banner
Trang nha
Tieng noi trong nuoc
Tuoi Tre Ve Nguon
Tin Cong Dong
 

Ký ức về chuyến vượt biên đầu tiên trong đời

Phạm thắng Vũ

Tôi có mặt tại điểm hẹn (Trạm xe buýt gần rạp hát Opera) vào lúc 8:45 sáng mà theo lời dặn là khi thấy chiếc xe buýt nào mang số 225 434 ngừng gần đó thì bước lên ngay. Tôi chờ hoài mà lòng thấp thỏm lo sợ công an có thể đang phục kích gần đâu đó. Giả vờ là người khách bộ hành mệt mỏi ngồi nghỉ chân gần vệ đường đang xem báo mà thực sự trong tôi cầu mong chiếc xe buýt đến đúng giờ hẹn là 9:00. Và 9 giờ đã đến rồi mà xe thì vẫn chưa thấy. Ô kìa chiếc xe buýt đã đến, tôi vơ vội túi hành lý nhỏ định chạy đến nhưng hàng số xe bên hông cho tôi biết đây không phải là chiếc xe đón người. Vài người trên xe buýt bước xuống và xe chạy đi. Tôi nhìn đồng hồ đã 9:10 phút rồi 9:20 , 9:30 vẫn chưa thấy xe đến. Tôi lo lắng nhìn phía bên kia đường thì bắt được vài tia mắt nhìn vội về tôi rồi quay đi. Đó là những người ngồi gần gốc cây, bên vệ đường và người nào cũng có 1 cái túi xách nhỏ y như tôi vậy. Tự nhiên tôi cảm thấy bất an vô cùng vì biết những người đó cũng đang chờ chiếc xe buýt đặc biệt như tôi vậy và họ cũng là bạn đồng hành với tôi qua thái độ và hành lý mang theo bên mình. 9:45 phút rồi mà xe buýt vẫn chưa đến! Tôi, bây giờ phải quyết định sao đây? Nhớ lời dặn của chị Thu thì đến điểm hẹn nếu xe đến trễ 30 phút thì bỏ về ngay vì chuyến đi coi như bị trục trặc, nấn ná ở lại coi chừng bị công an tó thì ráng chịu. Tôi chợt ngó sang bên kia đường nơi các bạn đồng hành của tôi đang ngồi thì trời ơi họ đã biến đâu mất hết rồi và bây giờ chỉ còn có mình tôi thôi. Phải dọt về thôi. Tôi đứng lên và định bụng rảo bước thì một tiếng xe thắng gấp gần bên và trời ạ đó là chiếc xe buýt mang biển số 225 434 đang mong. Tôi hấp tấp bước lên xe và họ chỉ có đón duy nhất một mình tôi. Người lơ xe ngó quanh quất chung quanh miệng nói lớn: Có ai đi nữa không thì lên xe và anh ta cũng nói ngay theo đó: Tới luôn, hết khách rồi bác tài. Tôi vội vàng ngồi ngay vào 1 chỗ gần bên cửa sổ và theo thói quen tôi nhìn ra bên ngoài thì chợt thấy bên kia đường 2 người khách trong số ngồi chờ xe như tôi lúc ban nãy, bây giờ ở đâu chạy ra và họ ra dấu để đón xe ngừng lại nhưng chiếc xe vẫn chạy thẳng.
Xe lần lượt ghé từng điểm hẹn để nhận khách và cứ thế xe chạy lần ra ngoại ô hướng về Thủ Đức và sau cùng trực chỉ Vũng Tàu. Xe đến thành phố biển Vũng Tàu vào giấc chiều và ngừng ở 1 khu đậu xe gần con đường mang tên là Ba Cu và tất cả mọi người trên xe được dặn nhỏ là tạm thời tản ra giả dạng khách du lịch đi lòng vòng đâu đó thì đi nhưng phải có mặt lên xe lúc 7:30 chiều.
