banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 


(tiếp thep kỳ trước)

Đức bước tới tủ đựng đồ khô, lấy cái ly mì ra nấu nước sôi đổ ngập, chuẩn bị cho bữa ăn trưa đơn giản. Sinh hoạt gia đình trở nên đầm ấm trong ngày cuối tuần, thời gian vô cùng quí báu cho những người đi làm, họ cố gắng thu xếp công việc nhà cửa, bản thân để có chút thời giờ nghỉ, lấy sức để đi làm ngày thứ hai.
Ngày hôm sau, thứ hai là ngày những người đi làm ghét nhất trong tuần, tuy nhiên cũng phải đổi ghét thành ưa, để tạo ra đồng tiền cũng trầy da tróc vẩy. Con Yến ra đi từ sáng sớm, còn thằng Đức đi làm ca đêm. Vợ chồng Tư Ếch ở nhà, nghe radio, coi truyền hình... đói thì cứ vô tủ lạnh lấy đồ ra tùy nghi sử dụng. Cuộc đời sung sướng còn đòi hỏi gì nữa. Ở bên Úc lúc chưa xáp vô bà Uyên, mấy đứa nhỏ đi làm Tư Ếch cảm thấy cô đơn lạ thường, một mình trong căn nhà làm bạn với cái ti vi. Thỉnh thoảng vặn đài phát thanh sắc tộc S.B.S, mỗi ngày chỉ có một giờ để được nghe tiếng Việt Nam thân thương, vừa dễ hiểu mà lại biết được những tin tức cập nhật trong ngày.
Tuy nhiên trong thời gian nghe đài, lòng bất chợt lo lắng, khi thấy người làm công việc truyền thông cho đồng bào tỵ nạn Việt Nam, xử dụng quá nhiều từ ngữ xuất phát từ chế độ Cộng Sản. Người Việt tỵ nạn có lập trường 3 không:
* Không muốn nghe chữ Việt Cộng.
* Không muốn thấy cái gì của Việt Cộng.
* Không muốn biết bất cứ những báo cáo láo về thành tích của đảng và nhà nước Việt Cộng.
Tư Ếch lo cho những thế hệ trẻ bị đầu độc bởi từ ngữ khủng bố, chuyên môn gây hận thù, được chính các phát thanh viên gốc tỵ nạn phổ biến dùm (vô tình hay cố ý, có trời mà biết). Thỉnh thoảng đài còn đọc cả bản báo cáo phát triển kinh tế do cục thống kê nhà nước, do cơ quan nầy bộ kia của Việt Cộng đưa ra... Tại sao họ không chọn những nguồn tin, thống kê từ các cơ quan truyền thông trung thực như hãng thông tấn A.F.P, Reuter, BBC, CNN... để người tỵ nạn được biết chính xác những gì mà mình muốn biết. Cứ lấy những nguồn tin, báo cáo mang tính tuyên truyền của đảng, với chủ trương trước sau như một: Xấu che, tốt khoe của đảng và nhà nước Việt Cộng, trong việc bưng bít cái tàn ác và tuyên truyền cái tốt của tập đoàn Cộng Sản Việt Nam không bao giờ thay đổi, từ thời Hồ Chí Minh còn ọ ẹ cho đến ngày nay. Nhiều khi họ còn đọc nguyên văn cả những tài liệu hoàn toàn mang tính cách tuyên truyền từ nội dung đến mặt dùng từ ngữ... như vậy là những người làm việc cho đài muốn gì?
Qua Mỹ được nghe nhiều đài phát thanh tiếng Việt 24/24, bảy ngày một tuần. Các đài nầy do tư nhân làm chủ, cũng là người tỵ nạn, nhưng Tư Ếch cảm thấy thoải mái, hầu như họ làm việc theo đúng tinh thần của người bỏ nước ra đi tìm tự do: Ít dùng từ Việt Cộng, lấy tin từ các hãng thông tấn tin cậy nước ngoài.
