Con người trong hiến pháp Cộng Hoà Liên Bang Đức
Nguyễn Học Tập
I - Bối cảnh thành lập.
Hiến Pháp 1949 của Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng như Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, gần như sinh đôi trong cùng thời gian sau Thế Chiến Thứ Hai, là hai Hiến Pháp được viết ra cùng với những di sản thừa kế, kinh nghiệm và hoàn cảnh tương tợ nhau.
Trước hết các vị soạn thảo Hiến Pháp Ý cũng như các vị trong Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp tại Herrenchiemsee của Hiến Pháp 1949 CHLBD là những vị đều được hưởng di sản của tinh thần dân chủ, nhân bản của Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776 và Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân Cách Mạng Pháp 1789.
Và sau đây là kho tàng nhân bản của hai bản Tuyên ngôn vừa kể:
''Tất cả mọi người được dựng nên bình đẳng như nhau.
Tất cả đều được Đấng Tạo Hoá ban cho một số quyền bất khả nhượng.
Trong các quyền nầy, quyền được bảo toàn mạng sống, quyền tự do tìm kiếm hạnh phúc là những quyền thượng đẳng..."'' (Tiền Đề Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ 1776)
"..Các Đại Diện đồng thanh tuyên bố rằng các quyền của con người do Thiên phú, bất khả nhượng và cao quý...'' (Tiền Đề Tuyên Ngôn Nhân quyền và quyền Công Dân Cách Mạng Pháp Quốc 1789).
Cả hai Hiến Pháp đều được soạn thảo chỉ một vài năm sau Đệ Nhị Thế Chiến, vừa thoát khỏi ách độc tài toàn trị của thể chế Phát Xít Ý, cũng như bàn tay sắt máu Đức quốc Xã của Hitler, trong đó con người bị coi như rơm rạ.
Hơn nữa, nếu Ý đã được quân đội đồng minh giải phóng ngày 25.4.1945, thì Đức Quốc sau Thế chiến Thứ Hai với phân nửa phần đất còn bị quân đội đồng minh chiếm giữ, phân nửa kia bị lệ thuộc ảnh hưởng của khối CS Nga.
Bởi đó, nếu Hiến Pháp của Cộng Hoà Dân Chủ Ý tuyên bố
''... nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người..."(Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),
đặt con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm của tổ chức Quốc Gia, con người và các quyền căn bản liên hệ mật thiết với bản thể con người có trước Quốc Gia, Quốc Gia " nhận biết " (riconosce) là thái độ dứt khoát chống lại ý thức hệ Phát Xít, thì Hiến Pháp 1949 CHLBĐ long trọng tuyên bố:
'' Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó.'' (Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức),
và kế đến liệt kê các quyền tự do bất khả xâm phạm của con người và tiên liệu các phương thức để bảo đảm cho việc thực thi các lời tuyên bố, có giá trị như là những đạo luật, để đoạn tuyệt với quá khứ độc tài hãi hùng của Hitler và cũng để tách biệt khỏi chủ nghĩa phi nhân bản của CS Nga vừa được thiết lập trên các Quốc Gia Đông Âu và trên một nửa phần đất của quê hương mình.
Đó là những điều chúng tôi muốn cùng quý bạn đọc suy nghĩ, mơ ước cho tương lai đất nước chúng ta.
II - 1) Địa vị con người trong Hiến Pháp 1949 CHLBĐ.
Ở những dòng trên, chúng tôi vừa trích dẫn tư tưởng về địa vị con người, được Tiền Đề hai bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và Cách Mạng Pháp đề cập đến.
Sở dĩ địa vị con người được các bản Tuyên Ngôn vừa kể đề cập ở phần Tiền Đề, là để nói lên tính cách long trọng của lời tuyên bố.
Những lời nói đầu tiên của bản Tuyên Ngôn nói lên tính cách quan trọng của đề tài, mà bản Tuyên Ngôn muốn đề cập đến, như là những nguyên tắc tối quan trọng, làm cho mọi người phải đặc tâm lưu ý.
Cũng cùng một tư tưởng vừa kể, Hiến Pháp 1958 hiện hành Pháp Quốc đề cập đến địa vị con người ở phần Tiền Đề bằng cách nhắc lại Tiền Đề Hiến Pháp 1946 trước đó và tinh thần của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân của Cách Mạng 1789:
''Dân tộc Pháp long trọng tuyên bố trung thành với các quyền con người và các nguyên tắc tối thượng quốc gia, được bản Tuyên Ngôn 1789 định nghĩa và được Hiến Pháp 1946 xác nhận ở Tiền Đề'' (Tiền Đề Hiến Pháp 1958 Pháp Quốc).
Với một lối suy tư khác và nhằm vào hiệu lực hơn là hình thức long trọng hay kém long trọng, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ cũng như Hiến Pháp 1947 Ý đã không đặt phần liên quan đến con người và các quyền căn bản bất khả xâm phạm ở phần Tiền Đề của Hiến Pháp.
Phần liên hệ vừa kể đã được các vị đưa thẳng vào thân bài của Hiến Pháp, được đặt vào vị trí quan trọng, ngay ở những dòng đầu củ thân bài (từ điều 1-19, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ; 2-54 Hiến Pháp 1947 Ý) và được tuyên bố như là những điều khoản có giá trị luật định hay như luật thực định (lois positives) cần phải được tôn trọng.và có hiệu lực bắt buộc phải thi hành (Pier Giorgio Lucifedi, appunti di Diritto Costituzionale Comparato, IV vol, 5ổed., Giuffré, Milano 1992, 17).
