banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

(tiếp theo kỳ trước)

 

Thời quốc gia có luật pháp rõ ràng, những người có tội phải có bằng chứng, thà tha lầm hơn bắt lầm. Đó là chính sách nhân đạo, công minh của một chính thể theo tự do. Khác với Việt Cộng, họ chủ trương dùng khủng bố để giành thắng lợi: thà giết lầm hơn tha lầm. Những gia đình thân Cộng lợi dụng sự nhân đạo của luật pháp mà tiếp tế, bao che giúp cho Việt Cộng, như gia đình của bà Dậu nầy. Những gia đình nầy có hai mặt: gặp lính quốc gia thì giả bộ nói ghét Việt Cộng, nhưng khi Việt Cộng mò về là tiếp tế báo cáo tình hình. Đây cũng là thứ kẻ thù nguy hiểm trong vùng nông thôn hẻo lánh, đồng dạng với hạng ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản.
Thời gian trôi qua, sau năm 1975, Việt Cộng tiếp thu toàn miền Nam. Gia đình Ba Bửu cũng hưởng được tuần trăng mật giải phóng trong những năm đầu, sau đó đời sống của người dân bị ảnh hưởng bởi những chính sách điên khùng của Việt cộng, trong đó có cả thành phần du kích miền Nam, lỡ dại đi theo Việt Cộng. Những thửa ruộng mầu mỡ của gia đình Ba Bửu bị tịch thu dù bà vợ có nhiều người theo Việt Cộng, nay đã bị phục viên, bị đảng đá ra khỏi cơ quan quyền lực. Cán bộ từ miền Bắc vào áp dụng chính sách bần cùng hóa nhân dân, Ông Ba Bửu bị nạn vì có mấy đứa cháu bà con đi lính quốc gia, trong các binh chủng Dù, Biệt Động Quân trở về sinh sống. Chính sự kiện nầy là cái cớ để cán bộ địa phương ra tay lấy đất của gia đình nầy. Bà Dậu tức lắm nhưng không dám hó hé như thời trước, ông Ba buồn uống rượu hoài, mỗi lần say là chửi xéo Việt Cộng khiến và vợ rầu, tìm cách khuyên chồng sau những lần cảnh cáo của Công an xã và cán bộ địa phương. Nếu không có đám bà con quen làm cán bộ phục viên, thì ông Ba đã bị mời vô trại tù cải tạo từ lâu. Hôm nay sau cơn say, ông Ba Chửi Việt Cộng hơi nhiều bà Dậu sợ nên lôi chồng vào buồng nói nhỏ:
- Ông à, đừng nói lớn tai vách mạch rừng nghe, giữ miệng giữ mồm thời nầy câm là tốt nhứt đó.
Ông Ba lắc đầu:
- Tui không sợ đâu, tụi nó lấy gần hết đất lấy gì mà sống? Trước sau gì cũng chết đói cả nhà, thà nói cho đã miệng có chết cũng vui.
- Thôi mà, ông im cái miệng lại trại cải tạo kế bên kìa. Ông nghe tui đi không thất bại đâu.
- Tui đâu có sợ... có giỏi cứ nhốt, khỏi tốn cơm nhà, khỏi phải đi làm công tác.
Bà vợ giải thích:
- Ông à, ở tù bây giờ khổ lắm, nhà nước đâu có cho tù ăn uống đầy đủ như thời quốc gia đâu. Một người ở tù là coi như cả nhà ở tù, gia đình mình phải cung cấp đồ ăn, thuốc men, chết ráng chịu. Ông mà bị ở tù chắc cả nhà khổ lắm.
Nghe vợ nói ông chồng giựt mình, hình như nghe tới hai chữ: cải tạo là ai cũng tởn hồn:
- Tui biết rồi.
Thấy chồng nín bà vợ yên tâm:
- Kệ nó, trời sanh voi sanh cỏ mà. Hết cơn bỉ cực tới hồi thái lai, không lẽ Việt Cộng tồn tại hoài sao? Cũng có ngày tiêu ra tro.
