôn còn hiện thực. Tóm lại không có người chết mà chỉ có kẻ vắng mặt. Có thể là những công nhận của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Vỹ hay phủ nhận của nhóm Sáng Tạo với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền.. thì Tự Lực Văn Đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thach Lam.. không bao giờ chết, mà họ chỉ vắng mặt trong khoảng không gian biểu kiến, đặc biệt là Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, con chim đầu đàn.
Theo Nguyễn Ngu Í trong "sống và viết" đã dựa vào buổi phỏng vấn với Nhất Linh, đã ghi lại tiểu sử do chính ông đọc, nhất là giai đoạn 1954-1963.Theo đó ta biết Nhất Linh tên thật Nguyễn Tường Tam, sinh tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt) vào ngày 25 tháng 7 năm 1906, trong một gia đình gồm 7 anh em: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Thị Thế, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) và Nguyễn Tường Bách.
Làm thư ký cho Sở tài chánh Hà Nội năm 1923 sau khi đổ bằng Cao-Tiểu. Dịp này ông kết bạn với nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu và bước vào sự nghiệp văn chương qua tác phẩm đầu tay "Nho Phong".Năm 1927 đậu cử nhân khoa học khi du học Pháp. Từ năm 1930-1932 về nước dạy học tại các tư thục Thăng Long, Gia Long nên quen Khái Hưng (Trần Khánh Giư). Ngày 22 tháng 9 năm 1932, Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của GS Phạm Hữu Ninh và tục bản.
Năm 1933 ông thành lập nhóm Tự Lực Văn Đoàn với mục đích như đã tuyên bố trên tờ Phong Hóa số 87 ngày 2-3-1933 "Tự Lực Văn Đoàn họp những người đồng chí trong văn giới, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung". Ngoài lảnh vực thơ mới, tiểu thuyết, báo chí.. TLVĐ còn chủ trương "Chủ Nghĩa Bình Dân" trong chính trị và những đóng góp khác về kiến trúc, âm nhạc kể cả y phuc VN. Nhóm được thành lập với bảy người nồng cốt ban đầu gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Nguyễn Gia Trí (họa sĩ).
Năm1936 do bài báo của Hoàng Đạo châm biếm Hoàng Trọng Phu nên tờ Phong Hóa bị đóng cửa, chỉ còn lại tờ Ngày Nay. Năm 1939 Nhất Linh lập đảng Hưng Việt sau đó đổi thành Đại Việt Dân Chính. Nhóm TLVĐ từ đó cũng công khai chống Pháp. Từ 1942-1946 ông lưu vong tại Quảng Châu (Trung Hoa). Năm 1946 về nước tham gia chánh phủ liên hiệp, giữ chức bộ trưởng ngoai giao nhưng chẳng bao lâu cũng từ chức vì sớm khám phá ra bộ mặt cộng sản đệ tam quốc tế của Hồ Chí Minh. Sau đó bỏ sang Tàu và sống ở đó. Năm 1951 trở lại Hà Nội rồi vào sống tại Sàigòn, mở nhà in Phương Giang tái bản sách của Tự Lực Văn Đoàn nhưng tới năm 1953 lại lên Đà Lạt sống với rừng lan như một ẩn sĩ.
Năm 1958 về lại Sàigòn phát hành tờ Văn Hóa Ngày Nay nhưng chỉ được 11 số thì đình bản. Ngày 8 tháng 7 năm 1963 ông được lệnh ra Tòa Án Quân Sự vì có dính tới vụ đảo chánh ngày 11-11-1960 nhưng Nhất Linh đã uống thuốc độc quyên sinh ngày 7-7-1963, lúc đó mới 57 tuổi. Ông để lại cho đời 20 tác phẩm đủ loại gồm Nho Phong, Người Quay Tơ (Tiểu Thuyết Lý Tưởng), Đoạn Tuyệt, Lạnh Lùng (Tiểu Thuyết Luận Đề), Bướm Trắng, Nắng Thu (Tiểu Thuyết Tâm Lý) và nhiều truyện ngắn, truyện đài khác như Tối Tăm, Hai Buổi Chiều Vàng, Đi Tây, Giòng Sông Thanh Thủy, Thương Chồng, Xóm Cầu Mới.. Ngoài ra ông còn viết chung với Khái Hưng gồm Anh Phải Sống, Gánh Hàng Hoa và Đời Mưa Gió.
