Tín nhiệm và bất tín nhiệm quốc hội
đối với chính quyền trong đại nghị chế
Nguyễn Học Tập
I - Quốc Hội định hướng và bảo đảm chính hướng Quốc Gia.
Phương thức tổ chức Quốc Gia Đại Nghị Chế được phát xuất từ Anh Quốc trong thế kỷ 18 rồi dần dần lan rộng ra khắp Âu Châu lục địa.
Nói một cách tổng quát, người ta có thể nói các Quốc Gia Âu Châu đều là các Quốc Gia Đại Nghị Chế, từ Quân Chủ Lập Hiến, qua Bán Tổng Thống Chế Pháp Quốc đến Đại Nghị Chế đơn thuần như Cộng Hoà Liên Bang Đức và Ý Quốc (Biscaretti di Ruffìa, Introduzione dal Diritto Costituzionale Comparato, VI ed., Giuffré, Milano 1988).
Mỗi Quốc Gia có phương thức tổ chức khác nhau, nhưng tựu trung Đại Nghị Chế của các Quốc Gia Âu Châu hiện đại, khác với các hình thức Chính Quyền Dân Chủ cổ điển, bởi một đặc tính: đó là mối tương quan tín nhiệm liên kết Quốc Hội dân cử đối với Chính Quyền.
Bởi đó Chính Quyền phải được Quốc Hội dân cử
- đồng thuận tín nhiệm mới có thể khởi đầu các hoạt động chính trị và quản trị hành chánh của mình
- và luôn luôn phải vẫn được Quốc Hội dân cử tín nhiệm, đại diện cho tiếng nói và ý muốn của dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia, đối với Chính Quyền trong cả nhiệm kỳ, mới còn chính danh và hợp pháp tại vị để hành xử trách nhiệm được ủy thác:
- "Chính Quyền phải được cả Lưỡng Viện Quốc Hội tín nhiệm".
"Trong vòng mười ngày sau khi được thành lập, Chính Quyền phải trình diện trước Quốc Hội Lưỡng Viện để được Quốc Hội tín nhiệm" (Điều 94, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
- "Thủ Tướng và các Bộ Trưởng Liên Bang, theo điều 56 tiền định, phải tuyên thệ trước Hạ Viện (Bundestag) khi đảm nhận chức vụ" (Điều 64, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Ý nghĩa của hai điều khoản Hiến Pháp vừa trích dẫn cho thấy
- Quốc Hội có quyền duyệt xét đường lối chính trị Quốc Gia, chương trình hành động, quản trị và tài chánh của Chính Quyền để thực hiện mục đích được phát hoạ,
- Quốc Hội có thể thu góp các yếu tố kiểm soát chính hướng cũng như hiệu năng, để có thể quy trách cho Chính Quyền qua lá phiếu bất tín nhiệm của mình,
- Chính Quyền bị bắt buộc phải từ chức, với lá phiếu bất tín nhiệm của Quốc Hội, bởi lẽ giữa hai cơ chế Quốc Gia không còn hội đủ mối tương quan tín nhiệm hiến định.
Các Quốc Gia Đại Nghị Chế với đặc tính chung vừa kể, mối tương quan tín nhiệm liên kết Quốc Hội dân cử đối với Chính Quyền, được tổ chức khá khác biệt nhau, mỗi tổ chức tùy theo kinh nghiệm đã trải qua, hoàn cảnh và nhu cầu của mình, đều tìm cách viết thành văn bản trong Hiến Pháp luật lệ theo truyền thống, tập tục của Anh Quốc (Common Law) để áp dụng. Hay nói theo ngôn từ của Bán Tổng Thống Chế Pháp Quốc, đó là phương thức Đại Nghị Chế " hợp lý " (Parlamentarisme rationalisé), nhằm
- bảo đảm cho Chính Quyền được bền vững, tránh quá nhiều cuộc khủng hoảng làm Chính Quyền lúc nào cũng bấp bênh, không có đủ sức mạnh và thời gian cần thiết để thực hiện được các biện pháp, đồ án, chương trình nhằm đạt tới, " lá phiếu bất tính nhiệm xây dựng" (konstruktiv Misstrauenvotum), (điều 67 và 68 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) là một ví dụ (cfr: Đại Nghị Chế Bền Vững, Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Không phải Quốc Hội ngồi chơi rung đùi, lúc nào nổi hứng, muốn tín nhiệm hay bất tín nhiệm Chính Quyền cũng được, " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" vừa kể của điều 67 và 68 Hiến Pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức là một phương thế tiền liệu khôn ngoan (cfr. Chính Quyền Cộng Hoà Liên Bang Đức, Phương Thức Cho6'ng Độc Tài Và Bất Ổn).