Vị trí nổi bậc trong văn bản Hiến Pháp được các vị soạn thảo dành cho địa vị con người (từ điều 1-19), trước khi định nghĩa thể chế quốc gia, trên đó Cộng Hoà Liên Bang Đức sẽ được xây dựng (điều 20), nói lên rằng dân tộc Đức có ý dùng các điều khoản '' luật hiến pháp'' về địa vị tối thượng của con người trong tổ chức quốc gia để làm nền tảng, trên đó sẽ xây dựng quốc gia:
''...như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới''(Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Viên đá làm nền tảng cho cả toà nhà Hiến Pháp 1949 CHLBĐ là điều khoản mà chúng tôi muốn được cùng các bạn chiêm ngưỡng tiếp theo đây:
'' Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực quốc gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó.
Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới.
Các quyền căn bản được kể sau đây có hiệu lực đối với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như là là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp'' (Điều 1, đoạn 1, 2 và 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, CHLBD).
Trước hết câu văn ngắn ngủi ở đoạn 1," Phẩm giá con người bất khả xâm phạm.", không phải là một lối viết thô lỗ, cộc lốc, mà là hình thức ngắn gọn của câu văn để nói lên sức mạnh của ý muốn mệnh lệnh tính (préceptive).
Đức Quốc Xã dưới thời Hitler chà đạp nhân phẩm con người như thế nào, thì đây là câu văn dứt khoát ra lệnh đoạn tuyệt với quá khứ đen tối đó của nước Đức và đồng thời cũng là một lời tuyên bố lý tưởng và lòng tin, tách biệt đối với chủ thuyết phi nhân bản của CS Nga, đang bắt đầu đè nặng trên các phần đất do họ chiếm đóng.
Là một mệnh lệnh có giá trị phổ quát đối với bất cứ ai, ở bất cứ thời đại nào và bất cứ phần đất nào trên thế giới.
Đó là giá trị của câu tuyên bố ngắn gọn vừa được trích dẫn.
Các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đã không dùng những mệnh đề như
- "Trên lãnh thổ Đức Quốc phẩm giá con người bất khả xâm phạm" hoặc
- "Đối với dân tộc Đức phẩm giá con người bất khả xâm phạm",
để giới hạn việc tôn trọng con người chỉ có giá trị trong khuôn viên lãnh địa Quốc Gia Đức hoặc chỉ đối với người Đức.
Câu tuyên ngôn ngắn gọn có sức mạnh là một mệnh lệnh.
Ai đi sai, chống lại mệnh lệnh đó, là làm tổn thương đến lý tưởng và niềm tin của dân tộc Đức, xúc phạm đến những nguyên tắc nền tảng trên đó người Đức xây dựng Quốc Gia họ (Pier Giorgio Lucifredi, id., 31-32), là chắc chắn những người không thể có cuộc sống " hoà bình và công chính" đối với họ:
"Như vậy dân tộc Đức nhìn nhận các quyền căn bản bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới ".
Kế đến, như chúng tôi có dịp đề cập ở những dòng đầu của bài nầy là thay vì tuyên bố những tư tưởng liên quan đến địa vị con người ở phần Tiền Đề, như các bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Quyền Công Dân 1789 Cách Mạng Pháp hay các bản Hiến Pháp của Pháp Quốc 1946 và 1958, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đặt các tư tưởng trên thành những đạo luật có tính cách bắt buộc phải tuân hành vào phần thân bài của Hiến Pháp và ở địa vị trổi thượng và tiên khởi (từ 2-54 Hiến Pháp Ý và 1-19 Hiến Pháp CHLBĐ).
Mặc cho những mối quan tâm vừa kể, kinh nghiệm không mấy sáng sủa đối với Hiến Pháp Weimar 1919 (Hiến Pháp Weimar cũng đã tiên liệu một số điều khoản đáng kể ở phần II về việc thực hiện các quyền và tự do con người), do việc cắt nghĩa các điều khoản luật dưới dạng thức có tính cách chương trình hành động(programmatiques) hơn là những đạo luật mệnh lệnh tính (préceptives) đã khiến cho các vị thận trọng hơn nữa, bằng cách nêu rõ rằng các điều khoản luật hiến pháp về địa vị con người được nêu ra trong Hiến Pháp nầy không phải chỉ là những lời tuyên bố nguyên tắc suông, cũng không phải chỉ là những điều khoản chỉ dẩn có tính cách chương trình, mà là những đạo luật có giá trị bắt buộc phải thi hành, đối với những ai có trách nhiệm liên hệ (Hartmann D.D., Verwirkungvon Grundrechten, AoeR, 1970, 340)
Đó là điều mà quý vị tuyên bố rỏ rệt ở điều 1, đoạn 3:
"Những quyến căn bản được liệt kê kế tiếp sau đây có hiệu lực đối với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" (Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Nhưng con người mà chúng ta vừa đề cập đến trong điều 1 của Hiến Pháp 1949, là con người ở trạng thái thuyết lý (formelle) và bất biến (statique).
Trong thực tế, con người không bao giờ ở trạng thái vừa kể, mà luôn luôn biến chuyển, năng động (dynamique) và liên hệ (en relation) với các con người khác trong Cộng Đồng Quốc Gia, tiến hoá đến hoàn hảo.
Do đó bổn phận của Quốc Gia là làm sao tạo các điều kiện thuận lợi để con người có thể phát triển, tăng trưởng, hoàn hảo hóa chính mình:
"...Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về phuơng diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật, trong khi giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân, cản trở họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " (Điều 3, đoạn 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Cũng vậy:
"Mổi người có quyền tự do phát triển con người của mình, miễn là không vi phạm đến quyền của người khác, không lỗi phạm thể chế hiến định và luật lệ luân lý " (Điều 2, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Chúng thấy được cả hai Hiến Pháp đều đặt con người trong chiều hướng " tương giao liên hệ" với người khác trong cộng đồng xã hội:
- " trong khi giới hạn tự do và bình đẳng của người dân...",
- " miễn là không vi phạm đến quyền của người khác, không lỗi phạm thể chế hiến định...".