Tôi nhập vào dòng các người đi trên phố. Vũng Tàu có khá đông khách ngoại quốc từ các nước CS Đông Âu hoặc Liên xô khi đó. Họ là nhân viên trong các công ty khoan dầu hoặc các công trình khác tại miền Nam và đổ về thành phố này để tắm biển, nghỉ ngơi. Tôi đi lòng vòng mãi rồi cũng chán và quay trở về chiếc xe buýt lúc 7:10 tối và ngồi 1 khoảng cách không xa lắm để phòng các bất trắc và khi mọi người lục đục kéo nhau lên xe buýt thì tôi biết là xe đã nhận thêm khách ngay tại thành phố này cho chuyến hải hành ngay tối nay. Đúng 7:30 chiều xe buýt khởi hành nhưng xe chỉ chạy lòng vòng trong thành phố Vũng Tàu để chờ cho trời tối hẳn. Xe đã ngừng nhiều chỗ để lúc thì tài xế và các người lơ xe làm bộ coi lại máy móc hoặc xem xét các bánh xe và rồi khi trời tối hẳn thì xe chạy ra hướng bãi Trước và kỳ lạ thay khi xe ngừng tại sát cạnh bờ biển thì đột nhiên toàn bộ điện ngay khu vực bị cúp hẳn. Trong bóng tối những người tổ chức trên xe hối thúc mọi người rời khỏi xe chạy ngay xuống mép bờ nước. Khi tôi chạy đến bờ nước biển thì dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn xoay trên Hải đăng ở đỉnh núi , tôi thấy 1 chiếc ghe khá lớn đã có mặt sát bờ tự lúc nào và mọi người đang lội nước ra gần ghe. Có rất đông dép, guốc của hành khách vất bỏ trên bãi cát và có cả các túi xách nữa. Kinh nghiệm truyền lại của những người vượt biên đi trước, tôi không vất bỏ đôi dép như họ mà cẩn thận lấy ra 1 sợi dây thủ sẵn trong túi luồn vào đôi dép này rồi cột nó vào quai (con điã) của quần dài đang mặc rồi sau đó bắt đầu bước lội từng bước ra ghe. Tối hôm đó mặt nước biển không hiểu do 1 hiệu ứng gì mà tỏa lên những ánh sáng màu xanh lá cây trông rất kỳ lạ, phản chiếu những lọn sóng, quanh thân người khi họ chuyển động chung quanh chiếc ghe này. Tôi đã cố gắng hết sức để bước dần tới được ghe mà mực nước đã tới ngay cổ và khi tới sát bên ghe rồi thì không biết làm sao mà trèo lên ghe được rồi tay tôi chạm phải 1 cạnh gỗ nằm ngang cạnh ghe và nhờ vào cạnh gỗ này mà tôi có thể dựa vào đó để trèo lên và 1 bàn tay trên ghe đã nắm tay tôi kéo hẳn lên ghe rồi trong chớp mắt tôi đã được người nào đó ấn chui lọt xuống ngay 1 khoang của chiếc ghe. Sau đó khoảng 5 phút chiếc ghe chạy lùi ra biển và bắt đầu cho chuyến hải hành vượt biên đầu tiên trong đời tôi. Khi đó là 9 giờ tối của một ngày cuối tháng 7 năm 1984.
Chuyến đi thật không suôn sẻ dù không hề gặp tàu tuần của công an Việt cộng cũng như tàu hải tặc Thái Lan, vì khi ghe lượn quanh một dàn khoan dầu của Mã Lai Á thì các tài công đã trực chỉ mũi ghe quay trở về Việt Nam sau 4 ngày 5 đêm tới được dàn khoan này. Khi ghe trên đường về Việt Nam được một ngày thì tôi cũng như các người trên ghe mới biết hành động của các tài công này và rồi sau các màn hành khách hăm doạ, năn nỉ, lạy lục....tài công để họ từ bỏ ý định điên rồ mà tiếp tục hành trình vượt biên thì tôi biết mình phải chuẩn bị đối phó với những bất trắc sẽ xảy ra ngay khi chiếc ghe này vừa cập vào bờ bãi nào đó của nước Việt.
Tài công (kiêm thợ máy) trên ghe là 3 người. 2 người là anh em ruột và người kia là bạn của họ. Tất cả đều có người yêu (bạn tình) nhưng đều không có mặt trong chiếc ghe này và sau 4 ngày 5 đêm hải hành, thấy những người khách trên ghe mang theo cả vợ , con thì làm họ nhớ đến các người bạn tình và đó chính là lý do khiến họ quyết định quay ghe trở về Việt Nam để tắp vào 1 nơi nào đó quen thuộc để rồi từ đó họ sẽ về địa phương họ, đón bạn tình ra ghe này rồi sẽ khởi hành trở lại. Họ giải thích như vậy và cam đoan là sẽ không gặp khó khăn gì hết miễn là mọi khách trên ghe nằm im trong các khoang chứa trong thời gian họ vắng mặt. Khách trên ghe hết lời giải thích, thuyết phục với họ quay ghe vượt biên tiếp vì việc cập bến trở lại Việt Nam là quá sức nguy hiểm và rồi thì lại năn nỉ, lạy lục cho họ vàng , hoặc hăm dọa họ (nhưng khách trên ghe người nào cũng đều quá sức mệt mỏi do chịu những cơn sóng trong các ngày qua nên cũng chẳng ai làm gì được các tài công khoẻ mạnh này). Làm mọi cách....nhưng 3 người tài công này vẫn không đổi ý. Sự suy nghĩ đơn giản của một chàng trai đánh cá ngang với sự hiểu biết của người ít học. Tôi chuẩn bị cho những tai ương sắp sửa ập xuống mà lòng vẫn thầm mong là sẽ có sự may mắn xảy ra như ý muốn của những tài công này.