- Mình còn gì nữa đâu, tụi nó lấy gần hết đất đai, phải dè vậy hồi trước mình đâu tiếp tế bao che cho mấy ổng, lầm to rồi.
Bỗng ông Ba hỏi vợ:
- Sao hồi đó bà nói dữ lắm không sợ ai, xã trưởng, quận trưởng xuống, bà nói chuyện tay đôi, mấy ông lớn đó còn nể nang bà?
Bà Dậu sượng mặt lặng thinh một lúc, dường như xấu hổ về những việc làm trước đây:
- Ông à, hồi đó mình có quyền tự do ăn nói, có gì cứ nói đại không sợ ai bắt ở tù ở gạc gì. Còn bây giờ, cán bộ là ông trời con, nói mấy ổng là bị mời lên làm việc. Than van, khiếu nại là bị chụp mũ phản động. Trại cải tạo ở huyện cực lắm...
- Như vậy là bà chỉ khôn nhà dại chợ. Ngày trước thấy quốc gia dễ thương dân, bà làm tới, còn bây gìờ không dám hó hé. Hồi đó lính đâu có bắt gà, bà cũng dám nói oan cho người ta. Mỗi lần mất mấy trái ớt, trái cà là bà cũng vu oan cho lính. Còn bây giờ Việt Cộng tịch thu mười hai công ruộng, bắt đi làm thủy lợi hà rầm, mấy thằng dốt lên lớp chửi bới nói gà nói vịt mà không ai dám cãi. Tôi thấy dân mình ngu lắm, lúc người ta dễ là làm tới leo lên đầu, còn bây giờ Việt Cộng dữ dằn như vậy, đâu có ai dám lên tiếng. Tôi phục những người nào dám lên tiếng phản đối Việt Cộng, còn như khôn nhà dại chợ là tôi coi như cỏ rác.
Bà Dậu làm thinh tự thấy mình sai trái, một lúc sau nói nhỏ:
- Nói lớn coi chừng bị báo cáo, mình phải biết ăn theo thuở, ở theo thì.
Ông Ba Bửu cười:
- Cái mốc xì, gia tài bị lấy gần hết sống cũng như chết...
- Ông à, trại tù cải tạo gần sát bên nhà kìa.
Từ dạo đó, bà Dậu không còn tánh hung hăng, ngược lại ông Ba vùng lên uống rượu chửi xéo đảng, vài lần bị đấu tố làm tự kiểm, nhưng không chừa. Sau đó gom vàng lo lót vượt biển tìm tự do trong thời kỳ Tàu đăng ký, được qua Mỹ sống tới ngày nay.
Nghe xong câu chuyện, Tư Ếch cười thích thú:
- Ở đời nầy có nhiều kẻ khôn nhà dại chợ... chuyện nầy làm tui nhớ tớ ông Năm Huấn, cũng thuộc loại ngây thơ tiếp tế cho Việt Cộng ở vùng nông thôn. Trong số những người sống ở vùng xôi đậu, tui chỉ phục bác ba Phi thôi.
Bà Uyên nói:
- Em có nghe bác ba Phi là tay nói dóc duyên dáng ở vùng nông thôn.
Tư Ếch nói:
- Ở ngoài Bắc có Ba Giai, Tú Xuất, nổi tiếng là tay nói dóc có căn, duyên dáng.
Yến hỏi:
- Bác Ba Phi là ai vậy?
Tư Ếch tỏ ra rành về vụ nầy:
- Bác Ba Phi là người dân quê chất phác, sống trong vùng nông thôn dưới sự kiềm kẹp, khủng bố của Việt Cộng. Nhưng Bác được người dân tôn là thầy nói dóc qua mặt luôn Việt Cộng nữa. Nói về nhân vật nầy có nhiều giai thoại lắm.
Đức khoái nghe:
- Dượng nói sơ vài chuyện...