Đọc thoáng qua điều 2 Hiến Pháp CHLBĐ vừa kể, chúng ta có cảm tưởng là Hiến Pháp Đức Quốc chỉ nêu ra quyền con người được tự do phát triển chính mình dưới hình thức tiêu cực:" miễn là không vi phạm đến quyền lợi của người khác, không lỗi phạm thể chế hiến định và luật lệ luân lý".
Suy nghĩ kỹ hơn, chúng sẽ thấy rằng bên trong các lằn mức không thể vượt qua được Hiến Pháp phân ranh cho cuộc chung sống trong Cộng Đồng Quốc Gia, "mỗi người có tự do phát triển con người của mình".
Đọc cả hai điều khoản Hiến Pháp Ý và CHLBĐ vừa trích dẫn, chúng ta có thể đặt câu hỏi:
- thế nào là "tự do phát triển con người của mình" (Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
- hay " triển nở hoàn hảo con người của mình"(Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Phải chăng "con người được tự do phát triển" hay " con người được triển nở hoàn hảo" là con người được hoàn tự do, hoàn toàn bình đẳng?
Văn mạch của điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý không cho phép chúng ta có được ý nghĩ như vậy. Bởi lẽ
"bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi các chướng ngại vật..., là những chướng ngại vật giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, ngăn cản họ phát triển toàn vẹn con nguời của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở ".
Vậy thì "tự do phát triển con người " hay " triển nở hoàn hảo con người " là gì?
Thế nào là phát triển toàn vẹn và thế nào là phát triển không toàn vẹn?
Chúng tôi đã đọc qua hết hai bản Hiến Pháp Ý và CHLBĐ, vẫn không tìm được một định nghĩa nào.
Tại sao? Có lẽ câu giải đáp chúng ta có thể tìm được ngoài văn bản Hiến Pháp hơn là trong văn mạch nội tại.
"Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại vật giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, cản trở họ phát triển hoàn hảo con người của mình..." (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)
Điều trích dẫn vừa kể cho chúng ta thấy bổn phận và thẩm quyền của tổ chức Quốc Gia đối với con người.
Quốc Gia có nhiệm vụ trù liệu các nhu cầu vật chất (kinh tế), định chế quốc gia (chính trị,xã hội), để con người khỏi bị nhu các cầu đó cản trở, thiếu tự do và bình đẳng, những điều kiện thiết yếu để "tự do phát triển con người " hay " triển nở hoàn hảo con người " của mình.
Trong hai điều khoản Hiến Pháp được trích dẫn trên, nếu chú ý chúng ta sẽ thấy rằng Quốc Gia tuyên bố "Mỗi người có quyền tự do phát triển con người của mình..."
hoặc " Bổn phận của Quốc Gia là dẹp bỏ đi các chướng ngại vật về kinhtế và xã hội,...các chướng ngại vật cản trở họ phát triển toàn vẹn con người của mình và...",
tức là quốc gia đứng ra tạo các điều kiện thuận lợi để con người tự phát triển lấy con người của mình. Nhưng Quốc Gia không thể đứng ra phát triển toàn vẹn con người của cá nhân thay cho họ. Điều đó không phải là bổn phận và cũng ở bên ngoài khả năng của Quốc Gia. Do đó, Quốc Gia không có khả năng đứng ra định nghĩa phải phát triển vẹn con người theo thế nầy hay thế khác.
Câu định nghĩa về con người hoàn hảo, do đó chúng ta không thể nào tìm được trong lãnh vực chính trị.
Định nghĩa con người với các chiều hướng đầy ý nghĩa,
- ngoài ra việc triển nở về phương diện đức dục, trí dục và thể dục,
- định nghĩa đó còn phải đề cập đến con người với các chiều hướng thâm sâu của tâm linh và liên hệ cả đối những gì thuộc lãnh vực thiêng liêng của con người,
nếu chúng ta không muốn hạn hẹp con người chỉ có đời sống thu hẹp vào cuộc sống vật chất, chết xuống, con người không khác vì thú vật, như quan niệm vô thần của Cộng Sản.
Bởi đó chúng ta chỉ có thể tìm được những câu giải đáp thỏa đáng trong lảnh vực tôn giáo.
Nói cách khác chỉ có tôn giáo mới cho chúng ta câu định nghĩa trọn vẹn về con người
- trong chiều hướng sâu thẩm của nội tâm,
- trong liên hệ mật thiết với Thượng Đế
- và trong liên hệ tương quan với người đồng loại.
Hướng thiện, hướng Thiên và hướng tha là ba chiều hướng để định nghĩa mối tương quan của con người, ngoài ra những phát triển về phương diện thể xác, trí nảo và phương cách cư xử luân lý.
Chính trị không thể nào cho chúng ta một câu định nghĩa thoả đáng về cả ba chiều hướng đó. Con người phải tự phát triển hoàn hảo con người của mình theo niềm tin của tôn giáo mà mình xác tín.
Đó là lý do tại sao cả hai Hiến Pháp chúng ta đang đề cập đến không đưa ra khuôn mẩu phát triển hoàn hảo cho con người, cũng không nhận lãnh trách nhiệm đứng ra phát triển con người thay cho cá nhân (Umberto Romagnoli, Commentario della Costituzione, art. 3, a cura di G. Branca, Zanichelli, Bologna 1975, 162s)
Nói cách khác, tôn giáo không phải là thẩm quyền của Quốc Gia.
Quốc Gia có bổn phận tiên liệu các điều kiện cần thiết để con người được hưởng tự do tôn giáo, trong việc "phát triển hoàn hảo con người của mình".