Khi ghe vừa trong thấy dạng đất liền các tài công đã thúc hối mọi người đang ngồi trên sàn ghe phải chui xuống hết các buồng chứa thì có những người do say sóng quá sức nên không chịu chui xuống các khoang chứa viện lý do là sức họ đã quá yếu nếu xuống nằm chật chội trong khoang kín lần nữa thì họ sẽ chết. Các tài công đã dùng vũ lực để xốc những người này xuống khoang chứa. Tôi cũng như các người khác đành phải nằm im trong lo sợ mà miệng luôn cầu nguyện và tiên đoán tình hình bên ngoài qua những lời đối đáp của các tài công. Thời gian trôi qua khá lâu và trong khi ghe đang chạy để họ kiếm nơi ghé vào thì qua miệng họ tôi biết là từ xa xuất hiện 2 chiếc ghe khác. Và rồi có tiếng súng nổ từ xa thì chiếc ghe đột nhiên tăng tốc chạy thật nhanh và không biết cuộc rượt đuổi diễn biến ra sao mà sau cùng 1 tiếng sầm thật lớn khi ghe đâm vào cạnh 1 bờ đất và tiếng nhẩy ùm xuống nước của các tài công cùng tiếng kêu khóc rên la của những khách đi trên ghe. Tôi cùng các người khách khác vội đu người nhẩy lên ngay sàn ghe thì thấy trời đã nhá nhem tối và tự hỏi mình đây là đâu của bờ biển nước Việt và ngay sau đó tôi cũng nhẩy ngay xuống nước để lội vào bờ như các người khách kia. Vừa leo được lên bờ đất thì có tiếng súng nổ gần bên và bóng dáng của 2 chiếc ghe lạ đang lướt sóng chạy đến. Tôi cắm đầu bỏ chạy theo các người khách mà đoán là hướng vừa chạy của các tài công. Trời tối rất nhanh , lại có tiếng súng và tôi vẫn cắm đầu chạy nhưng chỉ một lát sau thì tôi đã bị mất dấu những người chạy phía trước. Chân tôi cảm thấy đau và tôi mới nhớ là mình còn 1 đôi dép bên mình nên vội vã cởi nó ra mang ngay vào chân mình. Đây là 1 đôi dép da có quai đeo sau gót và nhờ có đôi dép này tôi mới có thể bước những bước chân lần mò trong đêm tối (dù vậy vẫn còn thấy hình ảnh xung quanh lờ mờ) cho đến lúc tôi không còn thấy cảnh vật được nữa. Trời đã hoàn toàn tối đen. Tôi ngồi xuống nghỉ ngơi , ngước mắt lên bầu trời đầy sao và tự hỏi bây giờ phải làm gì đây? Nếu không tìm được đường ra khỏi vùng này ngay đêm nay thì chắc chắn sáng ngày mai tôi cũng sẽ bị bắt.
Ngồi như vậy chốc lát , cảm thấy bớt mệt, tôi đứng lên ngó chung quanh và thấy thấp thoáng xa xa 1 ánh đèn dầu. Tôi định thần nhìn kỹ đúng là ánh đèn dầu thật nhưng không biết nơi có ánh đèn đó là gì. Tôi nhắm hướng để đi đến đó vậy. Tuy thấy ánh đèn, tưởng nó rất gần nhưng thực sự nó rất xa. Tôi đã phải lần mò bước từng bước chân trong đêm tối (vạch cây lá, lội qua các vũng nước bất chấp gai cào , vấp ngã xuống các hố cạn ...) cả tiếng đồng hồ để mới đến được nơi có ánh đèn, chiếu ra từ 1 căn nhà tranh nhỏ. Một con chó nhẩy xổ ra sủa inh ỏi làm tôi đứng yên không dám động đậy và 1 bóng người từ trong nhà tranh này lách cửa bước ra nhìn. Thấy tôi , bóng người này hét lên 1 tiếng thật to rồi quay ngay trở vào trong nhà. Tôi biết đó là 1 phụ nữ. Tôi nói ngay đừng sợ tôi là người chứ không phải là ma quỷ gì cả. Tôi bị lạc đường từ chiếu tới giờ cần chị giúp đỡ. Tôi nói như vậy vài lần thì người phụ nữ này mở hẳn cửa bước ra nhìn tôi và nói tôi ngồi đó chờ để chị ta đi gọi chồng về.
Người phụ nữ này cầm cây đèn dầu bóng trứng vịt biến mất trong đêm tối cùng với con chó để tôi ngồi một mình trước căn nhà nhỏ. Tôi nhìn lại căn nhà nhỏ bé này , Đó là 1 căn nhà lợp mái lá dừa nước như bao căn nhà của nông dân ở vùng sông nước miền Nam với lu nước uống bên cạnh nhà và cửa ra vào chỉ là miếng phên lớn khép hờ. Có lẽ đây là một cặp vợ chồng trẻ ra sống riêng, như vậy thì vùng này chắc còn có những gia đình khác vì chị phụ nữ nói là đi gọi chồng mình về. Tôi chờ khá lâu thì nghe tiếng chó sủa và bóng dáng 2 vợ chồng bước đến bên tôi. Người chồng cầm cây đèn sát cạnh tôi để nhìn rõ mặt tôi rồi anh ta hỏi tôi đi đâu mà có mặt ở đây trong đêm tối như vầy? Tôi biết là anh ta chưa hề biết gì về vụ chiếc ghe vượt biên. Thầm nghĩ trong đầu thật nhanh tôi biết đành phải nói thật rồi sẽ liệu sau. Tôi kể lại chuyến đi và