Tư Ếch kể:
- Bác nói dóc mà nhiều người ưa nghe mới tài, thí dụ như chuyện con chó bị đập bể sọ, bác Ba mới lấy giây chuối niềng lại con chó sống, sủa nghe cành cạnh như tiếng chày giã gạo.
Yến cười khúc khích:
- Đâu có chuyện đó, chó bị nứt sọ là chết, nếu có tiền chở vô bịnh viện cũng chưa chắc sống nữa.
Đức nhìn vợ:
- Thì người ta nói dóc mà.
Tư Ếch kể:
- Còn nữa, bác Ba nói hồi đó ở xứ nầy có một cây dừa cao hết biết, bác trèo lên đó nhưng lỡ bị trật giò té 3 ngày 3 đêm mà chưa đụng mặt đất.
- Dóc hết chỗ chê (bà Uyên cười).
Tư Ếch tiếp:
- Có người hỏi là: bác té như vậy có đói bụng không? Bác trả lời tỉnh bơ là: Tao phải về ăn cơm no rồi ra đó té tiếp, ở đó đói sao?
Cả bàn cười bể bụng về một nhân vật lừng danh nói dóc ở nông thôn. Tư Ếch hứng chí nói tiếp:
- Bác Ba Phi từng bị Việt Cộng bắt đi học tập cải tạo về tội nói dóc, để cán bộ tưởng thiệt. Số là hôm nọ, có đơn vị địa phương chủ lực huyện ghé xóm kiếm cơm. Trong khi cơm sắp chín, bác Ba Phi hớt hải chạy vô nói: Trời ơi, lính quốc gia vô rồi đông lắm chạy lẹ lên. Ở ngoài kia còn có xe tăng, tôi thấy rõ ràng. Cán bộ chỉ huy tin là thiệt nên cho đơn vị chạy vô rừng, báo hại đói bụng cả đám. Nhưng sau khi xem lại thì đâu có lính quốc gia nào vô.
Yến thích quá:
- Bác Ba Phi tài thiệt, nói dóc mà Việt Cộng cũng nghe.
Tư Ếch nói:
- Cũng tại cái vụ nói dóc đó mà bác bị Việt Cộng gõ cửa, bắt vô rừng xiềng giò cả năm.
- Tội nghiệp quá (Đức thương hại).
Tư Ếch kể:
- Nhốt cả năm bị chụp mũ là điềm điệp làm việc cho quốc gia, Bác đâu có biết gì mà khai báo với Việt Cộng, nên bị nhốt làm tự kiểm dài dài. Gần tết, bác gặp cán bộ nói: tui có làm việc cho quốc gia mấy ông dẫn về nhà tôi mà lấy súng và tài liệu. Việt Cộng mừng dẫn về nhà để lấy, bác được vợ con cho ăn một bữa cơm ngon. Ăn xong cán bộ mới hỏi:
- Súng ở đâu, dẫn tụi tôi đi lấy.
Bác Ba trả lời:
- Có súng ống gì đâu, tết nhớ nhà nói dóc với các ông để được về nhà thăm vợ con thôi. Bị gạt lần nữa, bác bị Việt Cộng đưa vô rừng cải tạo tiếp.
Bà Uyên xác nhận:
- Dân ở vùng trong phục bác ba phi dám nói dóc cả Việt Cộng.
Tư Ếch nói:
- Còn cái vụ ông Năm Huấn cũng hấp dẫn lắm, thời Việt Cộng có nhiều chuyện tiếu lâm cười bể bụng, cười ra nước mắt. Câu chuyện bắt đầu từ thời Tây, quốc gia và Việt Cộng sau nầy.