Và muốn cho con người được phát triển hoàn hảo, con người phải được bảo toàn mạng sống và cơ thể được lành mạnh, đó là ý nghĩa đoạn kế tiếp của điều khoản kế tiếp Hiến Pháp 1949 CHLBĐ:
"Mọi người đều có quyền sống và được bảo toàn cơ thể. Tự do cá nhân bất khả xâm phạm" (Điều 2, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Trước khi liệt kê những quyền tự do căn bản của con người là những điều kiện và môi sinh cần thiết, mà các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đã trù liệu như là những đạo luật hay "những quyền căn bản được kể sau đây...có giá trị bắt buộc trực tiếp đối với quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp"(Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949), để con người có thể được "tự do phát triển con người của mình", các vị nêu ra một xác định tổng quát về nguyên tắc bình đẳng:
- "Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
Người nam và người nữ đều có quyền bình đẳng như nhau.
Không ai có thể bị thiệt thòi hoặc được ưu đãi do phái tính, sinh trưởng, giòng giống, ngôn ngữ, quốc tịch hay nguồn gốc, tín ngưởng, lòng tin tôn giáo hay chính kiến" (Điều 3, id.).
Chúng tôi nghĩ rằng khó có ai trong chúng tìm được một bản liệt kê các yếu tố kỳ thị tỉ mỉ hơn là bản mà các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ vừa kể ra để loại trừ khỏi nguyên tắc bình đẳng.
Và sau đây là bản liệt kê các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người, được viết ra như những đạo luật " có giá trị bắt buộc trực tiếp" đối với cơ chế Quốc Gia phải thi hành:
- quyền tự do tín ngưởng, tự do lương tâm và tự do truyền bá đức tin (điều 4, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
- tự do truyền bá tư tưởng, tự do báo chí và thông tin qua đài phát thanh và điện ảnh, tự do nghệ thuật và khoa học, tự do nghiêng cứu và giảng dạy (Điều 5, id.).
- quyền kết hôn và quyền bảo vệ gia đình (được hưởng sự bảo trợ đặc biệt của Quốc Gia), quyền của phụ thân và con cái (Điều 6, id.).
- Những nguyên tắc căn bản để tổ chức học đường:
* quyền của phụ huynh hoặc của những ai có trách nhiệm quyết định cho con cái theo học các môn học tôn giáo;
* các môn tôn giáo học được giảng dạy như là một môn học thường thức trong các trường công và được dạy theo đúng các giáo lý tôn giáo; Quốc Gia có quyền kiểm soát tiến trình học vấn, luôn trong tinh thần dân chủ, tự do và tôn trọng các quyền của con người. Giáo chức được tự do giảng dạy tín lý tôn giáo và không bị bắt buộc phải dạy những gì mình không xác tín. Trường tư thục được tự do. Quốc gia kiểm soát các tư thục để bảo đảm cho trình độ giáo huấn không ở dưới trình độ các trường công (Điều 7, id.).
- quyền tự do hội họp (Điều 8, id.).
- quyền tự do gia nhập hội (Điều 9, id.), tự do gia nhập chính đảng(Điều 21, id.).
- tôn trọng thư tín và truyền thông bưu điện(Điều 10, id.).
- quyền tự do di chuyển trong mọi phần dất trên lãnh thồ quốc gia (Điều 11, id.).
-quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp (Điều 12, id.).
-gia cư bất khả xâm phạm(Điều 13, id.).
-quyền tư hữu và thừa kế (Điều 14, id.). Quyền tư hữu bao gồm những bó buộc và việc xử dụng tư hữu không những chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, mà còn nhằm phục vụ công ích (Điều 14, id.). Sự trưng dụng tư hữu chỉ có thể được chấp nhận, với mục đích ích lợi chung, theo luật định và được bồi thường (id.).
-quyền được có quyền công dân Đức Quốc, mà không ai có thể truất đi được (Điều 16, id.). Điều khoản nầy được viết ra để phòng mọi lạm quyền đã xảy ra thời Hitler. Người dân Đức bi mất quyền công dân của họ chỉ trong trường hợp được luật lệ xác định sẵn. Người công dân Đức không thể bị chuyển giao cho một quốc gia khác. Bất cứ ai bị bắt bớ vì chính trị đều có quyền tị nạn chính trị trên đất Đức(id.).
- quyền thỉnh nguyện: "Mọi người đều có quyền đạo đạt thỉnh nguyện bằng văn bản hoặc đơn phương tự mình hay cùng chung với những người khác, yêu cầu hoặc phản kháng lên các giới có thẩm quyền hoặc lên những thành phần đại diện dân chúng'' (Điều 17).
2) Phương thức bảo đảm các quyền tự do căn bản.
Chúng tôi vừa liệt kê các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người, được Hiến Pháp CHLBĐ đề cập.
Thật ra đề cập đến các quyền vừa kể không có gì mới lạ. Không những các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người, mà cả những tư tưởng "dân chủ, bình đẳng, độc lập, tự do, hoà bình, thân hữu, liên đới..." chúng ta có thể tìm thấy đầy dẫy trong bất cứ bản Hiến Pháp nào của Cộng Sản, Hiến Pháp 1977 Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết cũng như Hiến Pháp 1992 CHXHCNVN.
Nhưng người dân ở các nước CS và CSVN có được tôn trọng trong các quyền của mình mà các Hiến Pháp CS lải nhải tuyên bố không?
Hỏi tức là trả lời rồi vậy.
Tuyên bố như vậy, chỉ mới là hình thức công nhận thuyết lý (formelle), nếu không muốn nói tuyên bố để mà tuyên bố, để phỉnh gạt, mỵ dân (démagogique).
Tinh thần thực tế và chính xác của người Đức không cho phép họ hành động như vậy.
Ngoài ra thể thức sắp xếp các quyền tự do căn bản bất khả xâm phạm của con người vào phần chính của Hiến Pháp và biến những lời tuyên bố thành những điều khoản luật, đặt các luật đó vào phần tối thượng của Hiến Pháp, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ còn ra lệnh, quy trách cho các cơ cấu quyền lực Quốc Gia phải thi hành như là những điều luật "có giá trị bắt buộc trực tiếp đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp "(Điều l, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBĐ) như chúng ta đã có dịp đề cập.