Còn đài phát thanh sắc tộc S.B.S ở Úc, là cơ quan truyền thông của chính phủ lập ra để phục vụ cho những sắc dân không rành tiếng Anh. Nhân viên làm việc, phương tiện do chính phủ tài trợ từ tiền thuế của dân, trong đó có cả người Việt đóng góp. Như vậy, đài nên phục vụ cho những người thọ thuế mới phải, còn sinh viên du học, gián điệp nằm vùng, sứ quán... không có nhu cầu phục vụ vì họ đâu có đóng góp gì, mà còn phá hoại cuộc sống an bình của người tỵ nạn nữa.
Trong khi đang ngồi lắng tai nghe đài phát thanh tiếng Việt để biết tin tức thế giới và Việt Nam qua các hãng thông tấn ngoại quốc, không tuyên truyền dùm cho đảng Cộng Sản Việt Nam.
Bà Uyên làm công việc nội trợ, nấu hai tô mì gói với chế độ thịt bò tươi cực kỳ chất lượng để cho mình và chồng bồi bổ sức khỏe, sau nhiều ngày đi chơi cực khổ ở vùng Disney land, ăn nhậu say chí tử. Sau những lần đi chơi như vậy, Tư Ếch cảm thấy vui, nhưng trái lại thì cuộc hành quân tác chiến trường kỳ với người bạn đời tạm thời gián đoạn để chờ lịnh mới, với những đêm dài chiến tuyến, nằm chờ mãi mà chẳng thấy có cuộc xung phong nào xảy ra từ đối phương, dù bà Uyên luôn luôn nằm trong tình trạng ứng chiến 100%, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống khi chiến sự đòi hỏi khẩn trương từ phía bên kia. Theo bà Uyên quan niệm: Chiến thắng không có mồ hôi là chẳng lấy gì làm vinh quang, nhiều khi làm bà bực mình khi đối phương thình lình tuyên bố lịnh đình chiến giữa lúc ba quân đang lâm trận, phía bên kia đang sẵn sàng dàn quân quyết định ăn thua đủ. Tư Ếch vốn có nhiều kinh nghiệm trong trận mạc sau mấy mươi năm lăn lóc trên nhiều bãi chiến, dù thua trận nhưng luôn giữ tư cách, cũng cố gắng đánh trận coi cho được, nếu không đương cự lại thì nên lui về cố thủ chờ cơ hội phản công với câu tự an ủi:
Còn Trời, còn đất, còn non nước,
Chẳng lẻ ta đây mãi thế nầy.?
Trong vài đêm qua, bà cảm thấy hơi lo khi người chồng lý tưởng đủ mọi mặt đã trở nên bớt năng động với thế:
Anh đứng im lìm Thao diễn Nghỉ,
Em nằm xỏa tóc đợi chờ anh.
Tâm trạng thổn thức trong đêm mỗi lần có sự va chạm cơ thể, nhưng mặt trận vẫn yên tĩnh, là mối quan ngại vô cùng quan trọng cho bà, hy vọng sau thời kỳ thấm mệt, người chồng lý tưởng sẽ phục hồi năng lực, tiếp tục cuộc hành trình cho đến hết cuộc đời. Mang lại hạnh phúc trong cái thiên đàng nho nhỏ, thu gọn trong mái ấm gia đình nầy.
Thiên đàng không ở đâu xa,
Nó là hạnh phúc đôi ta đó mà.
Niết Bàn, cõi Chúa, Ta Bà,
Biết đời, biết sống, biết ta, biết người.
Xin ai luôn giữ nụ cười,
Thiên đàng ở đó, sao đời tìm xa.?
Hai tô mì nóng hổi bốc khói, có chứa đủ tất cả những chất dinh dưỡng cao bà Uyên dọn ra trên chiếc bàn nhỏ trong phòng ăn, cạnh cái quầy trong bếp, rồi cũng không quên chuẩn bị một ly nước soda quậy hột gà tươi với nửa trái canh, chút mật ong, được bà coi như thứ thần dược giúp cho chồng mau tỉnh dậy sau thời kỳ làm việc quá độ và ăn nhậu nhiều lần. Bà âu yếm nói với chồng:
- Anh qua đây ăn mì... em có pha ly nước soda hột gà, anh uống cho khỏe.