- tăng trưởng đặc tính dân chủ, bằng cách giao cho Quốc Hội dân cử, tiếng nói đại diện của mọi thành phần dân chúng, đa số cũng như thiểu số đối lập, thiết định, xác nhận và kiểm soát tiến trình thực hành đường lối chính trị Quốc Gia của Chính Quyền, từ lúc Chính Quyền vừa được thành lập cũng như trong lúc hành xử quyền lực Quốc Gia (T. Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, 199-200).
Với phận vụ như vừa kể của Quốc Hội trong Đại Nghị Chế, Hiến Pháp dành cho Quốc Hội quyền
- trực tiếp tuyển chọn Chính Quyền (điều 94 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), hay trực tiếp tuyển chọn vị Thủ Tướng Chính Phủ (điều 63, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Công Hoà Liên Bang Đức), theo lời đề cử của Tổng Thống.
- đồng ý " chuẩn y" chính hướng được Chính Quyền đề nghị, thay đổi đồ án, chương trình thực hiện và giới hạn quyền hành của Chính Quyền qua việc bỏ phiếu tín nhiệm hay bất tín nhiệm.
- kiểm soát hoạt động thực hành chính hướng đã được xác định và hiệu lực động tác thi hành của Chính Quyền, bằng Ủy Ban Giám Sát Quốc Hội (điều 82, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc; điều 44 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
- phát động việc xử dụng rộng rãi dân chủ trực tiếp, bằng các cuộc trưng cầu dân ý (referendum), ở Ý Quốc cả các Cộng Đồng Địa Phương Vùng hay 500.000 cử tri cũng có quyền đề xướng (điều 75, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Tất cả những yếu tố vừa kể đều dựa trên điều kiện không thể thiếu trong Quốc Hội, đó là Quốc Hội được cấu tạo bằng một đa số vững mạnh và đồng nhứt, chú tâm đến nhu cầu của đất nước, kể cả nhu cầu của thiểu số dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia.
II - Quốc Hội bảo đảm dân chúng tham dự thiết thực vào cuộc sống Quốc Gia.
a) Quốc Hội tuy vậy, qua những phương thức chuyến hoá, biến Đại Nghị Chế nguyên thủy của Anh Quốc thành các Đại Nghị Chế " hợp lý" (rationalisés) của Âu Châu Lục đia, phát xuất từ nguyên tắc nền tảng là mối tương quan tín nhiệm giữa Quốc Hội và Chính Quyền, các tổ chức Đại Nghị Chế Âu Châu lục địa cũng chưa bảo đảm được cho người dân " thiết thực tham dự " đầy đủ vào cuộc sống Quốc Gia, nhứt là vào việc tham dự thiết định và hướng dẫn để thực hiện đường lối chính trị, cùng đích của tổ chức Quốc Gia:
- "Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chứng ngại trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép
* mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình
* và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Bởi đó, muốn cho người dân " tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở", Hiến Pháp phải tiền liệu những phương thức khác, trục tiếp hơn để người dân được hưởng " tự do tích cực" (liberté à...).
Và đó là những gì chúng tôi đã có dịp đề cập đến trong bài (cfr Dân Chủ, Dân Chủ Thực Hữu Và Tự Do Tích Cực), tưởng chỉ nên nhắc lại ở đây một vài phương thức trực tiếp đó, tham dự nhờ các tổ chức xã hội trung gian.
Đó là điều Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đứng ra tiền liệu, nhìn nhận vai trò quan trọng trong Cộng Đồng Quốc gia của
- các chính đảng:
* "Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" (Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),
- các tổ chức công đoàn:
* "Tổ chức công đoàn được tự do. Các công đoàn được ghi nhận đều có tư cách pháp nhân..." (Điều 39, id.).
- gia đình:
* "Nền Cộng Hoà nhận biết các quyền của gia đình như là một tổ chức xã hội tự nhiên, được đặt nền tảng trên hôn nhân" (Điều 29, id.).
* "Nền Cộng Hoà dành mọi phương tiện dễ dàng và các phương thức tiền liệu khác để gia đình được thành lập và chu toàn các bổn phận liên hệ của mình, đặc biệt đối với những gia đình đông con" (Điều 31, id.).