Đó là tinh thần dân chủ và tự do thực hữu (démocratie et liberté substantielles), một mơ ước mà ai trong chúng ta cũng mơ ước, suy tư cho tương lai đất nước:
- tuyên bố thể chế dân chủ và các quyền tự do cùng với những phương thức được tiền liệu để thực hiện và bảo đảm.
Nếu ở điều 17, chúng ta có được quyền đệ đạt thỉnh nguyện lên các giới chức có thẩm quyền, thì ở điều 45b của Hiến Pháp, các vị soạn thảo đã tiên liệu
- một Cơ Quan Giám Sát
- và một Ủy Ban Hạ Viện (Wehrbeauftrage)
để cứu xét các đơn khiếu nại về việc vi phạm các quyền căn bản con người.
Nhìn các quyền và tự do dưới một nhản quan khác, chúng ta thấy rằng bất cứ quyền và tự do nào cũng được hưởng trong giới mức, nhứt là khi chúng ta đặt tương quan với người khác và với cuộc sống chung trong cộng đồng Quốc Gia.
Đó là tư tưởng mà các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đã tiên liệu ở điều 2, chúng ta đã có dịp trích dẩn ở trên:
"...miễn là không vi phạm quyền của người khác, không lổi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý ".
Điều đó cho thấy rằng các quyền và tự do có thể bị tương đối hoá hay giới hạn với quyền của người khác.
Nhưng giới hạn không có nghĩa là vi phạm, càng không có nghĩa lạm dụng, ai muốn "kính trọng và thực thi " thế nào, bao nhiêu và lúc nào "tùy hỷ", mà là "kính trọng và thực thi" như là những điều luật có hiệu lực " bắt buộc trực tiếp".
Để đề phòng những hành động "lộng quyền tác oai tác quái tùy hỷ " của những ai có quyền và trách nhiệm phải thực hiện, các vị đã tiên liệu trước tiên phương thức thông thường của luật pháp.
a) Đó là dành mọi quyết định cho luật pháp định đoạt (réserve de lois), với các công thức mà ai trong chúng ta cũng biết,
- "do luật pháp quy định, theo luật lệ hiện hành, do pháp luật quy định sẳn...".(Điều 2, đoạn 2, id.):
- "Trong trường hợp một quyền căn bản có thể bị giới hạn,dựa trên nền tảng của một điều khoản luật của Hiến Pháp nầy, dựa trên một đạo luật hay trên trên nền tảng của một đạo luật..." (Điều 19, đoạn 1, id.)
Hiến Pháp quy trách quyền định đoạt các đạo luật sẽ được Quốc Hội soạn thảo sau nầy, và chỉ có Quốc Hội mới có quyền "chuẩn y hay bác bỏ " để tạo ra luật pháp (lập pháp), xác định các trường hợp trong đó một quyền căn bản bi giới hạn, bởi lẽ Hiến Pháp không thể tiền định được hết mọi chi tiếc áp dụng cho từng trường hợp một.
b) Nhưng các vị cũng chưa ngủ yên cho phương thức thông thường, phó thác " do luật pháp quy định, theo luật lệ hiện hành..." đó.
Bởi vậy các vị đã dùng đến kỷ thuật pháp luật thứ hai. Đó là phương thức "dành quyền hạn chế tăng cường đối với luật pháo "(réserve renforcée de lois), tức là trong trường hợp một quyền căn bản bị giới hạn do một đạo luật quyết định, "theo luật lệ hiện hành", theo tinh thần được Hiến Pháp cho phép, đạo luật đó phải:
- " có giá trị phổ quát chớ không riêng cho từng trường hợp riêng rẻ.
-...đạo luật phải đề cập rõ ràng đến quyền căn bản và trích dẩn điều khoản của Hiến Pháp liên hệ.
- Không thể có trường hợp (giới hạn) nào, trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của mình.
- Ai bị cơ quan công quyền vi phạm đến các quyền của mình, có thể đệ đơn thưa cơ quan đó lên quyền hành tư pháp. Bởi lẽ không cần phải có một cơ quan có thẩm quyền nào khác, đó là thẩm quyền của cơ quan tư pháp thường nhiệm" (Điều 19, id.).
Nêu lên những điều vừa kể, Hiến Pháp 1949 CHLBD cho thấy không phải Quốc Hội muốn soạn thảo luật pháp, thiết định luật pháp thế nào tùy hỷ, mà chính Hiến Pháp đã đứng ra " thiết định", giới hạn trước những lằn mức không thể vượt qua, đối với phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người.
Áp dụng vào thực tế tinh thần của điều khoản luật vừa trích dẫn, tức là trường hợp một quyền tự do căn bản bị giới hạn thực sự, đây là thể thức cần phải tuân giữ khi thừa hành:
- "Tự do cá nhân chỉ có thể bị giới hạn do một điều luật phổ quát quy định và luôn tuân theo thể thức được ghi trong điều luật đó. Người bị bắt không thể bị ngược đải về tinh thần cũng như thể xác" (Điều 101, đoạn 1, id.).
Chúng ta nghĩ gì đến việc công an
- " trấn nước Mụ Úa ở Kiên Giang",
- " xông vào tư gia đánh đập, đả thương, bắn giết và hành hạ " anh em Tin Lành khi họ đang cầu nguyện",
- hay xử " bịt miệng Cha Lý"?
c) Phương thức kế đến, liên quan đến tự do cá nhân, đó là phương thức dành quyền tuyệt đối cho tư pháp (réserve absolue au pouvoir judiciaire): chỉ có co quan tư pháp mới có quyền ra lệnh bắt giam, tạm giữ cũng như cầm giữ trong tù:
- " Tính cách được chấp nhận và thời gian kéo dài của việc giảm thiểu quyền tự do chỉ có vị thẩm phán có quyền định đoạt.Trong trường hợp quyền tự do bị giảm thiểu không do quyền tư pháp ra lệnh, cần phải cấp bách yêu cầu quyết định của tư pháp. Cảnh sát tự mình không có quyền cầm giữ ai qúa ngày hôm sau khi bị bắt. Các chi tiếc sẽ được luật pháp chỉ định.