+ Vũ Anh Khanh:
Từ các tài liệu rất ít ỏi còn sót lại, được biết Vũ Anh Khanh tên thật là Võ Văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Ngoài bút hiệu trên, ông còn ký tên Vương Ấu Khương khi viết truyện ngắn " Mắt xanh sống vẫn lầm than bụi đời" đăng trên tờ Xuân VN vào Tết năm 1951.. Sách của ông không nhiều vì cuộc sống của nhà văn ngắn ngủi, hơn nữa trong lúc văn thi tài đang lên như diều gặp gió, thì năm 1950 ông đột ngột từ bỏ thành đô hoa lệ, sau một chuyến viếng thăm Tha La xóm đạo, một làng quê êm đềm thơ mộng như chính quê hương Mũi Né của ông với những rặng dừa xanh ẻo lã, chạy song song với đồi cát trùng trùng, ngày tháng nép mình ôm ấp biển xanh
Cũng từ đó, ông bỏ tất cả để dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp đang bùng nổ dữ dội khắp nước, dù đang là một nhà văn độc nhất tại Nam Kỳ, có nhiều sách bán chạy như chuyện dài Bạc Xíu Lìn, được Tiếng Chuông xuất bản năm 1949, chỉ trong 2 tháng đã bán hết 10.000 cuốn, sau đó phải tái bản nhiều lần vẫn không cung ứng nhu cầu của người ái mộ. Nói chung theo giáo sư Nguyễn văn Sâm viết trong " Văn Chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950, thì hầu hết tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị và tiêu biểu trong dòng văn chương đấu tranh thời đó, dù là thơ như Chiến Sĩ Hành (Tân VN, Sàigòn 1949), Truyện dài Nửa Bộ Xương Khô gồm 2 tập (Tân VN, Sàigòn 1949), Cây Ná Trắc (Tân Việt, Sàigòn 1947), truyện ngắn Ngũ Tử Tư (Tân VN, Sàigòn 1949), Đầm Ô Rô (Tiếng Chuông, Sàigòn 1949), Sông Máu (Tiếng Chuông, Sàigòn 1949) và Bên Kia Sông ( Tân VN, Sàigòn 1949).Riêng bài thơ Tha La Xóm Đạo của ông, sau này được nhạc sĩ Dũng Chinh, tên thật là Nguyễn văn Chính, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc và rất được mọi người ưa thích nhất là qua giọng hát truyền cảm tha thiết trầm buồn của nam ca sĩ Anh Khoa cũng là người Bình Thuận. Ngoài ra soạn giả cải lương nổi tiếng Viễn Châu cũng đã mượn ý của Vũ Anh Khanh để viết tình khúc tân cổ giao duyên " Tha La xóm đạo".
Theo Xuân Vũ thì Vũ Anh Khanh lớn hơn ông chừng vài tuổi, hai người đã quen biết nhau khi cùng ở chung trong hàng ngủ kháng chiến quân, gọi tắt là Việt Minh, một tổ chức chống Pháp qui tụ toàn dân VN không phân biệt đảng phái chính trị. Vẫn theo Xuân Vũ thì dường như đã có một điều gì khác lạ, nên từ năm 1950 khi về phục vụ tại cơ quan chính trị kháng chiến, không hiểu vì lý do gì Vũ Anh Khanh trở nên bất động, thậm chí tại Khu có tờ báo mang tên "Tiếng Súng Kháng Địch" sau đổi thành tờ Quân Đội Nhân Dân Miền Tây, vậy mà Vũ Anh Khanh hầu như không hề biết tới, kể cả những lúc sinh hoạt cũng chẳng hề có ý kiến, nếu bị hỏi tới mới nói:" tôi đồng ý thế thôi ".
Như vậy, chẳng lẽ lúc đó ông đã nhận ra cái mặt thật của Việt Minh đang bị Việt Cộng núp bóng điều khiển hay vì cực khổ nên hối hận? cả hai thắc mắc không thấy Xuân Vũ đề cập tới. Thêm một chi tiết khác là ông còn độc thân cho tới lúc qua đời. Cũng theo lởi kể của Xuân Vũ, thì hai ông sống chung rất lâu nhưng năm 1954 tập kết ra Bắc, Xuân Vũ đi tại bến Chắc Băng, Cà Mâu và chỉ gặp lại Vũ Anh Khanh tại Hà Nội trong khu tập thể của dân Nam Kỳ tập kết.