- học đường:
* "Học đường được mở ra cho tất cả. Nền học vấn ở bậc thấp, được giảng dạy tám năm (12 năm với tu chính án 1990) miễn phí và bắt buộc" (Điều 34, đoạn 1, id.).
- tôn giáo:
* "Mọi tổ chức tôn giáo đều tự do như nhau trước pháp luật " (Điều 8, đoạn 1, id.).
Nói tóm lại để tạo điều kiện thực hữu (conditions subtantielles) cho người dân được
* tham dự thiết thực vào cuộc sống Cộng Đồng
* và vào việc góp ý kiến, thiết định và thực hiện đường lối chính trị Quốc Gia, thay vì chỉ nêu lên quyền tự do thuyết lý (liberté formelle), các Quốc Gia Đại Nghị Chế Tây Âu nhận biết vai trò quan trọng của các tổ chức xã hội trung gian (chính đảng, công đoàn, hiệp hội kinh tế và nghề nghiệp, gia đình, học đường, tôn giáo và cả các tổ chức Cộng Đồng Địa Phương Vùng, Tỉnh, Quân, Xã Ấp...), để tích cực bổ khuyết cho cơ chế Quốc Gia.
Cũng vậy, các cơ chế Quốc Gia có thể bảo đảm cho người dân thực sự tham dự một cách tự do và bình đẳng vào cuộc sống và chính hướng Quốc Gia, nếu bên cạnh những cơ chế cố hữu của Quốc Gia (lập pháp, hành pháp, tư pháp), Quốc Gia còn phải tổ chức sao để người dân có được tự do và bình đẳng thực hữu (liberté et égalité substantielles), bằng cách loại bỏ đi các di biệt về kinh tế và xã hội (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý quốc).
Để bảo đảm cho các mục đích được nêu trên, các Quốc Gia Đại Nghị Chế nhìn nhận Quốc Hội, cơ quan dân cử, là tiếng nói bảo đảm cho đinh hướng cuộc sống dân chủ Quốc Gia:
- "Chính Quyền phải được sự tín nhiệm của cả Quốc Hội Lưỡng Viện" (Điều 91, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Và những đoạn kế tiếp của cùng một điều khoản thiết định thể thức để Lưỡng Viện Quốc Hội đồng thuận tín nhiệm hay bất tín nhiệm Chính Quyền.
Kế đến, điều 95 tiều liệu hậu quả của mối tín nhiệm được thiết lập giữa Quốc Hội và Chính Quyền, cũng như tiền liệu trách nhiệm của Thủ Tướng Chính Phủ và các Bộ Trưởng trước Quốc Hội:
- "Thủ Tướng Chính Phủ hướng dẫn đường lối chính trị chung của Chính Quyền và chịu trách nhiệm tác động của mình. Giữ sự hiệp nhứt đường lối chính trị và quản trị, bằng cách cổ vỏ và phối hợp hoạt động của các Bộ Trưởng.
Các Bộ Trưởng có trách nhiệm tập thể về các hoạt động của Nội Các Chính Phủ, và có trách nhiệm cá nhân về hoạt động của Bộ mình đặc trách" (Điều 95, đoạn 1 và 2, id.).
b) Hiến Pháp 1947 Ý Quốc không giao cho Tổng Thống các quyền liên hệ đối với chính hướng Quốc Gia, cho thấy các quyền vừa kể được tập trung vào mối tương quan liên hệ giữa Quốc Hội và Chính Quyền.
Tuy vậy, Tổng Thống cũng có thể ảnh hưởng đến đường lối chính trị Quốc Gia bằng nhiều cách, bằng việc hành xử các quyền được Hiến Pháp dành cho mình.
Tổng Thống có khả năng kích tích cũng như hảm thắng Quốc Hội trong tiến trình định hướng, kiểm soát thực thi đường lối chính trị Quốc Gia. Tổng Thống cũng là cơ quan bảo vệ Hiến Pháp, cùng với Viện Bảo Hiến:
- "Tổng Thống có thể gởi sứ điệp đến Lưỡng Viện Quốc Hội.
Cho phép Chính Quyền có sáng kiến đệ trình dự án luật đến Quốc Hội.
Công bố các đạo luật và ban hành các sắc luật có hiệu lực luật định và các điều lệ" (Điều 87, đoạn 2, 4 và 5, id.).