Bất cứ ai bị cầm giữ tạm thời, vị bị nghi ngờ phạm pháp, có cùng lắm là ngày hôm sau khi bị bắt, phải được dẩn đến trước vị thẩm phán. Vị thẩm phán phải báo cho đương sự biết các lý do bị buộc tội, nghe bị cáo để bị cáo có thể trình bày các lý do của mình. Thẩm phán sau khi nghe tường trình phải ra trác án tống giam hoặc trả tự do tức khắc..." (Điều 101, id.).
"...nghe bị cáo có thể trình bày các lý do của mình", như vậy việc hành động toà án xử " bịt miệng Cha Lý " là môt hành động vi hiến, đối với luật pháp của một xứ văn minh, hay là kiểu xử án mọi rợ: bị cáo không được luật sư biện hộ, mà cũng không được tự biện hộ.
Và trong trường hợp bị cáo cần được xét xử:
"Không thể chấp nhận các toà án đặc biệt. Không ai có thể bị di chuyển ra khỏi thẩm quyền xét xử của vị thẩm phán được luật pháp tiền liệu.
Toà án dành riêng cho những vấn đề đặc biệt chỉ có thể được thiết lập do luật lệ định sẵn" (Điều 101, đoạn 1 và 2, id.).
Đối với địa vị và chức vụ các thẩm phán:
"Các thẩm phán được độc lập và chỉ phải tuân theo luật lệ.
"Các thẩm phán đã được nhập ngạch vĩnh viển và các thẩm phán chuyên nghiệp chỉ có thể bị giải nhiệm trước định kỳ, hoặc bị cấm hành nghề vĩnh viển hay tạm thời, thuyên chuyển đi nơi khác hoặc cho về hưu trái với ý muốn của họ, do tư pháp quyết định và vì những lý do được luật pháp xác định trước..." (Điều 97, đoạn 1 và 2, id.).
Chúng tôi trích dẫn nhiều điều khoản liên quan đến việc cá nhân bị tình nghi, bị cáo, bị cảnh sát tạm giữ, bị đem ra xét xử được nhiều điều khoản luật bó buộc khắt khe mà Hiến Pháp đã tiền liệu, đề phòng, để tránh mọi lạm dụng quyền hành " tự tung tự tác tuỳ hỷ "áp chế con người.
Đọc những điều khoản vừa trích dẫn, không biết các bạn đọc có liên tưởng gì?
Riêng người viết, những điều khoản trên làm tôi liên tưởng đến cảnh công an lôi xểnh bị cáo ra đường phố đến công trường như một con thú vật, lùa dân đến đứng vây chật xung quanh và hô hào dân "hùa " theo công an để đấu tố, tra tấn, lên án cho bằng được kẻ xấu số, trong các phiên xữ "Tòa Án Nhân Dân" của một Quốc Gia bốn ngàn năm văn hiến đã bị làm cho trở thành mọi rợ.
Và điều mọi rợ ai cũng thấy rõ với cách xử án " bịt miệng " Cha Lý vừa kể, không cho bị can được biện hộ, mà cũng không có quyền tự biện hộ.
d) Ngoài ra những thận trọng đề phòng vừa kề, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBĐ còn dùng những dụng cụ khác để bảo vệ nhân phẩm, các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người, bảo vệ thể chế dân chủ tự do, môi trường trong đó con người được tôn trọng và "phát triển toàn vẹn". Đó là dùng phương pháp Hiến Pháp cứng rắn.
Các phương thức đó được các nhà" hiến pháp học"(constitutionalistes) gọi là đường lối " dân chủ tự bảo vệ " (Streibare Demokratie):
- " Không thể chấp nhận bất cứ một sự thay đổi nào, đối với Hiến Pháp nầy, có liên quan đến sự tương quan giữõa Cộng Hoà Liên Bang(Bund) và các Tiểu Bang(Laender), nhứt là liên quan đến việc tham gia của các Tiểu Bang vào quyền lập pháp hoặc liên hệ đến các nguyên tắc đã được tuyên bố nơi các điều khoản 1 và 20" (Điều 79, đoạn 3, id.).
(- Điều 1 là điều nơi Hiến Pháp tuyên bố " nhân phẩm con người bất khả xâm phạm"
- và điều 20 là điều định nghĩa về thể chế " Cộng Hoà, Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội"),
nền tảng của của Quốc Gia và cũng là môi trường thuận lợi để bảo đảm cho " mọi người được tự do phát triển con người của mình".
Kế đến đối với những ai lạm dụng tự do và quyền căn bản của mình, bất cứ chủ thể đó là ai (một cá nhân, một đoàn thể hay ngay cả cơ quan quyền lực Quốc Gia cũng vậy), để lủng đoạn, phá hoại thể chế hiến định dân chủ tự do, sẽ bị Hiến Pháp "đặt ngoài vòng pháp luật":
* "Ai lạm dụng quyền tự do báo chí (điều 5, đoạn 1), tự do giảng huấn(điều 5, đoạn 3), tự do hội hợp (điều 8), tự do nhập hội (điều 9), tự do thư tín, điện tín và điện thoại (điều 10),quyền tư hữu (điều 14), quyền tị nạn (điều 16, đoạn 2), để đập đổ tiêu diệt các nguyên tắc thể chế tự do dân chủ, sẽ bị mất các quyền nầy. Tình trạng và mức độ truất hữu các quyền vừa kể sẽ do Bảo Hiến Viện quyết định"(Điều 18).