chuyến quay trở về lúc chiều rồi ghe bị rượt đuổi và sau cùng bị mắc cạn và tôi chạy theo người khác rồi lạc đường và nhờ ánh đèn trong nhà mới đến đây. Sau khi nghe tôi kể tóm tắt như vậy thì cả hai vợ chồng nhìn nhau trong chốc lát và rồi người chồng lắc đầu bảo tôi là phải đi ra khỏi khu nhà ở của họ ngay. Đi đâu thì đi họ không muốn liên lụy với người vượt biên và cả hai vợ chồng bước vào nhà kéo ngay tấm phên cửa lại. Lúc đó tôi quá kiệt sức mệt mỏi nên cứ ngồi lỳ tại đó và sự thực chẳng biết đi đâu bây giờ? Ngồi một mình trong bóng đêm trước cửa căn nhà tranh này mặc cho con chó của chủ nhà đi quanh quẩn bên tôi gầm gừ, tôi nằm lăn ra đất, ngủ thiếp đi lúc nào cũng không biết. Chợt một bàn tay lay vai tôi thức dậy, trước mặt tôi bây giờ là 2 vợ chồng người chủ nhà cùng với 1 ông lão. Họ mời tôi vào nhà nói chuyên. Thì ra khi thấy tôi cứ ngồi lỳ và rồi còn nằm ngủ tại chỗ, không biết tính sao hai vợ chồng chủ nhà đã đi gọi cha họ đến. Họ mời tôi vào nhà và ông lão nói là đã nghe con trai ông kể về tôi và xin tôi hãy đi nơi khác đi, họ không dám giúp đỡ hay chứa chấp người vượt biên. Ngày mai công an và du kích sẽ đi lùng sục vùng này để bắt những người trốn chạy như tôi. Hãy đi nơi khác đi để cho họ yên ổn làm ăn, nếu giúp tôi rủi công an biết thì chắc chắn họ sẽ bị liên lụy ở tù nữa. Gia đình chúng tôi nghèo lắm, phải tìm đến đây phá đất lập nghiệp vùng sát biển như vầy là cậu biết rồi. Muốn giúp cậu thì cũng chẳng biết phải giúp như thế nào? Công an Vc có tai mắt khắp nơi sớm muộn gì chúng cũng biết cậu ở đây rồi liên lụy với cậu, nhà cửa gia đình chúng tôi sẽ tan nát hết. Cậu làm ơn làm phước thương cho mà đi nơi khác đi, coi như chúng tôi và cậu chưa biết nhau, mong cậu thông cảm cho hoàn cảnh chúng tôi. Ông lão nói như vậy. Tôi ngó chung quanh căn phòng. Nơi chúng tôi ngồi là 1 cái bàn gỗ nhỏ gần đó là 1 chiếc tủ thờ cũ. Trên tủ này có 1 cái trang nhỏ ở trên đó là 1 tấm hình Phật bà Quan âm và 1 bát hương với vài chân nhang đỏ. Vách tường có dán vài tấm hình mầu ca sĩ cắt từ các tấm lịch cũ. sát bên vách là 1 cái cái giường tre nhỏ với các vật dụng như cuốc, thuổng , đồ bắt cá nằm lăn lóc.... Đây là 1 gia đình người miền Nam hiền lương thờ Phật không có vẻ gì là 1 gia đình cách mạng chế độ mới, tôi nghĩ vậy và tiếp tục năn nỉ, nài xin ông lão và vợ chồng chủ nhà hãy tìm cách nào đó giúp tôi chứ đừng xua đuổi tôi đi trong đêm tối như thế này. Nếu bác và anh chị làm phước giúp tôi thì Phật bà Quan âm sẽ phù hộ cho gia đình vì đây là một việc gieo nhân lành. Tôi vượt biên vì lý lịch gia đình chế độ cũ VNCH vì sống không nổi với chế độ mới này nên mới vượt biên rồi chuyến đi không thành phải quay về và phải trốn chạy công an Vc truy bắt chứ không phải là thành phần bất hảo trộm cướp gì. Bác ơi! xin hãy giúp cho con, không bao giờ cha mẹ con và con quên ơn việc bác và anh chị làm hôm nay. Họ vẫn nhất định không dám giúp và tôi thì cứ năn nỉ và sau cùng cả 3 cha con chủ nhà kéo nhau ra ngoài sân bàn bạc với nhau bỏ tôi ngồi một mình tại chiếc bàn nhỏ trong nhà. Sau cùng cả hai cha con bước vào nhà và dặn tôi là phải làm theo những gì họ dặn. Nếu trái lời để có chuyện gì xẩy ra thì tất cả đều chết bởi Việt cộng. Họ đã lăn từ sau nhà 1 cái lu nước khá lớn và chuyển lu này vào trong căn buồng của đôi vợ chồng chủ nhà. Tôi đã được họ ém ngồi trong chiếc lu này suốt cả ngày hôm sau và 4 ngày kế tiếp dưới lớp lưới, quần áo và các vật dụng lặt vặt trong nhà. Chỉ có buổi tối thì tôi mới được cho ra ngoài để ăn uống , rửa ráy qua loa , đi tiêu tiểu và thư giãn tay chân trong chốc lát rồi lại phải vào ngồi trong chiếc lu. Ban ngày, ngồi trong chiếc lu này tôi đã nghe được các câu chuyện của các người dân và cả du kích công an khu vực đi ngang, ghé vào nhà nói chuyện với nhau về chiếc ghe mắc cạn, về chuyện công an du kích đã bắt được toàn bộ người đi trên ghe đó kể cả các tài công. Tôi ngồi trong lu mà lo sợ không biết số phận mình sẽ ra sao?