Năm Huấn sinh ra và lớn lên trong vùng nông thôn, gia đình có nhiều người từng theo Việt Minh chống Pháp, một số chết và số khác ra bắc tập kết sau năm 1954. Sống dưới hai thế lực Quốc-Cộng trong vùng mất an ninh, dĩ nhiên là gia đình nầy thân Cộng, tiếp tế, nuôi quân du kích, tai mắt cho giặc Cộng trong vùng làm lợi cho Cộng Sản. Sau năm 1975, ông theo đám bà con ra tỉnh để biết rõ sự tình về cái gọi là chế độ Mỹ-Ngụy, được cán bộ Cộng Sản tuyên truyền một chiều: Cái gì của Cộng Sản là đều tốt đẹp, ưu việt... còn cái gì của chính quyền quốc gia, của Mỹ đều tệ hại, xấu xa, cần phải có cuộc cách mạng thay đổi, quét sạch hết tàn dư của bọn đế quốc tư bản. Dưới mắt người Cộng Sản và dân thân Cộng u mê sống trong vùng mất an ninh, có người chưa bao giờ có dịp ra tỉnh thành, đô thị cho biết nên dễ bị Cộng Sản lung lạc nói sao nghe vậy, theo suy nghĩ nông cạn của họ thì chế độ tư bản là: lạc hậu, lỗi thời, phản động, đi ngược lại bánh xe lịch sử theo quan niệm của Marx, Lenin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành... và những lãnh tụ Cộng Sản thế giới, đi ngang qua dinh tỉnh trưởng, ông chửi:
- Chỗ nầy là đầu não của bọn Mỹ Ngụy phản động, giết hại nhân dân ta.
Ngang qua khám đường:
- Nơi nầy tù đày bao chiến sĩ cách mạng.
Đi tới đâu, ông cũng chửi quốc gia nâng bi Việt Cộng, đội Hồ Chí Minh lên đầu. Nhưng niềm vui đó không lâu. Chiến trường Kampuchea càng sôi động, nhà nước thu mua nông phẩm với giá rẻ mạt để cung ứng cho bộ đội đi chiếm xứ người cai trị. Ông Năm Huấn trở về nông thôn làm ruộng, vui thú điền viên, vì lớn tuổi không thích hợp với đời sống thành thị, ông ghét nhứt là đi cầu trong nhà không đã bằng đi cầu tiêu thiên nhiên ở ngoài đồng, bụi cây, ao cá vồ, gốc cây. Cái vụ cầu tiêu làm trong nhà đã được nhiều cán bộ phàn nàn là:
- Bọn Mỹ ngụy kém văn minh, ở dơ quá cỡ thợ mộc, chúng làm cầu tiêu trong nhà mất vệ sinh... không bằng lối sống lành mạnh xã hội chủ nghĩa, phù hợp với thiên nhiên. Ông Năm Huấn tiêm nhiễm nhiều lối tuyên truyền một chiều, cái gì của đảng của bác là số một. Còn đế quốc, Mỹ Ngụy là xấu xa, trong suốt cuộc đời ông chưa bao giờ ra Hà Nội thăm lăng Hồ Chí Minh, căn nhà ở lúc làm việc là phủ Chủ Tịch. Nhưng được nhiều cán bộ nói về hai di tích lịch sử độc đáo nầy. Ông Năm tin là thật, khi được cán bộ từ ngoài Bắc vô, nói về căn nhà gỗ của Hồ Chí Minh, sống giản dị, khiếm tốn, không xa hoa, hao tốn công quỹ quốc gia, xứng đáng là nhà cách mạng cao siêu, tài ba lỗi lạc hết lòng vi dân vì nước. Vì Bác Hồ có thói quen đi cầu tiêu ngoài đồng, rừng, bụi rậm, hốc đá... từ thời ở hang Pắc Bó, nên sau khi về Hà Nội, bộ chính trị trung ương đảng ra nghị quyết: dựng cái nhà cầu bằng loại gõ quí mang từ rừng Việt Bắc, nơi Bác Hồ có nhiều kỷ niệm êm đềm với những nàng Sơn Nữ như Nông Thị Xuân.