Chính Quốc Gia nhân danh thể chế dân chủ, tự do và nhân bản, đứng ra đặt các điều kiện tiền liệu để tự vệ, bảo đảm cho sự sống còn của chính mình và là để bảo đảm cho "nhân phẩm con người bất khả xâm phạm"(Điều l, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
* Đặc biệt đối với các chính đảng, là những tổ chức đặc nhiệm hơn ai hết để truyền bá và phát huy tinh thần dân chủ, tự do, nhân bản (nền tảng trên đó các quyền và tự do con người được bảo đảm và thực thi), Hiến Pháp không ngần ngại đặt ra ngoài vòng pháp luật, nếu lợi dụng tư thế để đánh đổ thể chế dân chủ, tự do hiến định:
- "Các chính đảng hoặc do chủ đích hoặc do hành vi của các đảng viên thuộc hệ nhằm tấn công và tiêu diệt thể chế dân chủ tự do, hoặc đe dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng bất hợp hiến. Đối với vấn đề bất hợp hiến sẽ được Bảo Hiến Viện quyết định" (Điều 21, đoạn 1, id.).
Và như trên chúng tôi đã có dịp đề cập là người dân có quyền đệ đơn khiếu nại, tố cáo với tư pháp về những vi phạm quyền căn bản của mình bất cứ từ đâu đến, do cá nhân, hội đoàn cũng như do các cơ quan quyền lực quốc gia(Điều 17, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ).
Bên cạnh đó, Hiến Pháp cũng ra chỉ thị cho Hạ Viện thành lập Ủy Ban Kiểm Soát việc tôn trọng các quyền căn bản con người (Điều 45b, id.). Với các nguyên tắc nền tảng để bảo vệ con người mà Hiến Pháp đưa ra, chắc chắn việc vi phạm các quyền căn bản bất khả xâm phạm của con người là những hành vi "bất hợp phiến".
Kế đến, không những Hiến Pháp giao cho Ủy Ban Kiểm Soát Hạ Viện đặc trách vừa kể, ngay cả chính quyền một Tiểu Bang hay chỉ cần 1/3 thành viên Hạ Viện cũng có thể nêu ra tính cách " bất hợp hiến" của một đạo luật, một chính sách, một hành động bất cứ từ đâu đến và tố cáo đến Viện Bảo Hiến Liên Bang (Bundesverfassungsgericht):
"Viện Bảo Hiến sẽ quyết định trong trường hợp bất đồng ý kiến hay nghi vấn về các vấn đề hợp hiến hay không giữa luật pháp Liên Bang hoặĩc luật pháp Tiểu Bang đối với Hiến Pháp nầy,...nếu được Chính Phủ Liên Bang, Chính Phủ của một Tiểu Bang hay 1/3 nghị Sĩ Hạ Viện LiênBang yêu cầu" (Điều 93, đoạn 2, id.).
* Còn nữa, như chúng ta biết rằng Hiến Pháp 1949 CHLBĐ đặt con người với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình vào phần chính, khởi đầu và tối thượng của Hiến Pháp, từ đều 1 đến điều 20 (gồm cả phần định nghĩa về thể chế hiến định của Quốc Gia, như chúng tôi đã có dịp đề cập).
Để bảo đảm "nhân phẩm con người bất khả xâm phạm" và các quyền căn bản của con người được kính trọng và bảo đảm phải được thực thi như là những đạo luật "có giá trị bắt buộc trực tiếp", Hiến Pháp tiên liệu một một điều khoản bất di dịch đối với phần đề cập về con người (Điều 79, đoạn 3, id.), vừa nói ở trên.
Và như ở một số bài viết trước đây, chúng tôi đã có dịp đề cập là hầu hết các Hiến Pháp Tây Âu là những Hiến Pháp cứng rắng (rigide). Điều đó có nghĩa là muốn tu chính một hay nhiều điều khoản của Hiến Pháp, cần phải hội đủ các điều kiện gia trọng mà Hiến Pháp tiên liệu.
Sở dĩ Hiến Pháp đặt ra các điều kiện gia trọng là để cho những ai muốn sửa đổi, cắt bỏ hoặc thêm thắt vào Hiến Pháp sẽ phải gặp những điều kiện khó khăn.
Điều đó khiến cho Hiến Pháp khó được sửa đổi và như vậy Hiến Pháp được bền vững, để bảo đảm hữu hiệu hơn những gì Hiến Pháp xác tín như là lý tưởng và không muốn cho bị cắt xén, sửa đổi. Ngoài ra những nguyên lý căn bản về con người (điều 1-20) mà Hiến Pháp coi như là lý tưởng, bất biến, Hiến Pháp 1949 CHLBĐ cũng đã trù liệu các điều kiện gia trọng để có thể sửa đổi các điều khoản mà mình tuyên bố trong tinh thần dân chủ, tự do và nhân bản:
"Một đạo luật như vừa kể (đạo luật về tu chính Hiến Pháp) phải được sự đồng thuận của 2 / 3 thành viên Hạ Viện và 2/ 3 thành viên Thượng Viện (Điều 79, đoạn 2, id.).
Với con số tỷ lệ vừa kể, chúng tôi nghĩ rằng là con số không phải dễ thực hiện. Chúng thử so sánh với điều kiện chỉ cần đa số tuyệt đối (50%+1 phiếu) của Hạ Viện để có thể có túc số chọn vị Thủ Tướng (Kanzler) mới, thành lập và điều khiển Nội Các và không cần có sự đồng thuận của Thượng Viện:
- "Được tuyển chọn (Thủ Tướng) ai có khả năng quy tựu về phía mình số phiếu của đa số thành viên Hạ Viện..." (Điều 63, đoạn 2, id.).