2- Nhất Linh Và Vũ Anh Khanh, Một Đời Đáng Kính:
Sống trong buổi loan ly, nhà tan nước mất, chỉ có một thiểu số không tim óc dửng dưng nhìn thế sự xoay vần, mặc cho quốc dân bị đè bẹp dưới gót sắt của ngoại bang. Nhưng tuyệt đại đa số dân chúng VN đã đứng dậy hưởng ứng phong trào chống trả với giặc thù. Cuối tháng 12-1946, quân Pháp chính thức làm chủ Sàigòn và cũng giống như lần trước, giặc đã gặp phải sự kháng cự của toàn dân. Lần trước vào năm 1862, người Việt dùng những vũ khí thô sơ và lòng yêu nước để chống chọi với súng đạn tối tân. Lần này, người Việt tuy vô Chánh phủ và thực tế chỉ là những lực lượng tự phát nhưng lại có trong tay các loại vũ khí hiện đại như người Pháp, của Nhật để lại. Thêm vào đó là tim óc của các tầng lớp trí thức tân học, thể hiện qua các tác phẩm tuyên truyền, những lời hiệu triệu, những tờ truyền đơn nẩy lửa, tố cáo sự dã man của Pháp, đồng thời kêu gọi toàn dân đứng lên đáp lời sông núi, tiêu diệt kẻ thù.
Ngày xưa các cụ Đồ Chiểu, Huỳnh mẫn Đạt,Nguyễn Thông, Phan văn Trị.. cũng đã từng dùng thơ văn cổ xúy cho cuộc kháng Pháp của Trương Định, Nguyễn trung Trực, Thủ khoa Huân, Thiên hộ Dương.. nhưng lúc đó vì phương tiện và hoàn cảnh eo hẹp nên ảnh hưởng không được bao nhiêu. Trái lại khoảng thời gian năm năm 1945-1950, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nói chung là văn nghệ sĩ miền Nam đã tiếp tay cho kháng chiến một cách tích cực, góp phần lớn với toàn dân cả nước, tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, thu lại nền hòa bình độc lập cho đất nước.
Trong chiều hướng trên, các tác phẩm văn xuôi của Tự Lực Văn Đoàn xuất bản, mang một ý nghĩa đặc biệt về hình thức tới nội dung, chuyên chở ý tưởng tận lực sức mạnh của toàn dân cả nước để giành lại độc lập cho VN, mà không cần phải cầu viện tới ngoại bang. Muốn vậy trước hết phải mở mang dân trí, mà lúc đó đa số độc giả của TLVĐ phần đông thuộc giới trung lưu có học. Họ sẽ là nhân tố sau này, giúp tác động cho công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp đang dày xéo quê hương nước Việt.
1932-1945 là thời kỳ Tự Lực Văn Đoàn chính thức thành một tổ chức chính trị và Nhất Linh cũng trở thành một lãnh tụ của VN Quốc Dân Đảng nhưng chủ trương dùng các cuộc hội nghị để giải quyết, chứ không muốn gây nên một cuộc chiến tranh đẳm máu, hao tốn sinh mệnh của đồng bào. Nhưng tiếc thay thời cuộc lúc đó, VN chẳng khác gì con cá nằm giữa dao và thớt (Pháp và Cộng Sản) nên dù Nguyễn Tường Tam có khả năng ngoại giao, cũng không xoay được thời cơ theo thời cuộc của kẻ đang nắm trong tay quyền lực bằng súng đạn.
Với Vũ Anh Khanh, từ truyện ngắn cho tới truyện dài, qua nhận xét của các nhà nghiên cứu văn học hiện đại, trong đó có giáo sư đại học Nguyễn văn Sâm, đều đáng được xem là những tiêu biểu nhắm vào các mục đích đấu tranh nhằm tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp, làm cản trở sự tiến hóa của dân tộc VN. Tình trạng tạo nên cảnh ngu dân này, trước đây cũng đã được các nhà ái quốc tiền phong như Phan bội Châu, Phan chu Trinh.. đặt thẳng vấn đề với nhà cầm quyền Pháp nhưng có lẽ quyết liệt hơn hết là tôn chỉ của VN Quốc dân đảng,được cố Đảng trưởng Nguyễn thái Học, viết trong bức thư tuyệt mệnh vào tháng 3-1930 gởi cho Hạ nghị viện Pháp, yêu cầu mở trường cũng như cải tổ nền giáo dục tại VN.