Hang Pắc Bó được đảng coi như nơi xuất phát nguồn cảm hứng cách mạng vô sản chuyên chính, đưa dân tộc từ no ấm sang bần cùng. Người lo vụ kiếm danh mộc xây cầu tiêu cho Bác chính là thượng tướng Chu Huy Mân. Ông tướng nầy theo bác làm cách mạng từ nhỏ, trung thành, yêu mến bác vô vàn, dĩ nhiên nhiều cán bộ biết hắn sợ Hồ Chí Minh như cọp. Là dân tộc ít người nhưng nhiều gian manh (do theo đảng, học được cái gian manh, hung ác, khác với bao người sắc tộc khác), rành phong thổ đặc sản miền núi thượng du, ông tìm mật gấu, sâm rừng cho bác bồi dưỡng trong suốt cuộc đời làm tay sai cho ngoại bang Nga Tàu. Nhờ vậy mà Bác khỏe mạnh, đi hành quân với bộ đội và chơi bời với các cháu ngoan Bác Hồ:
Tiếc thay phận gái Bắc Hà,.
Một đêm gặp Bác, tan là đời hoa.
Bác Hồ thuộc loại yêu ma,
Nhi đồng lột xác, hóa ra đàn bà.
Để cho Bác là người đầu tiên được hút nhụy hoa, có khả năng biến các cô gái còn trinh thành đàn bà chỉ sau một đêm được Bác mời vào phủ chủ tịch hội ý. Hồ Chí Minh đúng là vị chủ tịch vĩ đại, vô vàn kính yêu của đảng Cộng Sản Việt Nam. Bác là người có công áp dụng triệt để triết học duy vật biện chứng của Karl Marx, đốt giai đoạn lịch sử, mà điển hình là tự bác có khả năng chuyển hóa từ hài nhi trong bụng mẹ, sau khi sinh ra, đi học trở thành nhi đồng, được gọi bằng từ ngữ vô cùng thân thương là: Cháu ngoan Bác Hồ. Đến khi quàng khăn đỏ, học tập chính trị cho thông suốt đường lối, rồi đến tuổi dậy thì, được đồng đảng của Bác phát hiện ra có đủ tiêu chuẩn chiếu cố, biên chế đưa vào phủ tham quan Hồ Chủ Tịch, chỉ có một đêm thôi là trở thành đàn bà, sẵn sàng sung vào đội ngũ hộ lý, phục vụ tích cực cho đảng và các đồng chí khác khi được động viên, mà không cần kinh qua giai đoạn chuyển hóa từ gái tơ sang gái xề. Đó là bước tiến nhảy vọt, là cuộc cách mạng triệt để nhằm giải phóng phụ nữ ra khỏi vòng kềm kẹp của gia đình. Do ảnh hưởng nặng nề của chế độ phong kiến lạc hậu, và sau nầy là đế quốc tư bản phản động, đi ngược lại ba dòng thác cách mạng vô sản chuyên chính:
Xẻ Dọc Trường Sơn đi tìm nước,
Mà lòng phơi phới đóa hoa xuân.
Nhờ những món đặc sản chất lượng cao bồi dưỡng, nên Bác có khả năng làm tình với nhiều cháu ngoan lột xác một cách chất lượng, hơn cả những bài thuốc Minh Mạng. Thế mới biết công lao hạn mã của tướng Chu Huy Mân trong việc phục vụ Bác, để Người có sức khỏe giải phóng cuộc đời của nhiều phụ nữ, được các đồng chí lãnh đạo tiến cung vào hầu hạ người làm cách mạng vô sản chuyên chính, chhuyên nghiệp chơi bời trác tráng trường kỳ, dâm ô như Bác.
Bàn tay ta làm nên tất cả,
Với sức người, hộ lý đổi hàng đêm.