Và trong trường hợp bất khả kháng, ngay cả ai chỉ thu thập được đa số tương đối của Hạ Viện, trong vòng 7 ngay sau cũng có thể được Tổng Thống Liên Bang bổ nhiệm chức Thủ Tướng:
"Nếu người được tuỳển chọn không đạt được đa số vừa kể (đa số tuyệt đối),trong vòng 7 ngày kế tiếp, Tổng Thống Liên Bang có thể bổ nhiệm ông hoặc giải tán Hạ Viện" (Điều 63, đoạn 3, id.).
III - Kết luận.
Ở những trang vừa qua chúng ta đã thấy rằng các vị soạn thảo Hiến Pháp1949 CHLBĐ đặt con người ở địa vị tối thượng và trung tâm điểm trong tổ chức Quốc Gia.
Con người với "nhân phẩm bất khả xâm phạm" của mình là khởi thuỷ, nền tảng và cùng đích của tổ chức Quốc Gia: Quốc Gia được tổ chức với mục đích tối hậu là phục vụ, giúp cho con người được "tự do phát triển con người của mình" hay " triển nở toàn vẹn con người của mình" trong tất cả mọi chiều hướng.
Để thực hiện mục đích cao cả đó, các vị đã đặt nặng hiệu lực của những điều khoản lý tưởng mình muốn đạt được hơn là thể thức tuyên bố long trọng hay kém long trọng.
- Các vị đã đặt các điều khoản lý tưởng thành những đạo luật bắt buộc mệnh lệnh tính (préceptives) vào phần chính của Hiến Pháp, vào phần tối thượng quan trọng đầu tiên của Hiến Pháp và tuyên bố thành những đạo luật đó có hiệu lực " bắt buộc trực tiếp" đối với những ai có nhiệm vụ phải thừa hành (đối với mọi quyền lực Quốc Gia).
- Các vị cũng quy trách cho Hiến Pháp cảnh cáo mọi lạm dụng bất cứ từ đâu đến, cá nhân, đoàn thề, chính đảng hay quyền lực Quốc Gia cũng vậy trong các hành động vi phạm phương hại đến nhân phẩm, làm tổn thương đối với các quyền căn bản con người.
- Hiến Pháp coi những hành vi đó là những hành vi bị đặt ngoài vòng pháp luật, là những hành vi " bất hợp hiến". Đối với các hành vi "bất hợp hiến" làm tổn thương đến nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người, người dân tự mình hoặc qua các đại diện của mình có quyền tố cáo trước cơ quan quyền lực Quốc Gia để được phân xử công minh và bồi thường tương xứng
- Hiến Pháp còn tiên liệu chính các cơ chế Quốc Gia cũng sẽ đứng ra tổ chức những phận bộ đặc biệt để kiểm soát đề phòng và tố cáo (Ủy Ban Kiểm Soát Hạ Viện, Chính Phủ của một Tiểu Bang, 1/3 dân biểu Hạ Viện, Viện Bảo Hiến).
- Ngoài những phương thức thận trọng để bảo vệ con người trong nhân phẩm cao cả của mình như vừa kể, các vị cũng tiên liệu " tính các cứng rắn " của Hiến Pháp, bằng cách đưa ra một đạo luật bất di dịch để bảo đảm cho lý tưởng về con người mà dân tộc Đức tuyên bố như là một mệnh lệnh phổ quát đối với bất cứ ai, bất cứ thời đại nào và quốc gia nào muốn liên lạc và chung sống thân hữu hoà bình với họ, nếu không muốn làm tổn thương đến lý tưởng và niềm tin của họ.
- Các vị cũng tiên liệu các điều kiện gia trọng cần phải đạt được, nếu muốn thay đổi, tu chính đạo luật, là những áp dụng các nguyên tắc lý tưởng được ghi thành văn trên Hiến Pháp.
Dựa trên các nguyên tắc lý tưởng về nhân phẩm cao cả bất khả xâm phạm của con người, các vị cũng đã tiền liệu những lằn mức giới hạn không thể vượt qua đối với các đạo luật sẽ được Quốc Hội soạn thảo sau nầy, để bảo vệ con người.
Giới hạn không có nghĩa là vi phạm, nhứt là "vi phạm đến nội dung thiết yếu" của các quyền căn bản, mà còn cần phải bảo vệ và tạo điều kiện để thăng tiến nhân phẩm.
- Các vị cũng xác định một cách tỉ mỉ thể thức và điều kiện nhân viên công lực cũng như tư pháp phải tuân theo khi phải bắt giữ một người bị nghi vấn.
- Và cuối cùng là các định chế về toà án, bị cáo trực thuộc thẩm quyền địạ hạt của quan tòa và những điều kiện bắt buộc liên quan đến việc thuyên chuyển, bải nhiệm, cho về hưu các thẩm phán trước định kỳ, nhằm bảo đảm tính cách vô tư và công bằng của tư pháp.
" Phẩm giá con người bất khả xâm phạm", nền tảng của toà nhà Hiến Pháp 1949 CHLBĐ.
Một Hiến Pháp luôn luôn đi cạnh, hổ trợ và biến đổi Đức Quốc từ một Quốc Gia bị Thế Chiến thứ II tàn phá tan nát thành một trong những cường quốc kinh tế của thế giới hiện đại.
Phải chăng với những bài học quý giá vừa kể " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm" cũng sẽ là nền tảng của Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ trong tương lai cho quê hương Việt Nam chúng ta, cần được kiến thiết lại sau những gì Cộng Sản đang đập đổ hiện tại?
Nhân Bản và Dân Chủ là vậy.
Tuyên bố và tiền liệu các phương thức thực hiện và bảo đảm mới có được và tồn tại được.
"Dân Chủ tự bảo vệ" (Streibare Demokratie) của Cộng Hoà Liên Bang Đức là mẫu gương cho những ai muốn thực hiện và bảo vệ Nhân Bản và Dân Chủ cho Việt Nam.
Nguyễn Học Tập
|