Các quyền hạn được ủy nhiệm cho Quốc Hội như vừa kể, đặt quốc Hội ở vị thế trung tâm điểm của định chế Quốc Gia, đó là những gì phán quyết của Viện Bảo Hiến năm 1959 (Cote cost., sent. n. 154, del 1959).
Quốc Hội tham dự tích cực vào việc hướng dẫn đường lồi chính trị Quốc Gia, với một loạt các động tác để
- xác định các mục đích tổng quát
- thiết định những yếu tố và điều kiện cá biệt để đạt được,
- nguồn tài trợ cần thiết và các tổ chức chuyên biệt cho mục đích.
Ngoài ra Quốc Hội, không những đưa ra chỉ thị để Chính Quyền thi hành, mà còn có các động tác kiểm soát đường lối và phương cách thực hiện của Chính Quyền:
- "Mỗi Viện Quốc Hội có quyền thực hiện những động tác kiểm soát về những vấn đề liên quan đến công ích.
Để thực hiện mục đích vừa kể, Viện bổ nhiệm giữa các thành viên của mình một Ủy Ban, được thiết lập thế nào để thể hiện tỷ lệ giữa các nhóm thành viên. Ủy Ban Kiểm Soát tra cứu và duyệt xét bằng cách quyền hạn và giới mức của quyền tư pháp" (Điều 82, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
c) Còn nữa, trong một Quốc Gia tản quyền từ trung ương đến nhiều từng lớp dân chúng địa phương (Vùng, Tỉnh, Quận, Xã Ấp, nhiều khi đến cả Khu phố (quartiere) trong Thị Xã), cũng như đến nhiều tổ chức xã hội trung gia (chính đảng, cộng đoàn lao động, hiệp hội nghề nghiệp, tôn giáo...), Quốc Hội là trụ sở đại diện để
- thu nhận,
- tổng hợp,
- chọn lựa nhu cầu và ước vọng của nhiều từng lớp dân chúng khác nhau.
Quốc Hội trong Đại Nghị Chế được quan niệm không còn chỉ là cơ quan trong cơ chế Quốc Gia (lập pháp, hành pháp và tư pháp), mà còn là cơ quan đại diện cho nhu cầu và ước vọng của dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia (D'Onofrio, La Centralità del Parlamento e le " tre letture della Costituzione", n Studi parlam. e di pol. cost., 1977, 1s).
Quốc Hội với cấu trúc và phương thức hành động của mình trong một xã hội đa dạng, là nơi quy tựu các ý kiến, ước vọng của xã hội dân sự, khai triển, tuyển chọn và đúc kết tùy theo bậc thang giá trị được Hiến Pháp xác nhận bảo vệ và phát huy, trong mối tương giao đối thoại giữa các chính đảng và theo thể thức Hiến Pháp và luật pháp cho phép, ngay cả việc bảo vệ giá trị của thành phần thiểu số đối lập.
III- Tín nhiệm và bất tín nhiệm.
Với các mục đích được liệt kê ở trên và phận vụ được Hiến Pháp ủy thác như vừa kể, Hiến Pháp thiết định mối tương quan giữa Quốc Hội và Chính Quyền trong Quốc Gia Đại Nghị Chế:
- "Trong vòng mười ngàỳ, sau khi được thành lập, Chính Quyền phải trình diện trước Quốc Hội Lưỡng Viện để được tín nhiệm" (Điều 94, đoạn 3, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Trong vòng 10 ngày sau khi được thành lập, tuyên thệ trước Tổng Thống, Vị Nguyên Thủ Quốc Gia, Chính Quyền được Thủ Tướng đại diện phải trình diện trước Quốc Hội Lưỡng Viện, trình bày chính hướng Quốc Gia và chương trình hành động mà Chính Quyền có ý định thi hành cho Đất Nước.
Kế đến là những cuộc bàn thảo trong Quốc Hội về những lời tuyên bố vừa kể và phiên họp được kết thúc bằng lời tuyên bố Quốc Hội tín nhiệm hay không tín nhiệm Tân Chính Phủ.
Lời tuyên bố tín nhiệm hay bất tín nhiệm là kết quả của cuộc bỏ phiếu có lý chứng và xướng danh (voto nominale) của từng là phiếu các thành viên:
- "Mỗi Viện Quốc Hội chấp thuận hay thu hồi tín nhiệm qua lời tuyên bố với lý do và cuộc bỏ phiếu xướng danh"(Điều 94, đoạn 2, id.).