Tư Ếch nghe mùi thơm phức bốc lên qua làn hơi, thoang thoảng trong bầu không khí trong nhà bếp, lòng cảm thấy lâng lâng khi hiểu được cái thâm ý của người vợ già thân thương vô vàn kính yêu của mình. Cái ly nước soda pha hột gà tươi nầy là bài thuốc hồi lực chất lượng cao, nên bước qua với lời khen lấy lòng phản ảnh trung thực của tình nghĩa vợ chồng:
- Chà, em nấu mì chất lượng cao, đạt mục đích yêu cầu trong tình huống bồi dưỡng sức khỏe.
Bà Uyên đưa mắt nhìn chồng và hỏi:
- Ủa, anh cũng biết mì chất lượng sao?
Tư Ếch mỉm cười nói một hơi dài như để biện minh cho sự vô tình của mình:
- Anh bị mấy cái đài phát thanh ở Úc đầu độc nhiều năm qua bây giờ nhập tâm, thôi cố gắng bỏ... thiệt là tai hại, mình sửa lưng người ta nay bị bà xã sửa lưng lại. Từ ngữ tuyên truyền thiệt là nguy hiểm, nó ăn sâu vô óc lúc nào không hay.
Bà Uyên hỏi:
- Anh có dùng thêm chanh và ớt nữa không?
- Cứ mang ra đây...
Hai người bạn đường bắt đầu bổ sung chất bổ vào bao tử sau một ngày đi chơi, bỗng có tiếng chân ở cầu thang, bà Uyên đứng dậy:
- Cháu Đức dậy rồi đó à... cháu rửa mặt đi, dì nấu cho một tô mì.
Đức bước xuống nhà bếp:
- Cháu tính rủ dì dượng đi ăn sáng...
Bà Uyên nói:
- Ăn hoài tốn tiền, bữa nay ở nhà ăn mì. Dì nấu mì ngon số một, không thua gì nhà hàng...
Nghe đến hai chữ Nhà Hàng, Tư Ếch bỗng nhớ tới một tờ báo trong nước, có đăng một chuyện ngắn nhan đề: Đi ăn nhà hàng... nhưng vì người in ấn hay đánh máy lộn nên khi xuất bản, họ để là: Đi ăn nhà háng... thiệt là tai hại. Tiếng Việt rất lợi hại về dấu, chỉ đánh dấu lộn một cái là sai hết ý nghĩa. Nhưng so ra thì chuyện nhà hàng hay nhà háng ở Việt Nam cũng giống nhau thôi, nhà hàng phía trước bán đồ ăn, đàng sau là nơi để bán thứ khác, nên gọi là nhà háng cũng phản ảnh trung thực lối sinh hoạt đồi trụy, xã hội băng hoại không thuốc chữa của chế độ Cộng Sản. Ở Việt Nam ngày nay hết sức phức tạp, bừa bãi, chính cái xã hội chủ nghĩa bần cùng hóa nhân dân, vơ vét tận xương tủy đã phát sinh ra nhiều tệ trạng xã hội, lan rộng khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn. Ngày xưa, nghề lái xe Honda ôm lương thiện, do những người đàn ông kiếm sống bằng lối chở khách đi vào những con đường mà xe bốn bánh khó vô. Còn nghề bán bia ôm rất hạn chế, một cô gái hành nghề này thường bị xã hội lên án là đĩ thõa, mang danh là gái bán Ba. Nhưng ngày nay thì cái ôm đã được biến cải, sáng tạo sang nhiều lãnh vực làm ăn như: cà phê ôm, bia ôm, karoake ôm, xe đạp ôm, tắm biển ôm, ăn nhà hàng ôm, tắm hơi ôm và nhiều thứ ôm khác được người dân khai thác triệt để trong lãnh vực ăn chơi, thu hút khách ngoại quốc vào thâu ngoại tệ, trở thành thu nhập rất quan trọng cho chế độ Cộng Sản Việt Nam. Một trong những cách làm ăn không cần dùng nhiều sức là nghề có dính vô chữ ôm. Ôm cũng vinh quang như lao động, nhiều quán nhạc, nhà hànglàm ăn với món: gà móng đỏ đã làm ăn vô cùng khắm khá. Một số cô gái trẻ đẹp nhờ ôm mà may mắn vớ được vài tay Việt kiều mê gái, có khi là những ông già khú đế, hết xí quách mà vẫn còn máu dê, họ sẵn sàng bỏ vợ con ở nước ngoài, về đây bảo lãnh sau khi ôm vài lần mà mê mẫn tâm thần.