Cũng nhờ ngồi trốn trong lu này mà tôi mới biết là mình đã quá sức may mắn khi vô tình chạy đến cầu cứu nơi gia đình vợ chồng trẻ này (tên là anh chị Tư) ,vì qua các câu chuyện họ đối đáp khi nói chuyện, lúc đùa giỡn... với nhau , tôi biết đây là những người dân quê miền Nam hiền lương chất phác. Có khi trong đêm khuya tôi còn nghe tiếng người cha họ niệm kinh Phật nữa và cho đến bây giờ tôi còn vẫn nhớ những cử chỉ mà 2 vợ chồng đã đối xử với tôi trong những đêm khuya khoắc khi được phép ra ngoài như đã ân cần lấy quần áo cho tôi thay, múc nước mang khăn cho tôi rửa ráy người qua quýt hoặc ép tôi ăn cơm mà vẫn còn nóng hổi. Tôi nhìn khuôn mặt của 3 người chủ nhà này. Trên mặt họ đầy vẻ lo lắng cho tôi tưởng như họ đang lo cho người thân thiết ruột thịt của họ vậy. Bác Ba , tên người cha, nói cho tôi biết những năm trước đây ông còn sống ở Bạc Liêu, làm việc trong 1 nhà máy xay lúa của Hoa kiều và rồi nhà máy này bị đợt đánh tư sản xung công, chủ đi xuất cảnh nước ngoài, nhà máy đóng cửa không có việc làm, ông nghe lời các người bạn vào đây khai đất làm các vuông nuôi tôm.
Tôi năm nay sáu mươi hai tuổi rồi cậu à, lập gia đình trễ nên chỉ có 3 đứa con. Đứa lớn là gái chị thằng Tư này hiện đang sống với chồng nó ngoài chợ cầu Cà Mau đó. Vợ tôi cũng sống chung với chúng , buôn bán lặt vặt ở chợ kiếm thêm. Cha con tôi cũng thay nhau chạy ghe chở khách kiếm tiền ngoài đó rồi khi nào có việc thì lại vào đây như lần vào canh con nước này. Thỉnh thoảng tôi đón vợ tôi vào đây sống ít ngày với vợ chồng thằng Tư cho vui. Đứa kế cũng gái mà vắn số đã chết lúc còn nhỏ. Coi như còn có 2 đứa thôi. Thằng Tư , cậu gọi nó bằng Út cũng được tôi mới lo vợ cho nó hơn năm nay hà. Buổi tối cậu đến nhà là lúc đó tôi và nó đang đi canh nước cho vào các vuông tôm đó. Chúng tôi tự phá đất hoang làm lấy nên vuông không được nhiều mà cũng khá xa nhà, vì đất chung quanh đây cậu thấy tuy bỏ hoang đó chứ là đất có chủ Vc hết rồi đó. Bác Ba và 2 vợ chồng anh Tư cũng thắc mắc hỏi tôi là tại sao ghe vượt biên lại bị mắc cạn tuốt trong vùng Cái Đôi này vì từ đây ra tới cửa vàm ngoài biển cách cả cây số ngàn mà ra được ngoài đó thì tiếp với biển lớn rồi, cứ vậy mà chạy ghe thì công an nào bắt được. Tôi cũng nói cho 3 người này biết về nguyên do tại sao ghe bị mắc cạn thì bác Ba cho biết thảo nào tụi thằng Sáu thằng Mai du kích nói là ghe vượt biên này bị công an biên phòng đuổi bắt đâu tuốt ngoài biển vào tới đây thì mắc cạn. Cậu kể thì tôi mới biết, tụi tài công sao mà ngu quá mạng, đi đã khó mà quay trở về còn khó gấp bội tại sao tụi nó lại làm như vậy để hại thân còn làm hại thêm bao nhiêu người nữa? Cũng bác Ba cho tôi biết là vùng Cái Đôi này có khá nhiều gia đình thuộc phe chế độ mới đến đây lập nghiệp như gia đình của bác vậy. Tôi nghe mà thầm nhủ lòng mình quá sức là may mắn vì buổi tối hôm đó lại chạy đúng vào nhà của những con người hiền lương này nếu rủi mà ghé trúng nhà người của chế độ mới thì hậu quả thật khôn lường.