Nối tiếp tâm nguyện của tiền nhân, Vũ Anh Khanh qua các tác phẩm Bên Kia Sông và Cây Ná Trắc, đã công khai tố cáo Pháp cố tâm ngăn chận sự học hành của VN,Trong truyện ngắn Một Đêm Trăng, Vũ Anh Khanh qua lời nhân vật của mình, đã thổn thức:".. Dân VN hiếu học nhưng bao lâu nay, họ cam tâm chịu dốt nát vì bị người ta tìm cách chèn ép.." Hậu quả trên đã tạo nên tuyệt đại tầng lớp dân chúng thất học, chịu câm lặng cúi gập trước nổi bất công phi lý, như hầu hết các nhân vật trong truyện dài Nửa Bộ Xương Khô gánh chịu.
Song song, ông còn mạnh mẽ tố cáo Pháp cố tình tạo nên một xã hội băng hoại, để đầu độc dân tộc VN, là tác giả của những tệ nạn rượu chè, hút sách, cờ bạc, đĩ điếm, công khai khuyến khích hay dùng bạo lực bắt dân chúng phải mua rượu, trồng nha phiến, mở sòng bạc, ổ điếm. Tất cả những tệ nạn xã hội trên đều được Vũ Anh Khanh ghi lại đầy đủ và nát tim trong các tác phẩm Bạc Xíu Lìn, Sông Máu và Đầm Ô Rô... Tất cả các cơ sở trụy lạc trên đều nhan nhản khắp nước, đặc biệt là tại Hà Nội, Hải Phòng và nổi tiếng ở Sàigòn-Chợ Lớn với hai sòng bạc Kim Chung và Đại thế giới, do các xì thẩu Hoa,Ấn và Pháp kiều toa rập làm chủ, kết quả nhiều người Việt vì say mê cờ bạc, thần đề, bàn đèn, đĩ điếm.. phải tan gia bại sản và cuối cùng đã:
"..bán con, thế vợ, đợ chồng
hết cơ, mất nghiệp, thần vòng rủ đi.."
Sau rốt, ông đã tố cáo thực dân làm cho người VN trở thành lạc hậu, hung tàn, mất hết bản tánh con người văn hiến. Trong lãnh vực này, Vũ Anh Khanh xứng đáng là một chiến sĩ,, một nhà văn can trường khi dám dùng trí óc như những phát súng thần công nhắm thẳng vào bọn cầm quyền Pháp, lũ xì thẩu bất nhân Hoa kiều và đám tư bản bốc lột Ấn Độ, chuyên sống ký sinh trên thân thể đầm đià máu lệ của người Việt, qua các truyện ngắn như "Sàigòn ơi, Ma thiên Lãnh, Hối tắc...". Nói tóm lại dưới chế độ thực dân, qua nổi nghèo cực tối tăm, người Việt không còn tương lai và gần như đánh mất hết đạo lý của thánh hiền, trở nên yếu hèn nông nổi vì quanh quẩn bị bạo lực vây bủa, kềm chế, sống trong cảnh một cổ bốn tròng,chia rẽ Trung Nam Bắc dù tất cả đều là VN và thê thảm nhất về kinh tế, Pháp và bọn ký sinh Hoa-Ấn hầu như nắm hết tất cả nguồn lợi quốc gia. Nạn đói năm Ất Dậu 1945 khiến cho hơn 2 triệu người bị chết đói, là hậu quả tất yếu của chính sách trên, sau này được Vũ Anh Khanh lập lại trong truyện dài ưng ý và nổi tiếng nhất của ông Nư>a Bộ Xương Khô. Văn chương của Vũ Anh Khanh phản ảnh đúng nét đặc trưng của người Bình Thuận, Phan Thiết luôn thấy sao nói vậy, ngay thẳng, trung hậu, không biết nể nang bất cứ ai đã làm bậy dù đó là cấp chỉ huy, thầy cô kể cả những thân quyến trong gia đình, vì vậy thật linh động, có lúc thống thết lâm ly, có khi mĩa mai cay độc nhưng vẫn không dấu nổi nét cảm khái hùng hồn, chưa chan niềm uất hận.