Nghề Ôm lợi lắm ai ơi!.
Là nghề không vốn mà lời gắp trăm.
Ôm ngồi, ôm đứng, ôm nằm,
Ôm ngoài đường phố, ôm thầm trong đêm.
Ôm hoài, tiền lại có thêm,
Vòng tay mơn trớn, êm êm móc tiền.
Nghề ôm phát triển mọi miền,
Nông thôn thành, làm tiền lai rai.
Nhờ đảng mới có ngày nay,
Khắp nơi ôm ấp, phát tài giàu to.
Nghề ôm cũng lắm công phu, nhưng cũng đầy may rủi. Người hành nghề nào may mắn thì cuộc đời vinh quang được xuất ngoại, sau nầy hy vọng có tiền giúp đỡ cha mẹ nghèo ở trong nước, tốt nhất là bảo lãnh luôn qua đoàn tụ. Tuy nhiên cũng có lắm cô gái kém may mắn, ôm hoài mà không khá, bao nhiêu tiền ôm khách bị xẻ năm, chia bảy cho chủ, công an, cán bộ và du đảng... nhiều khi ôm phải con siêu vi HIV, vướng phải SIDA là tàn đời.
Khi sống ôm khắp người ta,
Đến khi vướng AIDS ai mà ngó cho.
Còn ôm, kẻ đón người lo,
Hết ôm, mang bịnh co ro một mình.
Nghề ôm có hai mặt: lợi và hại, Việt Cộng gọi là: mặt mạnh và mặt yếu may rủi là thường, cũng như việc lấy chồng ngoại quốc, lấy Tây còn đỡ khổ hơn là vớ phải những ông chồng da vàng gốc Đại Hàn, Đài Loan là tàn cả cuộc đời xuân sắc. Bọn buôn người phối hợp chặt chẽ với đảng, nhà nước, lợi dụng sự nghèo khó của dân mà phát triển mạng lưới mại dâm quốc tế, qua sự ngụy tạo hôn phối... Nghề ôm là nghề không vốn, nhân dân nuôi con gái lớn lên để được đảng và nhà nước sử dụng làm công cụ, nhân dân chết mặc kệ, đảng cứ ngồi không mà hưởng lợi.
Người dân nghèo sáng tạo ra lối dùng mỹ nhân kế để phát triển kinh tế thị trường, nhưng phải bị lái sang định chế xã hội chủ nghĩa, nghĩa là đều phải được thông qua Công An Nhân Dân hay cán bộ nhà nước, từ trung ương đến địa phương. Theo một số người về nước du hí, du lịch, thăm quê hương, thì bây giờ ở Việt Nam có nhiều thứ nghề xuất phát từ chữ ôm, làm phá sản câu nói răn đời của Nho Giáo: Nam Nữ thọ thọ bất tương thân (nam nữ không được gần gũi nhau về thân xác). Lửa gần rơm không trầy thi trụa mà! Hồi xưa, quan niệm trai gái khắc khe, theo như cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu:
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu sửa mình.