* lời tuyên bố có lý chứng: bởi vì Viện Quốc Hội phải giải thích lý do tại sao Viện đồng thuận hay bất đồng với đường lối và chương trình hành động cho Đất Nước và đồng thời xem những lý do đó là điều bắt buộc Chính Quyền phải tuân theo, khi thực hiện đồ án dự định.
* lá phiếu xướng danh: để làm cho lá phiếu được công chúng biết ai là chủ nhân, dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia biết rõ chính hướng của ai bỏ phiếu, nhứt là vị dân biểu bỏ phiếu đó thuộc chính đảng nào với trách nhiệm của cá nhân và chính đảng đó đối với Đất Nước và như vậy cử tri sẽ có cách hành xử tương ứng đối với chính đảng và cá nhân đó trong kỳ bỏ phiếu tới (Massimo Villone, Commentario della Costituzione, art 94, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna - Roma 1994, 273).
Lá phiếu bất tín nhiệm:
Quốc Hội có thể chấm dứt mối liên hệ hậu thuẩn cho Chính Quyền bằng lá phiếu bất tín nhiệm.
Ở Ý cũng như ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, chỉ cần một Viện Quốc Hội (ở Đức, Hạ Viện (Bundestag), bất tín nhiệm, là Chính Quyền bắt buộc phải từ chức (mặc dầu ý nghĩa và cấu trúc của hai Quốc Gia có phần khác nhau):
- "Chính Quyền phải được Quốc Hội Lưỡng Viện tín nhiệm" (Điều 94, đoạn 1, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Muốn đưa đến việc Viện Quốc Hội bàn thảo và đưa ra lời tuyên bố có lý chứng và biểu quyết bằng lá phiếu xướng danh bất tính nhiệm, vấn đề phải được ít nhứt 1/10 số dân biểu thành viên của Viện yêu cầu đem ra bàn thảo và lời yêu cầu không được Viện cứu xét trước ba ngày, sau ngày được đệ trình (Điều 94, đoạn 5, id.).
Các điều kiện vừa kể được tiền liệu để
- tránh cho thành phần đối lập tấn công bất ngờ
- và biểu quyết của Viện là biểu quyết có suy nhgĩ và thể hiện ý muốn của đa số (Virga Pietro, La Crisi e le dimissioni del Gabinetto, Giuffré, Milano 1948).
Và bởi vì lá phiếu bất tín nhiệm có liên hệ đến cả đường lối và chương trình hoạt động của Chính Quyền, và lá phiếu bất tín nhiệm chỉ là kết quả của quyết định có lý chứng và với lá phiếu xướng danh, nên quyết định không đồng thuận của Viện Quốc Hội về một đề nghị của Chính Quyền, không bắt buộc Chính Quyền phải từ chức:
- "Biểu quyết bất đồng của một hay cả hai Viện Quốc Hội về một đề nghị (một dự thảo) của Chính Quyền, không bắt buộc Chính Quyền phải từ chức" (Điều 94, đoạn 4, id.).
Bất tín nhiệm đối với một vài Bộ Trưởng.
Nhưng nếu một hay một vài Bộ Trưởng không hành xử hợp với chính hướng và chương trình mà Thủ Tướng, thay mặt Nội Các Chính Phủ, trình bày trước Quốc Hội để được tín nhiệm thì sao?
Đối với Cộng Hoà Liên Bang Đức, vấn đề vừa kể không cần đặt ra, bởi lẽ Hiến Pháp 1949 đã tiền liệu:
- "Các Bộ Trưởng Liên Bang được Tổng Thống bổ nhiệm và thu hồi chức vụ theo lời đề nghị của Thủ Tướng" (Điều 64, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Điều vừa kể có nghĩa là nếu một Bộ Trưởng có cách hành xử vô trách nhiệm, đi ngược lại đường lối chính trị, thiên vị, thiếu hiệu năng, không biết điều khiển và kiểm soát hoạt động của Bộ thuộc thẩm quyền mình, Thủ Tướng Liên Bang có thể đề nghị Tổng Thống thu hồi chức vụ.