Vũ Anh Khanh hiện diện trên cõi đời thật ngắn ngũi (1926-1956), giống như hoàn cảnh của Vũ trọng Phụng cũng tài hoa lại vắn số, nhưng ông cũng đã làm tròn thiên chức của một thanh niên thời đại, trong cảnh quốc phá gia vong. Đây cũng là cái giá trị cao quý nhất của kiếp người, nhất là giới mày râu hàng tri thức có lương tri và nhân phẩm, cái hào quang để thế nhân phân biện được hư thực, tốt xấu của con người. Sau năm 1975, nhiều văn nghệ sĩ miền Bắc thẳng thắng bảo rằng, cái chết sớm của Vũ Anh Khanh là một hạnh phúc, để ông không trở thành ông bình vội như hầu hết các văn thi sĩ tiền chiến đã lãnh nhận, trong suốt thời gian sống nhục nơi cõi thiên đàng xã nghĩa u trầm. Qua việc Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc năm 1954, nên nhiều người đã kết tội ông là cọng sản. Cũng vì lý do này mà suốt thời gian1955-1975, tác phẩm của ông lại bị cấm tiếp, không được tái bản, lưu hành, không có tên trong chương trình giáo dục, dù năm 1956 ông đã bị cọng sản miền Bắc bắn chết trên sông Bến Hải, khi quyết lòng đi tìm tự do sau khi đã đối mặt với sự thật nảo lòng. Thật ra việc Vũ Anh Khanh có là cọng sản hay không, giờ này cũng chưa có ai xác nhận được vì trong 9 năm chống Pháp, CSVN đã núp bóng Việt Minh để quản thúc toàn dân kháng chiến và trong hàng ngũ kháng chiến Việt Minh lúc đó có đủ mọi thành phần, đảng phái. Vũ Anh Khanh, Xuân Vũ.. hay mọi người khác trong dòng người yêu nước lúc đó, biết ai là Việt Minh hay Việt Cộng. Còn vấn đề về Tề hay tập kết phần lớn chỉ vì mang tâm trạng sợ bị trả thù, nên bặm môi tới đâu hay đó.
Đối với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam ngay từ thập niên 40, tên tuổi của ông đã đi vào sự ngưởng mộ của mọi người, như một lãnh tụ tinh thần xứng đáng của nhiều thế hệ. Không thành công thì thành nhân, câu phương ngôn bất hủ ngàn đời của kẻ sĩ đất Việt "Uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng di". Nay ngồi đọc lại Đoạn Tuyệt qua hai nhân vật chính Dũng và Loan, làm cho ta càng thêm kính phục và ngưởng vọng mối tình đồng chí tuyệt đẹp của Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học và cô Nguyễn Thị Giang. Tóm lại dù lịch sử có phê phán thế nào chăng nữa, thì Nhất Linh Nguyễn Tường Tam cũng đã trở thành một hình ảnh cao quý và hùng liệt trong tâm trí của mọi người bất kể là thương hay ghét.
"Sống cho ra sống, chết cho ra chết" quả thật cái chết của hào kiệt Nhất Linh Nguyễn Tường Tam vào ngày 7-7-1963 hay trước đó vào năm 1956 của Vũ Anh Khanh trên đường đi tìm tự do, đã trở thành tấm gương can đãm, để các vị tướng lãnh VNCH như Phạm văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai.. vào ngày 30-4-1975 chẳng thà "da ngựa bọc thây" chết vinh hơn sống nhục trước kẻ thù.
Nhưng thôi sự thật giờ đã rõ ràng, bộ mặt thật của cọng sản từ 1930-2008 cũng đã trôi hết lớp son phấn và huyền thoại, cho nên sự thức tỉnh của Vũ Anh Khanh năm 1956 hay tự chọn cho mình cái chết như Nhất Linh vào tháng 7-1963 để chống lại sự bất công xã hội.. là thái độ của một anh hùng đáng kính phục và mến mộ. Hơn nửa công hay tội của những người liên hệ tới lịch sử xin hãy để cho lịch sử định đoạt. Tự dưng tâm hồn cảm xúc và bối rối kỳ lạ khi bâng quơ đi vào ngỏ khuất của một phần đời nhà văn bị đời quên lãng Vũ Anh Khanh hay Người Chiến Sĩ kiêu hùng Việt Quốc Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.Trong gió, trong mưa, trong cảnh thu sang sụt sùi nước mắt, hình như có tiếng ai đang thì thầm:" Hãy khóc lên đi cho quê hương yêu dấu. Quê hương vẫn còn trong cơn ly loạn mà Các Anh nay ở đâu?"
Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 7-2008
Mường Giang
(Bài được lưu trữ tại thuvienvietnam@com và huongvebinhthuan@org)