Rồi trong quyển thơ Lục Vân Tiên, cụ đồ dùng câu nói của chàng thư sinh Lục Vân Tiên, sau khi cứu nàng Kiều Nguyệt Nga khỏi tay bọn gian để nói lên cái ý nghĩa đó:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Tư Ếch bỗng nhớ hồi xưa ở trong xóm có ông già Nho thứ thiệt tên là ông Ba, không ai biết tên thiệt là gì, chỉ có bên Ban căn cước Cảnh Sát mới biết rành về lý lịch. Nghe đồn ông học chữ Nho từ nhỏ, viết chữ tốt như rồng bay phượng múa, nhưng ít làm ra tiền vì thời đại Nho học đã đi qua. Nếu ông ta sinh ra vào thời Lý, Lê, Trần... lúc thái bình thạnh trị thì có khả năng phát triển tài năng, có khi đỗ cao đạt danh hiệu Trạng Nguyên, Thám Hoa, Bảng Nhãn, Tiến sĩ hoàng giáp vợ con đỡ biết mấy:
Vinh qui bái tổ về làng,
Võng anh đi trước võng nàng theo sau.
Thời Trần Tế Xương hay Nguyễn Khuyến cũng còn đỡ khổ, vậy mà cũng không khá nổi:
Cái học ngày nay đã hết rồi,
Mười người đi học chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim nhim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.
(thơ của Trần Tế Xương)
Còn thời đại sau nầy, tiếng quốc ngữ theo mẫu tự La Tin được sử dụng khắp nơi dễ học, dễ viết, được chính phủ dùng trong văn thư hành chánh lẫn tiếng nói. Cho nên trình độ chữ Nho của ông Ba coi như mai một, ít khi giúp ích gì cho xã hội, ngoại trừ được mời vô giảng dạy tại các trường đại học văn khoa về môn cổ ngữ, Hán Tự, hay dịch sách... Ở nhà làm thơ nói Nho, để vợ con đi làm ruộng vất vả, đúng là danh Nho chưa gập vận. Mỗi khi trong xóm làng có ai chết là mời ông tới vẽ mấy câu liễng, trà tiền. Đám cưới cũng nhờ, tết thì làm ăn khá hơn, nhiều nhà tới năn nỉ đặt vài câu cho hên đầu năm. Là nhà Nho chánh cống, nên mấy đứa con gái của ông ít ai dám rớ, mỗi lần có chàng trai nào vo ve là bị ông ngăn cấm, lên lớp về những bài học của Thánh hiền ở tận bên nước Trung Hoa. Một hôm ở chung nhà có bà chị vợ, lớn hơn bà vợ ông chỉ có một tuổi, nhan sắc cũng không thua gì vợ ông, một chín một mười nhưng không có chồng, ở vậy với em vì cha mẹ qua đời. Nếu là người thường, không phải là người Hán Thâm (ngoai trừ người Háng Thâm) thì hay có chuyện dòm ngó, đưa tình liếc mắt với chị dâu cho vui cửa vui nhà. Nhưng ông thầy đồ Nho nầy không bao giờ có bất cứ lời nói, hành vi nào tầm bậy, một mực tôn kính chị vợ, theo đúng lễ nghi người học sách thánh hiền. Ai cũng khen là nhà đạo đức khả kính. Hôm nọ vợ con đi vắng, chỉ còn một mình ông với bà chị vợ, bà chị vợ đi múc nước ở cái giếng sau nhà, lỡ trợt giò té xuống. Ông Ba biết được vội chạy ra, bà chị vợ bị vọp bẻ nên chìm xuống ao, ông đồ nhà ta chạy đi kiếm cây để cứu, khi kiếm được thì bà chị đã chết ngủm. Xóm làng chạy tới coi trách ông Ba sao quá tệ, không nhảy xuống ao cứu người chị vợ. Để biện minh cho tinh thần Nho giáo giữ đạo vuông tròn, trước sau như một, dù cho người có chết cũng cam. Ông đọc hai câu thơ để hỏi những người thắc mắc như sau:
Nghe đồn anh giỏi chữ Tàu,
Chị dâu anh té giếng, cách nào anh vớt lên?
(xem tiếp kỳ sau)