Bởi lẽ hành vi của ông ta không phải chỉ " làm mất mặt " cá nhân đương sự hay của Bộ liên hệ, mà còn phương hại đến cả đường lối và chương trình hành động chung của Nội Các Chính Phủ mà Thủ Tướng đứng ra phát hoạ và bảo đảm với Hạ Viện Liên Bang (Bundestag), khi đến trình diện xin được Hạ Viện tín nhiệm tuyển chọn (Điều 63, id.).
Nói một cách ngắn gọn, Thủ Tưóng Liên Bang có quyền và bổn phận truất phế ông Bộ Trưởng đương cuộc, vì lợi ích của cả chương tình hành động chính trị chung, vì lợi ích chung của cả Quốc Gia và thay một nhân vật khác vào để kiện toàn lại chính hướng, đồ án và chương trình thực hiện của Chính Quyền.
Vấn đề đối với Hiến Pháp 1947 Ý Quốc càng được trình bày rõ ràng hơn nữa, trong ý nghĩa của điều 94 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc:
- "Chính Quyền phải được Lưỡng Viện Quốc Hội tín nhiệm"
Cuộc bỏ phiếu ngược lại của môt hay của cả hai Viện, bắt buộc Chính Quyền phải từ chức" (Điều 94, đoạn 1 và 4 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Như vậy, vấn đề tín nhiệm hay bất tín nhiệm của Quốc Hội đối với Chính Quyền trong Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, không phải là là tín nhiệm hay không, quy trách vào cá nhân vị Thủ Tưóng, người lãnh đạo Nội Các Chính Phủ, mà là đối với cả Nội Các liên quan đến đường lối chính trị Quốc Gia, chương trình, phương thức và hiệu năng hoạt động đạt được mục đích trong định kỳ mà Thủ Tướng, thay mặt Nội Các, đã cam kết với Quốc Hội, được Quốc Hội tín nhiệm, cho phép bắt đầu hoạt động.
Hiểu như vậy, cách hành xử vô trách nhiệm của một Bộ Trưởng liên hệ (và của Bộ thuộc thẩm quyền của ông), là cách hành xử lệch lạc, nếu không muốn nói là làm đổ nát, chương trình chính trị hoạt động đem lại lợi ích cho Quốc Gia, Quốc Hội đã tín nhiệm ủy thác cho Chính Phủ, mà ông là thành viên thuộc hệ..
Bởi đó ở Ý Quốc, Quốc Hội đặt ông Bộ Trưởng đương cuộc trước trách nhiệm đối với đường lối chính trị, đồ án và chương trình thực hiện của cả Nội Các Chính Phủ, như những gì Hiến Pháp đã tiền liệu:
- "Các Bộ Truởng có trách nhiệm tập thể đối với các hoạt động của Nội Các Chính Phủ và trách nhiệm cá nhân đối với các hoạt động của Bộ thuộc hệ của mình" (Điều 95, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Với những lý lẽ vừa kể, chính Quốc Hội có quyền trực tiếp bất tín nhiệm cá nhân ông Bộ Trưởng hành động vô trách nhiệm, làm đổ vỡ chương trình hoạt động của Chính Quyền, khiến cho Thủ Tướng Chính Phủ phải tiên liệu thu hồi chức vụ của ông trước và thay thế bằng một Bộ trưởng khác, thiết lập lại đường lối chính trị đã được tuyên hứa với Quốc Hội, nếu không muốn Quốc Hội bỏ phiếu " có lý chứng" và " xướng danh" (điều 94, đoạn 2, id.), để bất tín nhiệm cả Chính Phủ (Temistocles Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, 503-504).
Dân chủ của thiên hạ là vậy!
Dân chủ không có nghĩa là những kẻ có quyền bính trong tay muốn hành xử thế nào tùy hỷ, đàn áp lên đầu lên cổ ai cũng được, làm hay không làm cũng được, mọi chuyện đều có các đồng chí cấp trên, Đảng và Nhà Nước bao che, mà là
- "Các công sở phải được tổ chức theo định chế luật pháp, thế nào để nền hành chánh bảo đảm được hoạt động trôi chảy và không thiên vị " (Điều 97, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Bao giờ còn có Đảng và Nhà Nước bao che, đạo luật Hiến Pháp trên là câu nói vô nghĩa.
Nói cách khác, hành động bao che, bao cấp của " Đảng và Nhà Nước mình" cho đàn em thuộc hạ, cởi lên đầu lên cổ ai cũng được, làm hay không cũng được, là hành động vi hiến đối với một Quốc Gia dân chủ văn minh.
Nguyễn Học Tập
|