Sau 4 ngày đêm trốn tránh trong lu , bác Ba cho biết tình hình yên ổn rồi. Những người bị bắt đã bị công an biên phòng giải tuốt ra huyện Cái Nước và bác nói là sẽ thu xếp đưa tôi đi sớm. Nửa khuya về sáng của ngày thứ 5 thì cả 3 cha con bác Ba và tôi dậy thật sớm, ăn uống xong xuôi , 2 cha con đi xem xét thật kỹ lưỡng chung quanh căn nhà rồi hối tôi theo họ xuống chiếc ghe nhỏ gắn máy đuôi tôm Kohler 4 đang nổ máy chờ sẵn. Ghe từ từ chạy và một lát sau thì bác Ba nói cho biết là đã ra khỏi vùng Cái Đôi rồi. Từ lúc này thì an toàn vì công an du kích chỉ để ý chận xét những ghe từ Cà Mau chạy ra vàm thôi còn ghe từ vàm chạy vào thì chúng không thèm để ý. Tôi mặc lại quần áo cũ ngồi nhìn cảnh vật hai bên bờ. Chúng tôi đến được chợ cầu Cà Mau vào lúc trời chạng vạng chiều. Đến đây bình an hoàn toàn , anh Tư nói nhỏ. Tôi đã lấy ra chiếc khâu vàng 2 chỉ còn lại trong người và nhờ sự chỉ dẫn của bác Ba , tôi đã đến 1 hiệu kim hoàn bán đi 5 phân vàng của chiếc nhẫn này. Có tiền rồi tôi đã mời 2 cha con bác Ba anh Tư đi ăn hủ tiếu, uống cà phê và sau đó tôi đã hết lời năn nỉ 2 người ân nhân này vui lòng nhận 1 chỉ 5 phân vàng và tiền mặt còn lại (sau khi giữ một ít tiền đủ để đi xe về Sàigòn trong ngày), coi như là tấm lòng tạ ơn của tôi vì biết đến bao giờ mới có dịp gặp lại nhau. Nếu không có các vị ân nhân này thì không cách nào tôi chắp cánh chạy thoát được vì lúc ngồi trên chiếc ghe nhỏ của họ , tôi đã thấy ghe chạy quành phải, quẹo trái qua cả trăm con kênh, rạch mới đến được vùng chợ cầu Cà Mau.
Tôi về đến nhà sau gần nửa tháng vắng mặt. Gia đình tôi mừng vô kể vì cả nhà đã biết chuyến đi không thành và đang dò hỏi trại giam để dò tìm tin tức của tôi. Không thể ngờ được là tôi lại về được đến nhà. Chuyến vượt biên bất thành lần đó chỉ có duy nhất một mình tôi là thoát khỏi tay công an, chị Thu người trong tổ chức sau này cho biết như vậy.
Cho tới bây giờ mỗi lần nghĩ lại chuyện vượt biên năm xưa , tôi vẫn không quên các khuôn mặt của bác Ba, vợ chồng anh chị Tư chủ nhà và ngay sau đó là 1 nỗi buồn trong tôi là từ đó đến giờ tôi vẫn chưa có lần nào có dịp để tìm đến vùng Cái Đôi Vàm thăm hỏi tin tức của những con người hiền lương tốt bụng này, tuy nghèo vật chất nhưng rất giàu lòng bác ái thương người.
Phạm thắng Vũ - Feb 27, 2008.

 

 

Gương xưa tích cũ: Chịu đời sao thấu

Mõ Sàigòn (SGT)

Ngày nọ, Ngũ Tử Tư đang ở trước sân trồng cây ngắm kiểng, bất chợt có bạn nối khố là Bảo Thúc thất sắc chạy vào. Hơ hãi nói:
- Ngũ ông và Ngũ Tử Tam đã bị Sở vương đưa đi... bán muối. Sao huynh lại ở đây?
Tử Tư trố mắt đáp:
- Cha và anh của ta là những bậc trung thần. Suốt đời tận tụy với lê dân, mà nay thân một nơi đầu một nẻo, là cớ làm sao?
Bảo Thúc một tay đè lên ngực, một tay nắm lấy áo của Tử Tư. Vội vàng nói:
- Trung thần là phải nhìn sắc mặt buồn vui của vua mà cư xử, và phân biệt được chuyện nào nên nói chuyện nào không. Tóm tắt là phải nghe vua suốt đời suốt kiếp. Nay cha và anh của huynh chẳng những không nghe mà còn bày chuyện ra mà can gián, khiến Sở vương mặt mày cau lại - khoát nhẹ đôi tay - đành... bay mất giống là vì duyên cớ đó!
Tử Tư nghe đầu đuôi như vậy, bỗng ngồi phịch xuống đất. Hoảng hốt nói:
- Thấy vua sai mà không can là bất nhân. Vua không nghe mà im luôn là cái đồ bất nghĩa. Cha và anh của ta đối với vua có nghĩa có nhân. Sao lại đối xử với nhau cạn tàu ra như thế?
Thúc nghe Tử Tư thốt lời oán trách như vậy, liền nghĩ đến câu tai vách mạch rừng, bèn đưa tay bịt miệng của Tư lại. Thảng thốt nói:
- Lúc này không phải là lúc bàn đề. Nếu huynh muốn giữ lại chút hậu duệ mai sau, thì phải gấp rút dong liền tức khắc.
Tư nghe tới chuyện bỏ chạy, mặt bỗng xụ xuống như bánh tráng gặp mưa. Khổ sở nói:
- Tiền bạc. Lớp thì mua cổ phiếu. Lớp đầu tư địa ốc. Lớp cho mượn dài ngày. Bây giờ sự thể thế ni. Mần răng thu góp?
Rồi gục đầu xuống mà thở. Thúc thấy vậy, tay thì đẩy, mắt ngó dọc ngó ngang. Sợ hãi nói:
- Tiền bạc là chuyện nhỏ. Giữ được tấm thân để lấy vợ mới là chuyện lớn. Nay chuyện lớn không lo, lại đổ hết tâm tư vào lo chuyện nhỏ. Coi đặng hay chăng?
Tư nặng nhọc đáp:
- Thù cha không trả, lại lo chuyện vợ con, là nghĩa làm sao?