Cái cầu tiêu xinh xinh được xây phía sau nhà chủ tịch, Bác thường ra ngồi hàng giờ nơi đây vừa xả bầu tâm sự, trút đi những xú uế trong thân thể, vừa có được nhiều thời giờ để lo cho dân cho nước. Bác có rất ít thời giờ để suy nghĩ về những kế sách tài tình lỗi lạc, vì phần lớn thời giờ làm việc ở phủ chủ tịch rất bề bộn bảy ngày một tuần, ngoài việc chơi bời với các cháu ngoan xinh đẹp luôn túc trực, còn phải nhín chút thời giờ quí báu để tiếp kiến các phái đoàn, sứ thần của các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Chính cái cầu tiêu xinh xinh được làm bằng các loại danh mộc vùng thượng du Bắc Việt là nơi bác động não, suy nghĩ đến những sách lược gian manh, lật lọng, bắt thanh niên vào Nam chết mà không sợ bị gia đình khiếu nại, biểu tình, đòi bồi thường nhân mạng hay bị oán than như các nước đế quốc, khi con em họ bị chết trong bất cứ cuộc chiến nào, họ thường lên tiếng đòi bồi thường, gây khó khăn. Bộ đội của Bác thì chỉ có nhiệm vụ đi chết theo lịnh: dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn, thì hàng triệu sinh linh bị Bác sử dụng trong cuộc chiến, thân nhân của họ cũng không bao giờ dám hé môi, nói bậy là bị cúp hộ khẩu, chưa kể đến bị kết án là có tư tưởng phản động, cải tạo tù đày là thường. Phải công nhận là Bác có tài chỉ đạo, sử dụng lực lượng công an nhân dân để bịt miệng nhân dân một cách tài tình. Thân nhân người chết được bác phong là gia đình có công, hàng năm được cấp phát gạo, vài thước vải là xong cả. Nhân dân có nghĩa vụ đẻ, nuôi thanh niên lớn lên, và bác có nhiệm vụ đưa đi chết lao tư lưỡng lợi, quả là công bằng, hợp lý.
Để làm vừa lòng bác, cán bộ phụ trách công tác trong phủ chủ tịch còn phải bố trí những hòn non bộ chung quanh cầu tiêu, hòn cao nhất được ghi là: núi Lenin với con mương nhân tạo có nước chảy róc rách, được các cố vấn kỹ thuật Liên Sô thực hiện mang tên suối Marx... cảnh vật được bố trí y như hang Pắc Bó thật là tuyệt vời. Mặc dù bác sống ở Hà Nội, thủ đô của nước VNDCCH có đầy đủ tiện nghi hiện đại như điện, nước, xe cộ... nhưng khi vào phủ chủ tịch, người ta có cảm tưởng là đang ở vùng Việt Bắc, khi có dịp tham quan cái cầu tiêu lộ thiên cao đằng sau, mới biết được cuộc đời và sự nghiệp vô vàn vĩ đại của bác, cống hiến cả cuộc đời để phục vụ quyền lợi ngoại bang Nga Tàu, chơi bời phản dân hại nước. Những cán bộ phụ trách còn có sáng kiến thu hoạch các loại Ếch to thuộc giống thú hiếm từ khắp đất nước, nhứt là từ khu rừng Việt Bắc đem về thả chung quanh, khiến khung cảnh càng hữu tình, có những tiếng kêu ọt ẹt thân thương, gây niềm cảm xúc cho Bác trong việc sáng tạo ra những điều vượt chỉ tiêu: dám nghĩ dám làm, dám làm dám trật. Có thể nói là hầu hết những thủ đoạn gian manh, mưu đồ đen tối đều được Bác sáng tạo nơi cái cầu tiêu sau phủ chủ tịch. Cho nên cái cầu tiêu lộ thiên nầy là nơi xuất phát ra những kế hoạch, sách lược tuyệt vời: chống Mỹ cứu nước, xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh từ tháng 5.1959, huy động thường trực hơn 100 ngàn nhân công, dân công chiến trường, bộ đội từ nhiều thế hệ thanh niên miến Bắc trong suốt cuộc chiến xâm nhập. Cũng là nơi Bác động não nghĩ ra việc viết quyển sách tự ca mình lấy tên là: Cuộc đời Hồ Chủ Tịch với bút hiệu là Trần Dân Tiên...
(xem tiếp kỳ sau)