Thúc mau mắn nói:
- Muốn báo thù thì phải có người nối dõi. Muốn có người nối dõi mà thiếu vợ thì mần được hay sao?
Tư toan tìm lời đáp lại, bỗng đâu có tiếng vó ngựa từ xa đưa tới. Thúc xanh mét cả mặt mày. Lắp bắp nói:
- Bây giờ mà không chạy, thì ngày này năm sau, đệ sẽ bắt con gà mái tơ làm giỗ đầu cho huynh đó!
Rồi quay mình nhắm ngõ sau mà vọt. Tư thấy vậy, cũng bất giác chạy theo, được một đỗi thì không còn nhìn thấy nhau nữa. Tư mới đứng lại, vừa thở vừa nói:
- Làng ta gần biên giới nước Ngô. Chạy qua đó lánh nạn là yên tâm nhất.
Đoạn, nhắm hướng biên giới nước Ngô mà chạy. Lúc đói thì ăn trái cây rừng. Lúc khát lại tìm suối nước trong. Thét rồi cũng đến được nước Ngô, bèn ngửa mặt lên trời. Cương quyết nói:
- Thù cha phải trả. Thù anh phải báo, nhưng trước mắt phải lo chuyện uống ăn, mới bình tâm chơi tới.
Nghĩ vậy, liền nhắm hướng có đường mòn mà bước. Lúc đi ngang bờ sông Lại Thủy, bất chợt gặp một thiếu nữ đang đập sợi ở bờ sông, bèn sáng rỡ mặt mày. Lao tới nói:
- Tôi lỡ đường, lại lỡ luôn tiền bạc, nên không thể mua chén cơm cho mình qua cơn đói. Nay gặp được cô đây, lại có giỏ cơm nằm chình ình bên cạnh. Vậy, có thể vì tình người, mà giúp cho chút xíu được chăng?
Thiếu nữ ngơ ngác đáp:
- Không họ hàng thân thuộc. Không liên hệ bà con. Không phải người trong mộng. Sao lại có thể san sớt chén cơm chung dễ dàng mau như thế?
Tử Tư phần thì đói, phần hổng có tiền, phần sợ khó gặp lại cơ hội tốt như vầy lần thứ hai, liền lẩm bẩm nói:
- Tay chưa đeo nhẫn là còn con gái. Còn con gái thì lòng cũng dễ xiêu, mà ta mần không được. Lỡ gặp phải người đã có chồng, hoặc đực rựa nguyên con, thì sự sống chết hổng biết phải tính làm sao đây nữa?
Nghĩ vậy, bèn hít vội hơi sâu. Tha thiết nói:
- Lưng chén cơm không nhiều, nhưng cũng giúp cho kẻ sa cơ hiểu được cõi dương gian vẫn còn người tử tế - dư tấm lòng để vớt kẻ không may - dù hai ta chẳng phải là người thân thuộc.
Thiếu nữ lắc đầu đáp:
- Thiếp ở một mình với mẹ. Năm nay đã ngoài ba mươi tuổi. Chưa có chồng và cũng chưa hề tiếp chuyện với đàn ông. Vậy thiếp mong ông hãy biến đi cho khuất mắt, đừng để thiếp phải mang tai tiếng với xóm làng thân cận. Cơm thiếp, thiếp ăn. Tuyệt không sớt chia cho đứa nào hết cả.
Tử Tư nghĩ tới thù cha phải trả, thù anh phải báo, nên dù phải quỳ gối khom lưng, cũng nhất quyết chẳng thở than gì hết cả. Vả lại, thu phục một thiếu nữ còn chưa được, thì nói chi đến chuyện thu phục... Sở vương, bèn gắng sức nói:
- Cho thì còn, ăn thì mất. Chân lý đó lẽ nào không hiểu mà tin được hay sao? Lại nữa. Hùng tâm cao muôn trượng. Ý chí vượt ngàn trùng. Chỉ là thiếu đặng chén cơm ăn, nên mới phải hạ mình mà cầu xin như thế. Chớ một mai ông Trời ngoảnh lại, thì chẳng những xe ngựa có dư, mà dãi giang sơn hổng chừng lại nằm trong tay nữa!
Thiếu nữ nghe tới xe ngựa, thêm một dãi giang sơn, liền nghĩ ngay tới câu mẹ hay nói: "Một bước thành... bà", liền chớp nhẹ đôi mi. Ngập ngừng đáp:
- Thiếp với chàng chưa dạm ngõ trầu cau, thì không thể ăn chén cơm chung mà coi được! Chắc chẳng đặng đâu!
Tử Tư biết tình hình có đôi phần thuận lợi, nên tươi cả nét mặt. Mừng rơn nói:
- Nếu nàng nhủ lòng thương cho kẻ khốn quẫn này một chén cơm, để mưu tìm việc lớn, thì ân đức của buổi tao ngộ hôm nay nguyện... hằn chết trong tim, đặng mai này báo đáp.
Thiếu nữ e thẹn đáp:
- Có thề. Hứa mới tin!
Tử Tư đến nước này, thì cho dù có phải sửa ngày sanh của cha mẹ, hoặc thay họ đổi tên, cũng còn chưa ngán. Huống chi một đôi lời ở bờ sông kiểu này, bèn ngước mặt lên cao. Khuỳnh tay nói:
- Tai hạ họ Ngũ, tên Tử Tư. Nay được thiếu nữ đây coi như người thân thuộc, trao tặng chén cơm, thì ân đức ấy nguyện suốt đời báo đáp. Nếu sai lời trong muôn một, hoặc phú quý rồi quên, thì cúi xin Hà Bá, Thiên Lôi. Cứ nhào vô phang tới!
Thiếu nữ từ nào tới giờ bên gối mẹ. Chớ chưa hề nhận được lời thề thốt của ai, bây giờ bỗng dưng có một chén cơm mà đổi được cả ngàn hôm báo đáp, bèn sướng tận tâm can. Ỏn ẻn mà rằng:
- Thiếp họ Châu, tên tự là Tiểu Thúy, người ở làng Kiết an, huyện Gio Lương. Xin chàng tự mình mà ghi lấy.
Tử Tư thề xong bỗng đói mờ cả mắt, bụng dạ muốn hứa thêm, nhưng văn chương chợt ào bay tất cả. Ngay lúc đó bỗng nhìn thấy Tiểu Thúy mở giỏ cơm của mình ra, lấy một cái tô đầy, cọng thêm hai con cá bống kho tiêu nằm dài trên đó, bèn rúng động tâm can. Lắp bắp nói:
- Cơm không đã ngon. Nay có cá lại càng ngon thêm nữa. Thiệt là hứng thú!
Tiểu Thúy nghe Tử Tư bàn về đồ ăn như vậy, liền xụ mặt nói:
- Còn người mở giỏ thì chàng nghĩ làm sao?
Tư hoảng hốt đáp:
- Nhiều người mai mối mà vẫn không chịu. Đến tuổi ba mươi mà vẫn tràn dư điều lễ nghĩa. Cỡ này mà không thành... áp trại phu nhân, thì... công hầu bá tử nam chắc ăn là phải có.
Tiểu Thúy đỏ mặt nói:
- Lời của chàng vừa thốt. Có thiệt hay không?
Tư lã người đáp:
- Ăn mới nói được. Không ăn nói được hay sao?
Thúy nghe vậy, liền ân cần trao tô cơm cho Tư, không quên mang bầu nước và một trái quýt ra mà khoản đãi. Tư quá đã, cúi mặt xuống mà nuốt. Lúc cạn cái tô xong, miệng vẫn còn thèm. Chưa kịp xin thêm, đã thấy Tiểu Thúy lần tay vào giỏ cơm mang ra một nắm nữa. Tươi tắn nói:
- Gạo lức muối mè. Mẹ thiếp cho dù ở nơi dân dã vẫn chú ý đến thuật dưỡng sinh, nên muốn thiếp mỗi ngày chơi một nắm. Nay thiếp tặng lại cho chàng, để quân tử ăn được thật no, hầu ở mai sau hoàn thành đặng tâm nguyện, thì trước là quân tử được vui, sau thiếp cũng theo đó mà thoát đời đơn chiếc.
Tử Tư. Lúc đói thì không để ý, nhưng khi trí óc đã không còn bận bịu bởi miếng ăn, mới nhìn thấy thực tế đang bày ra trước mắt, bèn rối loạn tim gan. Thảng thốt nghĩ rằng: "Ngoài ba mươi tuổi mà còn ở với mẹ, bất kể da dẻ hồng hào, dáng hình coi được, thì chắc chắn phải có điều chi khiến bà con không... rước! May mà ta, lúc thề hứa lại chưa biết tên, thành thử Cậu Bà có muốn quở trách ta cũng khó lòng trách đặng.". Nghĩ vậy, bèn vọt miệng nói:
- Ta ở đây ăn cơm với nàng, là điều.... tuyệt mật. Xin đừng kể lại với ai, kẻo hung nhiều kiết ít.
Tiểu Thúy sửng sốt nói:
- Vừa mới thề hứa trao tay, lại tuồng ra lạng quạng, là nghĩa làm sao?
Tư mạnh miệng đáp:
- Ngày công thành danh toại. Ta sẽ hậu tạ ơn sâu. Chớ đừng nghĩ thêm cái gì hết cả.
Tiểu Thúy hiểu được mộng làm... bà của mình sụp đổ, liền đau đớn nói:
- Thiếp! Ba mươi năm một mình bên gối mẹ. Chưa hề hò hẹn với ai, và cũng chưa có ai hò hẹn với thiếp, nên vẫn còn trinh bạch. Chưa hề mang tai tiếng. Nay thiếp làm liều đưa cơm cho trượng phu ăn, so ra đã vượt qua vòng lễ giáo, mà chàng không xúc động mảy may, lại ra ý không muốn chuyện dài lâu với thiếp, khiến thiếp ruột dạ xót xa. Tưởng như lúc cha mất cũng hổng buồn đau như thế!
Tư thấy mình hơi nhẫn tâm, bèn nhỏ giọng nói:
- Ta biết. Nàng biết, đã là đủ. Cần chi phải kể với ai!
Tiểu Thúy thút thít đáp:
- Lần đầu tiên có người thề thốt với mình, mà bảo thiếp giữ ên trong bụng. Chịu được hay sao?